Wednesday, December 29, 2010

YOGA VÀ TÔN GIÁO

YOGA không bài bác bất cứ một tôn giáo nào. Không học theo bất cứ một tư tưởng nào, một tôn giáo nào. Bản chất đích thực của YOGA là tự thân nỗ lực THIỀN ĐỊNH để tìm cho mình một hướng đi riêng, không trùng lấp với một cá nhân nào hoặc ông thầy nào. Yoga không khuyến khích hay khuyến dụ bất cứ tôn giáo nào bỏ đạo để theo Yoga. Nếu gặp những trường phái Yoga nào có những tư tưởng hay việc làm như trên thì hãy hiểu ra rằng HỌ KHÔNG PHẢI LÀ YOGA ĐÍCH THỰC. Họ lợi dụng Yoga để trục lợi, lập nhóm, lập môn phái, hay là một tôn giáo mới để thực hiện ý đồ riêng của họ, hãy cảnh giác với loại Yoga này.

Đối với Yoga, những tôn giáo lớn trên thế giới đã qua sự thử thách của thời gian mà tồn tại, đều có những lý do chính đáng. Nếu có điểm nào không đồng ý, thì không phải là do tôn giáo, mà chính là đối với các điều xét ra thấy bất hợp lý mà người ta đã thêm thắt sau này.

- Hồi giáo tồn tại và phát triển vững mạnh theo thời gian là cách cư xử của những người cùng tôn giáo với nhau. Họ có một tinh thần bình đẳng và một tình tương thân, tương ái giúp đỡ lẫn nhau rất đáng khâm phục. Swami Vivekananda trong chuyến viếng thăm nước MỸ, khi nói về tôn giáo đã có lời phê bình rằng:"Ở nước Mỹ người ta cùng chung một tôn giáo, nhưng không đi chung một nhà thờ.Còn đối với người Hồi giáo, thì ông vua Thổ Nhĩ Kỳ có thể ngồi ăn cơm chung với người thường dân da đỏ, nếu người ấy theo đạo Hồi."

- Thiên chúa giáo mà người ta thường mệnh danh là tôn giáo của tình thương. Được tồn tại không phải vì giáo hội có một tổ chức mạnh mẽ mà chính vì đức tính tốt của người hành đạo. Thật là cảm phục tinh thần hy sinh của những nhà truyền giáo Mỹ. Chuyện này cách đây hơn 50 năm, trong khi truyền đạo ở Ecuador [Nam Mỹ] cho những người miền núi, trong khi đó sự hiểu biết của họ còn trong thời kỳ của thời đại đồ đá. Các giáo sĩ đó đã bị giết. Nhưng vài năm sau, vợ của một giáo sĩ bị giết đã đem con trở lại vùng đó sống với những người đã giết chồng mình để mà cảm hóa họ. Bà vợ giáo sĩ này không thù ghét kẽ giết chồng bà, mà trái lại đã thực hành không sai lời của chúa dạy "HÃY YÊU THƯƠNG KẺ THÙ". Tình thương cao quý ấy thật đáng trân trọng và khâm phục, mãi mãi vẫn là tấm gương sáng cho các nhà truyền đạo noi theo.

- Phật giáo là tôn giáo của TỪ, BI, HỶ, XẢ, tình thương không phải chỉ áp dụng giữa những con người với nhau, mà còn đối với các sinh vật nữa, vì trên thực tế giữa người và vật có mối quan hệ mật thiết với nhau. Shri Aurobinđo, một nhà triết học nổi danh của Ấn độ ở thế kỷ 20 đã xác nhận rằng:"Từ đời sống khoáng chất cho tới con người đều có sự liên tục, sự liên tục được thực hiện qua trung gian của loài thảo mộc".

Loài cây lấy thức ăn trong khoáng chất, rồi loài vật hay loài người ăn cây cỏ đó mà sống. Nếu giữa loài khoáng chất, loài cây cỏ, loài vật và loài người không có sự đồng nhất nào đó thì làm sao con người có thể ăn cơm, ăn thịt để tiêu hóa mà sống được. Swami Vivekananda cho rằng cái chất cấu tạo nên mặt trăng, mặt trời v.v...cũng là cái chất tạo nên con người, chỉ có sự kết hợp khác nhau mà thôi. Những lý luận triết học vừa nêu trên đã có từ lâu, khoa học ngày nay đã công nhận, để rồi dần dần trở về với triết học, trở về với tôn giáo.

Tính cách chung của các tôn giáo, nhìn chung đều muốn hướng về CHÂN, THIỆN, MỸ. Nhưng CHÂN, THIỆN, MỸ cũng còn tùy thuộc theo tôn giáo, và sự trình bày đôi khi hơi khác nhau. Cái CHÂN trong Hồi giáo, Thiên chúa giáo có thể là tình thương, thương yêu nhau để đem lại hạnh phúc cho thế gian. Cái CHÂN trong Phật giáo ngoài tình thương bao la, còn có triết học về THỰC và GIẢ. Đức Phật chỉ ra cho con người biết rõ đâu là thật, đâu là giả. Nên có người gọi đức Phật là ĐẤNG TÌM RA SỰ THẬT.

Như đã trình bày ở phần trên, thế giới ngày nay có nhiều tôn giáo khác nhau. Hơn thế nữa, trong cùng một tôn giáo cũng còn có nhiều ngành khác nhau. Đó là một hiện tượng tự nhiên, nó cũng rất tự nhiên như những bức họa khác nhau cùng một đề tài. Ta hãy thử một thí dụ: Ở trong lớp học có 50 người cùng vẽ một bình hoa. Điều chắc chắn xảy ra là mặc dù chỉ có bình hoa kiểu mẩu, nhưng 50 người học trò sẽ vẽ 50 bình hoa khác nhau. Nếu đem các bức vẽ so sánh với nhau, thì không có cái nào giống cái nào. Nhưng nếu lấy từng bức vẽ một và so sánh với hình mẩu, thì bức vẽ nào cũng có những điểm giống như hình mẩu. Tôn giáo cũng vậy, mỗi một tôn giáo đều có những tính chất cao thượng của một đấng tối cao, nhưng nếu ta đem tôn giáo nầy so sánh với tôn giáo khác, thì mỗi một tôn giáo đều có những nét đặc trưng riêng. Nói như vậy không có nghĩa rằng các tôn giáo không thể dung hòa lẫn nhau, trên thực tế các tôn giáo luôn luôn bổ khuyết cho nhau. Cũng như 50 bức vẽ khác nhau, mỗi một bức vẽ đều nói lên một khía cạnh của sự thật, nó luôn luôn bổ khuyết lẫn nhau. XUNG ĐỘT NHAU LÀ DO NGƯỜI XEM TRANH, CHỨ KHÔNG PHẢI LÀ NHỮNG BỨC VẼ. Một ngày nào đó, 50 người xem tranh, mỗi người vì một lý do nào đó ưa thích một bức tranh khác nhau, rồi người nọ nói với người kia rằng, bức tranh của tôi gần với sự thật hơn, còn bức tranh của anh có nhiều tính chất giả tạo. Nếu bây giờ thay vì nói chuyện tranh, 50 người như trên nói chuyện về tôn giáo thì họ cũng lại dùng luận điệu của người xem tranh để cãi nhau.

Các điều trên chứng tỏ rằng tôn giáo không xung đột lẫn nhau, mà chính là do con người xung đột nhau trong khi giải thích những điều đã được thêu dệt thêm vào để làm cho tôn giáo trở nên thêm huyền bí, và xét cho cùng nó có lợi cho việc truyền đạo vào những thời kỳ mà người ta chưa có những phát minh khoa học, và chưa biết dùng lý trí để suy luận minh bạch.

Tuesday, December 28, 2010

ĐỨC PHẬT DẠY CON NHƯ THẾ NÀO?

Ngày nay, hầu như người Phật tử nào cũng biết rằng Thái tử Tất Đạt Đa, tức Đức Phật sau này, đã lìa bỏ gia đình của mình để đi tìm con đường giải thoát vào chính cái ngày La Hầu La — đứa con trai [duy nhất] của Ngài — chào đời. Nhiều người cảm thấy không thoải mái, thậm chí tức giận, trước một hành động mà họ cho là “thiếu trách nhiệm” như vậy. Song, có một điều họ chưa biết, đó là sau khi đạt được giác ngộ, Đức Phật đã trở thành người dạy dỗ chính cho con trai của mình trong suốt thời niên thiếu, kể từ khi La Hầu La lên 7 tuổi, và Ngài đã là một người cha tuyệt vời: La Hầu La đã đạt được giác ngộ ở tuổi mới bắt đầu trưởng thành [20]. Vậy, ta hãy tự hỏi, Đức Phật là một người cha như thế nào? Phương pháp dạy con của Ngài ra sao? Làm thế nào một bậc giác ngộ trao truyền những giá trị tâm linh của mình cho con cái?

Kinh điển không đề cập nhiều đến mối quan hệ cha-con giữa Đức Phật và La Hầu La, nhưng đâu đó có để lại vài mẩu chuyện thú vị về việc Đức Phật đã dẫn dắt con mình như thế nào trên con đường trưởng thành. Các bộ kinh trước đó thường nói về việc La Hầu La đã trở thành đồ đệ của Đức Phật như thế nào, nhưng phần lớn những mẩu chuyện này nằm trong 3 bài pháp mà, nếu ta gom chúng lại với nhau, nó chính là một tiến trình liên tục của con đường dẫn tới giác ngộ: lúc La Hầu La 7 tuổi, Đức Phật dạy cho con về đạo đức; lúc La Hầu La 10 tuổi, Đức Phật dạy cho con thiền; và lúc 20 tuổi, Ngài dạy về tuệ giác giải thoát. Quá trình trưởng thành của La Hầu La, vì vậy, tiến triển song song với tiến trình giác ngộ của Đức Phật.

Khi con trai của tôi tròn 7 tuổi, tôi bắt đầu suy tư về việc làm cách nào để dẫn dắt nó và em trai của nó trên con đường tâm linh. Ít nhất, tôi muốn chúng nó học và thực hành Phật pháp đủ để sau này lớn lên chúng có thể trở về với những tiềm lực đó nếu chúng thích hay cần đến. Tôi cũng nghĩ rằng nếu các con tôi có thể nương tựa nơi Phật pháp, thì sau này, dù đang ở bất cứ nơi đâu, chúng cũng có thể quay về với cái mái ấm đó. Nhất là, vì đối với tôi, gia tài lớn nhất mà tôi có được qua sự thực tập Phật pháp là sự an lạc, thảnh thơi, và lòng từ bi, tôi tự hỏi làm cách nào tôi có thể trao truyền cái gia tài tâm linh đó lại cho thế hệ sau. Được biết La Hầu La bắt đầu được Đức Phật dạy dỗ từ năm 7 tuổi, tôi lục tìm trong những bản kinh tiếng Pali để học lấy những phương pháp mà Đức Phật đã sử dụng để dạy dỗ con của Ngài.
 
Tôi tìm thấy trong các bản kinh này cách làm thế nào để lại một di sản tâm linh thật đẹp. Sáu năm sau khi Đức Phật rời bỏ gia đình, và một năm sau khi đạt được giác ngộ, Đức Phật trở về kinh thành. La Hầu La, lúc ấy 7 tuổi, theo lời mẹ, chạy đến bên cha để xin thừa hưởng gia tài. Nếu như ngày xưa Thái tử Tất Đạt Đa không bỏ kinh thành ra đi, thì bây giờ La Hầu La đã được truyền ngôi vua. Nhưng là một người đã buông bỏ hết tất cả, sống đời khổ hạnh, Đức Phật có thể trao lại cho con mình cái gì? Đáp lời La Hầu La, Đức Phật quay sang nói với Ngài Xá Lợi Phất (Sariputta), một đồ đệ thân tín của Đức Phật: “Hãy thâu nhận nó.” [Như vậy], thay vì được ngôi vua, La Hầu La đã được thừa hưởng con đường đi của cha mình — con đường dẫn tới giải thoát.
Có lẽ còn lâu lắm con trai tôi mới cạo trọc đầu và khoác lên mình chiếc áo cà sa, nhưng tôi vẫn muốn cho con tôi tiếp xúc với những điều căn bản của Phật pháp, những điều đã giúp tôi thay đổi cuộc đời của chính tôi. Khi tôi đọc những đoạn kinh về cách Đức Phật dạy La Hầu La, tôi ngạc nhiên nhận ra rằng những điều này không những vẫn còn mới mẻ mà còn rất thích hợp với việc dạy con ở nước Mỹ này, trong thời hiện đại này. Thật vậy, những bài pháp này đã trở thành kim chỉ nam cho tôi trong việc dạy con.
 
ĐẠO ĐỨC
Câu chuyện đầu tiên kể về La Hầu La được Đức Phật dạy về lòng chính trực (integrity) như thế nào. Lúc lên 8 tuổi, La Hầu La đã nói dối. Bài Kinh Giáo Giới La Hầu La (Trung Bộ Kinh, 61) kể rằng sau khi tọa thiền xong, Đức Phật đến tìm La Hầu La. Sau khi mời cha ngồi, La Hầu La lấy một thau nước cho cha rửa chân, theo phong tục hồi đó. Sau khi rửa chân xong, Đức Phật hỏi: “Này, La Hầu La, con có thấy chút nước còn lại trong cái thau này không?”

“Dạ, con có thấy” – La Hầu La thưa.

“Đời của một người tu cũng chỉ đáng bằng một chút nước này thôi, nếu như người đó cố tình nói dối.”
 
Tôi tưởng tượng La Hầu La đỏ mặt lên.
 
Sau đó, Đức Phật hất đổ hết nước trong thau ra và nói: “Đời của một người tu cũng đáng vất bỏ đi như vầy nếu như người đó cố tình nói dối.”

Xong, Đức Phật lật cái thau úp xuống và nói: “Đời của một người tu sẽ trở nên đảo lộn như thế này nếu như người đó cố tình nói dối.”

Và, để nhấn mạnh thêm nữa, Đức Phật lật ngửa cái thau trở lại và nói: “Đời của một người tu cũng trở nên trống rỗng như cái thau này nếu như người đó cố tình nói dối.”

Sau đó Ngài dạy con: “Đối với một người cố tình nói dối, không có một tội lỗi xấu xa nào mà người đó không thể làm. Vì vậy, La Hầu La, con hãy tập đừng bao giờ nói dối, cho dù đó là một lời nói đùa.”

Câu chuyện trên đây nhắc nhở tôi rằng những lời la mắng giận dữ với con cái thực ra chỉ có sức mạnh mà không có nội lực. Đức Phật đã rất bình tĩnh, chọn thời điểm đúng lúc để dạy con mà không trừng phạt hay nổi giận với con.

Sau bài thuyết giảng ngắn mà rõ ràng về việc nói dối đó, tôi tưởng tượng La Hầu La đã lắng nghe cha hơn. Sau đó, Đức Phật chỉ dẫn con làm sao để suy xét mọi hành động của mình.“Cái gương dùng để làm gì?” – Ngài hỏi.

“Bạch Đức Thế Tôn, gương dùng để soi” – La Hầu La đáp.

Đức Phật lại dạy : “Trong khi chuẩn bị làm điều chi bằng thân, khẩu, ý, con phải quán chiếu: hành động này có gây tổn hại cho ta hoặc cho kẻ khác không? Nếu, sau khi đã quán chiếu, con thấy rằng hành động đó sẽ có hại, thì con hãy đừng làm. Còn nếu con thấy rằng hành động đó có ích lợi cho con và cho kẻ khác, thì con hãy làm.”

Tôi chợt nhận ra rằng thay vì dạy cho con mình nhận biết sự khác biệt tuyệt đối giữa đúng vàsai, Đức Phật đã dạy cho con mình suy gẫm về lợi ích và có hại. Điều này đòi hỏi cả sự tự tri (self-awareness) lẫn sự đồng cảm (empathy). Đặt nền tảng của đạo đức dựa trên “có lợi” hay “có hại” giúp giải thoát đời sống đạo đức của ta khỏi những khái niệm trừu tượng và những ý niệm chẳng ăn nhập gì tới hậu quả của việc ta làm. “Có lợi” và “có hại” cũng giúp cho con người nhận biết mục tiêu của mình. Những điều ta làm hoặc sẽ đối nghịch hoặc sẽ thuận chiều với con đường ta đang đi.

Phương pháp giáo hoá của Đức Phật khiến cho tôi càng tin tưởng thêm rằng chúng ta cần gieo xuống nơi tâm hồn con trẻ những hạt giống của tình thương, những hạt giống của ý thức về việc mỗi hành động của nó sẽ ảnh hưởng đến người khác như thế nào. Sức mạnh của sự quán chiếu và lòng từ bi sẽ không có được nếu đứa trẻ chỉ biết vâng theo lời của người lớn: “Con hãy biết quán chiếu, và hãy có lòng từ bi!” Những giá trị này chỉ có thể có được qua gương của người khác, nhất là của cha mẹ đứa trẻ.

Đức Phật cũng dạy cho La Hầu La hãy xem xét sau khi làm một việc gì đó, nó có gây tổn hại gì không. Nếu có, thì phải đến gặp một người có tuệ giác và sám hối để tránh lặp lại lỗi lầm trong tương lai. Tôi đã học được cách hướng dẫn con trẻ phát triển lòng chính trực bằng cách nhận ra lỗi lầm của mình. Và lòng chính trực đó tuỳ thuộc rất nhiều vào cách cha mẹ thấy lỗi lầm của con mình ra sao. Cách hành xử của cha mẹ ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển đạo đức của con trẻ: nếu cha mẹ cho con trẻ thấy được là nó có thể tin tưởng mình được, là mình chỉ muốn giúp cho con mình trưởng thành hơn là muốn trừng phạt con, thì con trẻ sẽ trở nên thành thật với cha mẹ của chúng hơn.
 
THIỀN ĐỊNH
Câu chuyện thứ hai nói về việc Đức Phật đã dạy thiền cho La Hầu La ra sao, để phát triển nền tảng của nội tâm (Trung Bộ Kinh, 62). Lúc đó La Hầu La được 10 tuổi. Câu chuyện bắt đầu trong lúc hai cha con đang đi thiền hành. Trong lúc đi, La Hầu Ha chợt thấy hãnh diện về vẻ đẹp của mình, và tư tưởng đó Đức Phật đã đọc được.

Ngài nói với con: “Nhìn bằng con mắt của tuệ giác, cái thân này không phải là tôi (me), không phải là của tôi (mine), không phải là tự ngã của tôi (myself).” Rồi Đức Phật giảng tiếp: ta phải loại bỏ hết tất cả tưởng, hành, thức cũng như bất cứ khái niệm nào về tôi, của tôi, và tự ngã của tôi. Nghe những lời dạy này xong, La Hầu La cảm thấy hổ thẹn, lui về thiền viện, và không thiết đến việc ăn uống gì cả suốt ngày hôm đó.

Tôi cho rằng đây là sự dạy dỗ căn bản cho con trẻ. Tôi không thể tưởng tượng được một em thiếu niên có thể hiểu được những lời Phật dạy như thế. Tôi nhớ lại, rất rõ ràng, rằng ở vào tuổi đó, đầu óc tôi chỉ toàn nghĩ đến dung mạo của tôi ra sao. Tôi thường nghe nói rằng điều này rất là quan trọng cho tiến trình phát triển của các em về “cái tôi”, và quá trình đi tìm kiếm bản thân mình. Có nên trách một em trai 14 tuổi về những ý tưởng phù du như vậy hay không? Có phải Đức Phật đã xen vào những vấn đề nằm trong tiến trình phát triển bình thường của con trẻ, thay vì để các em thảo luận với nhau? Nếu không có hiểu biết về “cái tôi”, làm sao một thiếu niên có thể phát triển thành một người lớn với sự cân bằng về tâm lý?

Đức Phật trả lời những câu hỏi này qua những gì Ngài đã làm cho con của Ngài.
 
Tối hôm đó, sau khi bị Đức Phật quở trách, La Hầu La đến xin cha dạy cho mình phương pháp thiền quán hơi thở. Trước hết, Đức Phật dùng thí dụ để minh hoạ làm sao đạt được sự thanh thản trong lúc ngồi thiền. Ngài dạy:
 
“Con phải thiền làm sao giống như đất vậy: đất không cảm thấy phiền vì bất cứ một thứ gì đổ lên đó. Vì vậy, nếu con tập thiền giống như đất, con sẽ không có cảm giác vui thích hay không vui thích về bất cứ một điều gì. Hãy tập thiền như nước, như lửa, như gió, và như không gian: tất cả đều không cảm thấy phiền bởi những cảm giác vui thích hay không vui thích. Thực tập được như nước, như lửa, như gió, như không gian, tâm của con sẽ không còn vướng bận gì cả.”
 
Rồi, trước khi dạy cho La Hầu La phép thở, Đức Phật dạy cho con về quán tâm từ như là một phương thuốc giải độc trừ khử ác tâm, về tâm bi để vượt thắng sự tàn ác, về tâm hỷ để thuần phục những sự bất toại nguyện, và về tâm xả để ngăn chặn những bất an, thương ghét.
 
Sau đó, Ngài mới bắt đầu dạy cho con phép thở qua 16 giai đoạn. Những giai đoạn này chia thành 3 phần: a) tịnh tâm; b) định tâm để nhận biết thân tâm và phát triển tuệ giác; và c) buông xả. Cuối cùng, Ngài nhấn mạnh rằng bằng sự thực tập ý thức từng hơi thở của mình, con người sẽ có khả năng ý thức một cách bình thản hơi thở cuối cùng của mình trước khi từ giã cõi đời.
 
Khi đọc về cách thức Đức Phật dạy con về phép thở để nhận biết thân tâm của mình, tôi nhận thấy đó cũng là một phương pháp để xây dựng một khái niệm vững chắc về “cái tôi”. Tôi tự nghĩ, phải chăng các em thiếu niên ở thời đại ngày nay hay chấp vào “cái tôi” của mình và có nhiều ý niệm phân biệt mình với kẻ khác, là vì các em không cảm thấy thoải mái với chính bản thân mình và với người khác? Và tôi tin rằng, cái chấp và sự phân biệt ấy sẽ không còn nữa nếu các em cảm thấy an vui được với chính mình cũng như thoải mái với người chung quanh.
 
Khi giảng dạy thiền cho thiếu niên, tôi nhận thấy khả năng thiền của các em nhảy bực vào khoảng 13-14 tuổi. Có nhiều em có thể nhập thiền rất sâu, tuy rằng các em không duy trì được trạng thái này lâu lắm. Tôi đã biết rất nhiều người trẻ dùng phương pháp thiền định để ổn định tinh thần và tìm về sự thảnh thơi giữa những thử thách của tuổi mới lớn.
 
Tuy nhiên, thiền quán hơi thở không chỉ ích lợi cho các em thiếu niên, mà nó còn là cuộc hành trình suốt cuộc đời của con người. Đức Phật đã kết thúc bài giảng của mình bằng cách chỉ cho La Hầu La thấy giá trị của việc tập thiền quán hơi thở như thế nào đối với giây phút cuối cùng của cuộc đời mình.
 
TUỆ GIÁC
Trong đoạn kinh thứ ba và cuối cùng, Đức Phật đã hướng dẫn La Hầu La trả lời một loạt những câu hỏi về tuệ giác giải thoát (Trung Bộ Kinh , 147). La Hầu La đã dâng trọn thời niên thiếu của mình cho con đường đạt đến giác ngộ; trong một đoạn văn, Ngài được xem là một nhà tu gương mẫu và tinh chuyên. Khi La Hầu La tròn 20 tuổi, Đức Phật biết rằng con trai của mình đã gần đạt đến sự giải thoát. Ngài đã làm một việc rất cảm động: Ngài đi bộ cùng với con vào sâu trong rừng. Ngồi dưới gốc một cây đại thụ già cỗi, Ngài đã hướng dẫn La Hầu La một cuộc pháp đàm rất kỹ về thuyết vô ngã. Đối với một người đã đạt đến trình độ tu tập cao như La Hầu La, những tư tưởng nằm sâu trong tiềm thức về cái ngã là chướng ngại cuối cùng của sự giải thoát. Ngồi nghe Đức Phật giảng, La Hầu La đã chứng được tự tính vô ngã của vạn pháp, và đó chính là bước cuối cùng giúp La Hầu La đạt đến sự giải thoát trọn vẹn.
 
Thuyết vô ngã của Đức Phật không phải là đơn giản. Người ta rất dễ hiểu lầm nó là một triết thuyết trừu tượng, mà không thấy được thực ra đó chính là những lời dạy rất thực tế về việc làm sao để tìm thấy hạnh phúc bằng cách buông bỏ hết tất cả. Đối với tôi, việc Đức Phật dạy con về thuyết vô ngã trong rừng sâu rất cần thiết. Tôi thấy mình có cái nhìn khác khi ở giữa thiên nhiên so với khi ở giữa phố thị. Tôi nhận thấy cảm giác an lạc và thảnh thơi mà thiên nhiên mang lại giúp mình dễ thoát ra được cái “ngã” hơn. Quán chiếu về sự buông xả trong khi đọc muột cuốn sách về Phật pháp khi ngồi ở trong nhà rất là khác với khi mình ngồi dưới một gốc cây. Trong khi đọc bài pháp thứ ba này, tôi chiêm nghiệm được sự quan trọng của việc biết mình (tự tri) giữa khung cảnh thiên nhiên.
 
Ngày xưa, lúc La Hầu La 7 tuổi, đến xin với cha được thừa hưởng gia tài, Ngài đã không hề tưởng tượng được là 13 năm sau đó, Ngài đã được thừa hưởng một gia tài quý báu nhất mà một người làm cha mẹ có thể để lại cho con của mình. Trong Phật giáo, giác ngộ là hạnh phúc lớn lao nhất. Tôi ước mong con cái của tôi sẽ tìm thấy sự an lạc, thảnh thơi, và an lành trên con đường đi tới giải thoát. Có lẽ, trên con đường trở thành người lớn, chúng cũng sẽ được dạy về đạo đức, thiền định, và tuệ giác [như La Hầu La vậy].

Gil Fronsdal
(“The Buddha as a Parent”, Tạp chí Inquiring Mind, số Xuân 2008, Hoài Hương chuyển ngữ)
http://www.ue-global.com/showthread.php?p=12306
Tiến sĩ Gil Fronsdal đang giảng dạy Thiền tại Insight Meditation Center ở Redwood City, California, USA. Ông có vợ và hai con.

YOGA VÀ VIỆC CHẤN HƯNG ĐẠO ĐỨC

Ở nước Việt Nam ta, phần đông mọi người đều có đạo. Nhưng có một điều đáng buồn là những người có đạo nếu tự vấn lương tâm, có ai dám tự hào là người sáng suốt hiểu đạo?

Đạo đức suy đồi chính vì ta không biết cách tin hay thiếu đức tin. Mà ta thiếu đức tin thì chân lý của tôn giáo trải qua bao không gian và thời gian đã bị hiểu sai lạc. Chúng ta lấy cái phụ làm chính. Các tôn giáo đều có 3 phần chính: Phần thần thoại, phần triết học và phần nghi lễ.

-Phần thần thoại kể lại những phép lạ của đấng khai sinh ra đạo.

-Phần triết học giải thích nguyên tắc căn bản của đạo, mục đích và đường lối để đạt đạo.

-Phần nghi lễ gồm có các thủ tục như đi nhà thờ hay đi chùa để cầu kinh lễ phật, dâng hương v.v...

Phần nghi lễ đúng ra là một phương tiện sử dụng thị giác và thính giác để giúp con người hiểu được cái tế nhị hơn, cái cao siêu hơn của đạo. Nhìn vào ảnh Chúa hay tượng Phật là để tưởng niệm đến các đức tin cao cả của các ngài mà noi theo. Nghe giảng đạo hay nghe thuyết pháp là để lĩnh hội giáo lý cao siêu của các ngài. Nhưng phần nghi lễ dần dần bị hiểu sai lạc đi, nên việc đi nhà thờ hay đi lễ Phật bây giờ có thể tạm ví như là một thói quen. Từ nhỏ đến lớn cứ đi nhà thờ, hay đi lễ Phật, mà rốt cuộc người ta cũng không thấy tiến bộ hơn chút nào về mặt tinh thần. Lúc nhỏ đọc kinh, lúc già cũng vẫn đọc kinh, và những câu kinh chỉ còn lại là những tiếng vang đập vào tai rồi đi mất, không để lại dấu vết gì. Chính vì lẽ đó nên Swami Vivekananda mới nói rằng " Lúc nhỏ không đi chùa là có tội, nhưng đến lúc già mà vẫn đi chùa cũng là có tội".

Nghi lễ giúp người ta theo đạo, và sống theo đạo là chính, nghi lễ chỉ là phần phụ. Nhưng tại sao ta phải sống theo đạo? Có lý do gì vững chắc không? Đối với các nhà tri thức tin theo khoa học, thì những chuyện thần thoại hay các phép lạ chỉ là những chuyện mê tín, hoang đường hoặc không được kiểm chứng v.v...còn đối với những người có óc thực tế thì họ quan niệm rằng: Tôn giáo đặt ra chỉ cốt để dạy người ta làm việc lành, tránh những việc ác, ngoài ra thì không còn gì hết.

Hai quan niệm trên cũng một phần nào có lý, vì nếu chỉ tin vào thượng đế mà không có cách nhìn thấy, hay cảm thông được, thì làm sao có thể tin. Chính vì không nhìn thấy, hay cảm thông được nên mỗi người tin theo một cách, và mỗi người đều thích bắt người khác phải tin theo những gì mà mình tin. Đó cũng là nguyên nhân gây ra sự đổ máu và bất hòa của các tôn giáo.

 Đi ngược giòng thời gian để tìm hiểu tôn giáo, thì ta thấy rằng, các tôn giáo đều có mục đích truyền lại kinh nghiệm của các đấng khai sinh ra đạo.

1/ Đức chúa Giê-su nói rằng "Ngài đã trông thấy thượng đế", các môn đệ ngài nói rằng: đã cảm thấy thượng đế.

2/"Đức Phật có kinh nghiệm về sự thật, đã trông thấy sự thật, và tiếp xúc với sự thật".

Những người tin theo đạo, tùy theo tôn giáo của mình, có lẽ cũng đồng ý với một trong hai điểm trên. Nhưng bởi bản chất hướng ngoại của con người, nên việc nghiên cứu tìm hiểu nội tâm dần dần bị xao lãng, vì vậy chỉ có một số ít người tìm hiểu được, để làm sống lại một phần nào các kinh nghiệm quý báu xưa. Người ta cho rằng các phép lạ trong chuyện thần thoại của mỗi tôn giáo đều thuộc về quá khứ, và không thể làm cho tái diễn lại được. Mặc dù ngày nay không thiếu gì những người có thể biểu diễn các hiện tượng lạ để các nhà khoa học kiểm chứng như không ăn mà vẫn sống, làm cho tim ngừng đập, phổi không thở mà vẫn sống. Những hiện tượng khác thường đó tuy có thật, nhưng các nhà khoa học vì không giải thích được nên không chịu công nhận. Trái lại khoa học Yoga không vì lẽ không giải thích được mà bảo cái đó không có. Khoa học Yoga quả quyết rằng các hiện tượng xuất hiện cách đây mấy ngàn năm, vẫn còn có thể xuất hiện lại, và mọi người đều có thể tìm thấy kinh nghiệm của chúa Giê-su, hay của sự thật mà Đức Phật truyền lại với điều kiện là phải theo một đường lối tu tập thích ứng.

Mỗi một môn khoa học đều có một lối nghiên cứu riêng. Muốn hiểu về vi trùng, nhà bác học phải chuyên học về vi trùng, vì vậy nên không thể hiểu hết những cái gì có thể xảy ra cho môn hóa học hay thiên văn học. Chúng ta đi vào phần chuyên môn, và ai muốn hiểu bộ môn nào thì phải dùng phương pháp, nghiên cứu của bộ môn đó. Điều này cũng áp dụng cho YOGA, vậy muốn tìm hiểu Yoga phải nghiên cứu Yoga và tập Yoga. Nếu chúng ta tập đúng đường lối mà không có kết quả, lúc đó ta mới có quyền bảo Yoga là chuyện không có thực.

YOGA dùng sự "tập trung tư tưởng" hướng vào nội tâm để tìm hiểu những điều bí ẩn còn đang ẩn dấu trong người, những bí ẩn ấy rất vi tế nên không thể dùng máy móc đo lường được. Tuy nhiên Swami Vivekananda đã xác nhận rằng: "Có thể trong một vài tháng tập YOGA, người ta có thể đọc được tư tưởng của người khác.

Để kết luận, Yoga là một môn khoa học hướng về nội tâm, hướng về tôn giáo, để làm sống lại những kinh nghiệm của các đấng khai sinh ra đạo. Chỉ khi nào người ta có những kinh nghiệm ấy hay là những tâm linh ấy, người ta mới thực sự tin theo đạo, thực tin rằng các tôn giáo đều là những phương tiện, những con đường, cùng đưa đến mục đích là CHÂN, THIỆN, MỸ và không còn xung đột lẫn nhau. Đến khi đó con người mới yêu nhau thực sự, và khi đó người ta mới không còn cho tôn giáo là mê tín dị đoan.

Monday, December 27, 2010

YOGA... QUYỀN NĂNG VÀ PHÉP LẠ

Khi nói đến phép lạ, chắc có nhiều người tỏ ra nghi ngờ và cho rằng các phép tàng hình, bay lượn trên không trung, hô phong hoán vũ, chỉ đá hóa vàng...chỉ là những chuyện bịa đặt của một số nhà văn giàu tưởng tượng. Nhưng người tập Yoga có lẽ không đồng ý, vì họ quan niệm rằng con người vốn sẵn có quyền năng vô biên, mà tập Yoga là khơi dậy nguồn quyền năng vô biên sẵn có này.

Mặc dù sau khi tập Yoga sẽ có phép lạ, mục đích của Yoga không phải là tìm phép lạ, mà là giải thoát con người khỏi vòng sinh tử, luân hồi. Các phép lạ nhiều khi lại là một trở ngại cho người tập Yoga. Nếu họ chưa thoát khỏi bản ngã thích được người ta tôn sùng hoặc kính trọng, thì phép lạ sẽ là những cám dỗ đưa họ đến các cuộc trình diễn và phô trương để tạo ra thanh danh hoặc danh tiếng... rồi từ đó có nhiều người trọng dụng, có tiếng tăm, nhiều tiền bạc...và nó sẽ đưa đến sa ngã cũng không xa lắm. Vì việc mãi mê chạy theo danh vọng sẽ làm mất nhiều thời giờ đáng lẽ dành vào việc tu thân. Vì vậy khi tập Yoga mà có những kinh nghiệm lạ thì nên coi chừng để tránh sa ngã.

Khi tập Yoga đến độ làm chủ được các giác quan, hơi thở và ý nghĩ, thì tự nhiên sẽ có phép lạ. Nhưng lòng ham muốn có phép lạ cũng giống như ngọn đèn treo trước gió. Ngọn đèn sáng nhờ tập Yoga mà có, có thể bị gió thổi tắt, làm cho người tập Yoga dễ sa ngã vào vực thẳm của sự ngu tối, và không thể đứng dậy để đi tiếp được nữa. Vậy nếu có phép lạ, người tập Yoga không nên dùng các phép ấy vào những mục đích ích kỷ hoặc làm giàu, tạo thanh danh, tạo thêm sự tín nhiệm để được tôn sùng chủ nghĩa cá nhân, cũng cố địa vị. Cần cảnh giác, đừng để các phép lạ đó cám dỗ.

Các phép lạ thực ra chẳng có gì lạ cả, nó vẫn có trong mỗi con người chúng ta. Nó trở nên lạ là vì con người ta chạy theo văn minh vật chất, bị tiền bạc lôi cuốn, cám dỗ, nên chỉ biết có tiền mà không biết đến bản chất quý giá sẳn có ở trong mỗi con người.

Chúng ta hiện nay đứng trước hai ngã đường: Một bên là vật chất, với những danh vọng, tiền bạc, địa vị, uy quyền và hậu quả là sự tranh giành đấu đá lẫn nhau. Một bên là tinh thần với danh dự, liêm sỉ, hy sinh... và kết quả dĩ nhiên của nó là hạnh phúc lâu dài chung cho nhân loại. Con người sẽ tiến theo ngã nào, tùy thuộc vào vấn đề văn minh mà người ta ưa chuộng. VĂN MINH KHOA HỌC HAY VĂN MINH TÔN GIÁO?
Về vấn đề tâm linh, người châu Á chúng ta thường tự phụ có một đời sống tình cảm dồi dào, và tinh thần sâu sắc... nhưng tiếc thay chúng ta chưa khai thác đúng mức đời sống tinh thần ấy. Ước mong rằng văn minh tôn giáo tiến triển kịp thời với đà tiến triển của văn minh khoa học, và con người không còn tranh giành, giết chóc lẫn nhau vì những tham vọng, mà hãy đến với nhau như anh em, không phân biệt màu da, quốc gia, sắc tộc, tôn giáo... Thật mong lắm thay...mong lắm thay.