Showing posts with label bài tập. Show all posts
Showing posts with label bài tập. Show all posts

Friday, November 11, 2011

THIỀN NĂNG LƯỢNG (PRANAYAMA)

"Trong chúng ta, mỗi người đều có khả năng đặc biệt do tạo hóa ban cho mà không biết khai mở và phát triển, để rồi phải chịu cảnh bệnh tật triền miên. Thật khổ thay cho cái kiếp làm người".

THIỀN NĂNG LƯỢNG (PRANAYAMA)
PRANA LÀ GÌ?
Prana là một từ trong tiếng Phạn, có nghĩa là sự sống, sự chuyển động, hoặc là sinh khí. Sinh khí Prana được xem như toàn bộ các dòng năng lượng sống. Xét về mặt khí chất, Prana là sức sống, là năng lượng cấu tạo, phối hợp các phân tử và liên kết chúng lại thành một cơ thể hoàn chỉnh. 

ĐỊNH NGHĨA VỀ PRANA
Ta không trực tiếp nhìn thấy gió, nhưng có thể nhìn cây cối đang chuyển động, ta biết là có gió. Prana cũng vô hình nhưng ta có thể cảm nhận được nó bằng cách quan sát sự chuyển động của thân THÔNG QUA SỰ TẬP LUYỆN THIỀN NĂNG LƯỢNG, bởi sự chuyển động của thân chính là sự hoạt động bên trong của dòng Prana. Prana, khi được kiểm soát một cách có ý thức, là nguồn sinh lực có tác dụng phục hồi và tái sinh mạnh mẽ. Khi đã kiểm soát được Prana, ta có thể dùng nó để phát triển bản thân, chữa khỏi bệnh cho mình và cho người khác.

CON NGƯỜI VÀ NGUỒN NĂNG LƯỢNG PRANA
Từ hàng ngàn năm nay, nhiều người có khả năng chữa bệnh huyền bí và một số nhà nghiên cứu chuyên sâu trong lĩnh vực tâm linh đã tập trung sự chú ý đặc biệt đến cái được gọi là nguồn năng lượng Prana. Theo thuật ngữ Ấn độ, Prana có nghĩa là nguyên lý năng lượng mà người xưa đã giả định là tất cả các dạng năng lượng và lực đều phát sinh từ đó. Còn thuyết cổ Đông Phương lại cho rằng Prana có biểu hiện trí tuệ và là phần không thể tách rời của tạo hóa. Ai làm chủ được Prana, sẽ làm chủ được thân xác cũng như tinh thần của mình và của người khác, bởi vì Prana là sự thị hiện khái quát hoá của năng lượng. Muốn được như vậy, trước hết ta phải biết cách làm cho cái Prana ở trong ta hoạt động một cách có hiệu quả nhất.

Pranayama là phương pháp tập luyện để điều khiển Prana theo ý muốn của mình. Pranayama không phải là hơi thở như nhiều người hiểu lầm, cũng như Pranayama không phải là vận dụng ý thức ra lệnh hệ thần kinh vận động làm cho cơ thể hoạt động. Prana là bản thể, là cốt lõi của lực cơ bắp, đã tạo nên sự co bóp của các cơ hô hấp, các phế nang qua sự trung gian của các dây thần kinh. Một khi ta làm chủ được Prana thị hiện trong hô hấp, tâm thức ta sẽ được tinh tế hơn, từng bước ta có thể cảm nhận được những lực vi tế là những dòng thần kinh chạy khắp thân ta.

Người luyện tập Pranayama sau khi đã được thành tựu, sẽ trở thành con người toàn năng, toàn tri. Những người chữa bệnh bằng đức tin, bằng tin thần, bằng thôi miên v.v... đều là những người tình cờ khám phá Prana và sử dụng nó mà họ không hề biết. Và nếu chúng ta tinh lọc, chắt gạn các lý thuyết hay lập luận của họ, cuối cùng bao giờ ta cũng thấy bóng dáng của Prana mà họ không hề hay biết bản chất. Tư duy là sự biểu thị vi tế của Prana trong ta, nhưng tư duy không phải là toàn bộ đời sống tâm thức của ta, đời sống ấy có phần vô thức hay bản năng [thần kinh thực vật] có phần hữu thức hay ý thức [thần kinh vận động]. Giữa hai phần này có một vùng giáp ranh còn bí ẩn đó là tiềm thức. Nhưng nó còn một phần nữa, là phần cao quý nhất, mạnh mẽ nhất, kỳ diệu nhất, siêu việt nhất mà nó thường chìm ngủ trong ta, đó là phần siêu thức.

Người luyện tập Pranayama khi đã có sự thành công nhất định nào đó, sẽ điều khiển được Prana theo ý muốn của mình, chẳng những ta có thể khống chế được bệnh tật và đau đớn của bản thân, mà còn cả người khác nữa. Theo quan niệm của trường phái Yoga thì "BỆNH TẬT LÀ DO MẤT QUÂN BÌNH TRONG PHÂN PHỐI PRANA". Vì vậy khi người tập đã làm chủ được Prana, là sẽ điều khiển được Prana, lập lại sự quân bình Prana trong cơ thể. Trên thực tế có những người thông qua phương pháp tập Pranayama, họ có thể điều khiển bằng ý chí hầu như toàn bộ cơ quan trong thân thể họ, trong khi những người khác không tập thì các cơ quan này không hoạt động hoặc hoạt động một cách máy móc.

Hiện nay các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực chữa bệnh không dùng thuốc đang nỗ lực thực nghiệm ứng dụng Prana dựa trên ý tưởng về sự tồn tại trường năng lượng vũ trụ mà thông qua sự tập luyện con người có thể cảm nhận được một cách khá cụ thể. Có nhiều câu hỏi xung quanh vấn đề cảm nhận và ứng dụng Prana trong cuộc sống hằng ngày.
- Bản chất của Prana là gì?
- Tập luyện như thế nào để cảm nhận được Prana?
- Vì sao con người cần đến nó?
- Làm thế nào để kích hoạt Prana để chữa bệnh và tăng cường sức khỏe?
Cho đến nay chưa thể khẳng định được chắc chắn về bản chất đích thực của Prana. Việc tập luyện để cảm nhận và thu nạp Prana thường được tiến hành theo các mức độ khác nhau, từ thấp tới cao, từ đơn giản tới phức tạp. Người tập luyện trước hết phải có lòng tin vào sự tồn tại của Prana và tin vào khả năng của mình, đồng thời phải luôn duy trì đức tính kiên nhẫn trong thực hành.

Trích dẫn một số nghiên cứu của bác sĩ tâm thần và các bậc Thầy năng lượng.
Bác sĩ tâm thần Lee Sanella M.D. đã liệt kê và phân loại những hiện tượng xuất hiện trong lúc thực hành Thiền năng lượng.

- VỀ MẶT VẬN ĐỘNG:
Cơ thể chuyển động tự phát ở nhiều bộ phận, tuy nhiên người tập có thể tự ức chế. Những cử động này có khi nhẹ nhàng êm dịu, có khi là những cơn co giật hoặc rung chuyển.

- CẢM GIÁC ĐAU:
Có nhiều người kể về cảm giác đau ở đầu, sống lưng và tại nhiều vùng khác của cơ thể, xuất hiện đau thật bất ngờ và hết đau cũng thật nhanh chóng. Có người mô tả lại rằng dường như đau xảy ra khi ta cố tình cưỡng lại dòng khí đang lưu chuyển. Hoặc đau xảy ra khi dòng năng lượng đi qua những huyệt đạo chưa khai mở.

- SỰ GIÁC NGỘ VÀ NĂNG LỰC TINH THẦN:
Đây mới là mục đích thật sự của pháp môn thiền năng lượng, qua một thời gian dài thường xuyên tập luyện sẽ có sự xuất hiện những nhận thức siêu việt, trực giác nhạy bén và phát huy tiềm năng trí tuệ.

LỜI CỦA OSHO (trích từ cuốn Thiền động)
- NĂNG LƯỢNG CHUYỂN ĐỘNG
Khi năng lượng của bạn chuyển động, nó sẽ bắt đầu làm cho thân thể bạn chuyển động. Bạn hãy cho phép những chuyển động đó xảy ra một cách tự nhiên và nhớ rằng đừng bao giờ can thiệp vào cái đang xảy ra. Bạn hãy là nhân chứng cho chính bạn.

LỜI CỦA KHÍ CÔNG SƯ BÙI LONG THÀNH (trích từ Liệu trình A / khí công dưỡng sinh)
- CHÁNH NIỆM TĨNH GIÁC
Tuyệt đối không hôn trầm, mê muội. Luôn luôn nhận biết thân tâm mình trong lúc tập, giữ cho động tác luôn điều hòa, chậm rãi, ổn định, giữ cho tâm mình luôn trụ vào đề mục.

- CẢM NHẬN NĂNG LƯỢNG
Không nên đột ngột dừng lại khi có sự chuyển động của năng lượng. Mọi sự chuyển động phải thuận theo tự nhiên, do dòng khí bên trong chuyển động làm cho thân thể chuyển động.

- TRỊ BỆNH BẰNG NĂNG LƯỢNG
Sau khi đã cảm nhận được dòng năng lượng, bị bệnh gì thì niệm thầm liên tục trong đầu xin tự trị bệnh. Quán tưởng năng lượng chảy dồn về vùng bệnh, vùng bệnh sẽ có cảm giác tê, nóng, ngứa, nặng, ấm… Hoặc cơ thể xuất hiện các động tác tự trị bệnh như day, ấn, vỗ, chà, vuốt v.v... Ngoài tác dụng điều trị bệnh, tăng cường sức khỏe, thiền năng lượng còn tác dụng giải tỏa stress, cân bằng cảm xúc, kiểm soát hành vi.

LỜI CỦA NHÀ CẢM XẠ HỌC DƯ QUANG CHÂU

- PHÁT HUY TIỀM NĂNG TRÍ TUỆ
Mỗi người đều tiềm ẩn một sức mạnh đang ngủ yên. Phải biết làm cho nó tỉnh thức và sử dụng nguồn năng lượng đó. Trước tiên chúng ta phải nhận thức được nó, kiểm soát nó, làm chủ nó, sau đó đem sử dụng để khai thác có hiệu quả và để sống tốt hơn. 

TỔNG HỢP CÁC HIỆN TƯỢNG VÀ CẢM NHẬN KHI TẬP THIỀN NĂNG LƯỢNG [PRANAYAMA].

SỰ BIỂU THỊ CẢM GIÁC SINH LÝ.

Khi cảm nhận được dòng năng lượng, cơ thể sẽ xuất hiện nhiều cảm giác khác nhau. Dù cùng là một người, mỗi lúc cũng có thể xuất hiện những phản ứng khác nhau. Có những người cảm nhận được rõ rệt, có những người tương đối rõ rệt. Lại có người có sự phản ứng toàn thân, có người chỉ phản ứng ở một tạng phủ nào đó, cũng có người phản ứng ở khắp các tạng phủ và tứ chi, và có người chỉ phản ứng cục bộ v.v...

Cảm giác có tính đặc trưng và tính chất phản ứng của sinh lý, chính là ở chỗ KHÔNG GIỐNG NHAU. Trong cảm giác lạnh, có những lúc ta có cảm giác lạnh như băng giá, lạnh như gió bấc lạnh từ bao tử, lạnh nhè nhẹ như có mưa bụi bay quanh mình, lạnh đánh bò cạp, lạnh thấu xương v.v...Trong cảm giác nóng, có những lúc ta có cảm giác nóng oi bức, nóng hừng hực, nóng gió của sa mạc, nóng rang khắp châu thân v.v...

Trong cảm giác của sự chấn động, cũng có lúc ta kêu lên ối cha, giật nẩy mình, tim đập thình thịch, run bần bật v.v...Lại có trường hợp ở vùng tim cảm thấy nóng, hoặc thấy lạnh, có cảm giác như sợ hãi, nặng ngực, hơi thở dồn dập, cảm giác bị đè nén, cảm giác nặng nề, cảm giác như bị trói buộc v.v...Cũng có người thấy như đang trôi bồng bềnh, đang bay lên không trung, đang lạc vào tiên cảnh, như thân mình không còn nữa v.v...Những cảm giác đó rất rõ rệt, nó biểu hiện khi cơ thể con người đã tiến vào trạng thái bị kích động sẽ làm cho khí lực sung mãn.

PHẢN ỨNG QUA HÀNH VI CỦA CƠ THỂ

Cơ thể con người khi cảm nhận dòng năng lượng, thì có những chuyển động "TỰ PHÁT" không dự tính trước. Những sự chuyển động này có khi là nhẹ nhàng, êm dịu, có khi là những cơn co giật rung chuyển, có khi như múa hát ngũ cầm, có khi xuất hiện những động tác giống như THÁI CỰC QUYỀN. Nhảy, múa, đi những đường quyền võ thuật. Cơ thể có khi tự động được đưa vào tư thế HATHA YOGA và giữ ở tư thế nầy rất lâu. Cũng có lúc xuất hiện những động tác giống như DỊCH CÂN KINH [còn gọi là PHẤT THỦ LIỆU PHÁP]. Đôi lúc cũng có sự co giật từng chập, run rẩy, những động tác quay tròn, nghiêng ngả, ngồi xếp bằng chắp hai bàn tay trước ngực v.v... Những biểu hiện tổng hợp đó, đã ngầm cho ta biết là trong cơ thể con người có một hệ thống đặc biệt rất năng động, to lớn, đang tiềm tàng những bí ẩn còn chưa khám phá.

NHỮNG KIỂU HÔ HẤP KHÁC THƯỜNG

Khi năng lượng chuyển động sẽ xuất hiện nhiều kiểu thở khác nhau. Như là thở nhanh, thở chậm, thở kéo dài kết hợp với phình bụng hoặc thóp bụng, hoặc là ngưng thở. Thở phát ra âm thanh, thở há to miệng kết hợp với thè lưỡi và mở to đôi mắt. Có những kiểu thở bịt vào lỗ mũi luân phiên giống như các Yogis thường tập mà sách vỡ nói là PRANAYAMA. Thực ra thì nhiều người đã hiểu sai, và dịch sai từ PRANAYAMA. Chữ PRANA có nghĩa là năng lượng. Còn chữ YAMA có nghĩa là kiểm soát. Góp hai từ này với nhau thành chữ PRANAYAMA có nghĩa là KIỂM SOÁT NĂNG LƯỢNG. Như vậy PRANAYAMA là kiểm sóat năng lượng chứ không phải là tập thở như mọi người thường nghĩ. Từ nhận xét này ta biết rằng không cần phải học các kiểu hô hấp đặc biệt nào cả, mà tự thân khi năng lượng chuyển hóa nó sẽ " ĐIỀU KHIỂN HƠI THỞ MỘT CÁCH TỰ ĐỘNG".

NHỮNG CẢM XÚC BẤT THƯỜNG

Trong lúc cơ thể đang tràn ngập năng lượng, sẽ xuất hiện những phản ứng tâm lý rõ rệt như là khóc òa lên thật to, hoặc bật cười ha hả. Có thể xuất hiện các cảm xúc như là sợ hãi, lo lắng, bi ai, buồn khổ, vui sướng v.v...Vào những giai đoạn đầu, có thể có những cảm xúc như vậy, nhưng dần dần sau đó ở những giai đoạn sau cảm xúc nó sẽ bình lặng hơn. Ta cảm nhận như có sự ngọt ngào ở tim, tâm trạng phóng khoáng, tình cảm ổn định, tư duy nhạy bén, ngôn ngữ lưu loát, sự chú ý tập trung dễ dàng, trí nhớ tốt, tâm lý ổn định, cảm giác vui vẽ v.v...

CẢM GIÁC ĐAU

Khi cơ thể con người cảm nhận được dòng năng lượng, sẽ có những cảm giác như đau ở đầu, ở mắt, cột sống lưng và rất nhiều vùng khác của cơ thể. Nó xuất hiện những cơn đau rất bất ngờ, và hết đau cũng thật nhanh chóng. Có khi cơn đau đó do ta cố tình làm ngăn trở dòng năng lượng [khi dòng năng lượng đang tự nhiên chuyển động, ta lại dụng ý điều khiển dòng năng lượng theo ý của mình, hoặc dừng lại đột ngột] và cũng có khi cơn đau đó xảy ra khi dòng năng lượng đi qua vùng bệnh hay các huyệt đạo đang bị bế tắc.

PHƯƠNG PHÁP TẬP THIỀN NĂNG LƯỢNG [PRANAYAMA]
Bài tập này gồm có 7 phần:
1. Ổn định thân tâm
2. Cảm nhận năng lượng
3. Kích hoạt năng lượng
4. Thu năng lượng
5. Chuyển hóa năng lượng
6. Trị bệnh bằng năng lượng
7. Kết thúc

ỔN ĐỊNH THÂN TÂM
Tư thế chuẩn bị: Ngồi kiết già hoặc bán già. Đầu cổ và lưng thẳng, mắt khép nhẹ, miệng khép, lưỡi nằm ngang, 2 bàn tay mở ngữa, để trên đầu gối, ngón cái và ngón trỏ chạm nhẹ vào nhau.
- Niệm thầm: tôi đang cảm nhận toàn thân
- Tập trung ý lắng vào thân

CẢM NHẬN NĂNG LƯỢNG
Tư thế chuẩn bị: Ngồi kiết già hoặc bán già. Đầu cổ và lưng thẳng, mắt khép nhẹ, miệng khép, lưỡi nằm ngang, 5 ngón tay chạm nhẹ vào nhau, để trước ngực.
Thực hiện: Hướng sự chú ý lên 5 đầu ngón tay.
Niệm thầm: Tôi đang cảm nhận năng lượng.
Hiện tượng thường xuất hiện trong lúc cảm nhận năng lượng:
a. Cảm nhận có sự rung động nhẹ ở các đầu ngón tay
b. Có sự dao động nhẹ ở cột sống
c. Có những ý nghĩ, những suy nghĩ bỗng xuất hiện trong tâm trí, trong thiền học gọi là vọng tưởng, là tạp niệm. Đừng nhớ đến nó, đừng suy nghĩ theo nó mà hãy hướng sự chú ý lại trên 5 đầu ngón tay và tiếp tục niệm thầm “Tôi đang cảm nhận năng lượng.”

KÍCH HOẠT NĂNG LƯỢNG
- Từ từ dang hai bàn tay ra thật chậm và cảm nhận có dòng năng lượng đang đẩy hai bàn tay từ từ dang ra
- Từ từ khép hai bàn tay vào và cảm nhận có sức hút hai bàn tay vào nhau. Trong lúc khép hai bàn tay chạm vào nhau, thường thì không chính xác như lúc ban đầu. Lý do là tâm chưa được ổn định. Hãy điều chỉnh 5 ngón tay vào vị trí ban đầu.
CHÚ Ý:
- Bài tập này không nên dùng lực lúc dang tay ra, mà hãy cảm nhận lúc vừa khởi ý dang tay ra là cảm nhận được ngay có dòng năng lượng đang đẩy hai bàn tay ra.
- Lúc dang tay ra hai bên, 2 bàn tay cách xa từ 30-40cm hai chỏ xuôi theo hông.
- Hướng sự chú ý vào hai bàn tay lúc dang ra và khép vào.

THU NĂNG LƯỢNG
- Hai bàn tay từ từ dang ra, xoay lòng bàn tay ngửa hướng lên trên, tập trung vào huyệt Lao cung giữa lòng bàn tay.
- Niệm thầm: thu năng lượng
- Trong lúc thu năng lượng ta có cảm giác ấm ở huyệt Lao cung, có sự dao động nhẹ ở cột sống, hoặc hai bàn tay.

CHUYỂN HÓA NĂNG LƯỢNG
- Niệm thầm: năng lượng chuyển động
- Liên tục ám thị đến khi cảm nhận được sự chuyển động bởi năng lượng. Sự chuyển động thường xuất hiện ở hai cánh tay, ở cổ, ở cột sống. Hãy thuận theo tự nhiên và cảm nhận. Biết rõ sự chuyển động của thân. Đây là điểm quan trọng nhất trong bài tập thiền năng lượng. Và người tập bắt buộc phải tuân theo những điều sau:
o Trong lúc năng lượng chuyển động, ta không nên mong cầu hoặc tưởng tượng bất cứ điều gì.
o Vẫn tiếp tục niệm thầm: năng lượng chuyển động và biết rõ sự chuyển động và khi đã nhận biết thì điều kỳ diệu của thiền năng lượng bắt đầu xuất hiện.
o Không dừng lại đột ngột trong lúc năng lượng chuyển động.

TRỊ BỆNH BẰNG NĂNG LƯỢNG
- Trong lúc năng lượng chuyển động, có bệnh gì thì niệm thầm trị bệnh đó. Thí dụ như bệnh đau đầu, ta niệm thầm “năng lượng trị bệnh đau đầu.” Lúc đó sẽ xuất hiện hai trường hợp sau.
o Hai bàn tay dần dần chuyển đến vùng bệnh và tự nó trị bệnh như ấn, day, chà, vuốt, vỗ…
o Cảm nhận bên trong có những dòng điện hoặc cảm giác nóng, ấm, ngứa, tê, đau v.v...

KẾT THÚC

Niệm thầm: năng lượng dừng lại. Lặp đi lặp lại liên tục, liên tục cho đến khi nào cảm nhận dòng năng lượng chậm dần, chậm dần, chậm dần rồi từ từ dừng hẳn.
Điểm kết thúc của hai bàn tay thường ở hai đầu gối hoặc ở vùng bụng dưới
- Sau đó từ từ mở mắt ra.
- Mátxa ở mặt và phía sau gáy.
- Có sự lâng lâng, trống trải trong trí não sau khi kết thúc buổi tập thiền năng lượng.

TRƯỜNG HỢP NÀO KHÔNG CẢM NHẬN ĐƯỢC DÒNG NĂNG LƯỢNG
1. Chuẩn bị phần cảm nhận năng lượng chưa tốt, còn trương lực cơ trong lúc hai bàn tay chạm nhau để trước ngực.
2. Do căng thẳng hoặc quá nhiều ý nghĩ, suy nghĩ… làm không thể tập trung được.
3. Do nghi ngờ, không tin tưởng vào phương pháp
4. Đã từng tập qua nhiều phương pháp khác.
5. Thường xuyên mở mắt trong lúc tập luyện.

NHỮNG ĐIỀU KHÔNG NÊN KHI TẬP THIỀN NĂNG LƯỢNG

1. Không nên tập với những người chưa đủ kinh nghiệm hướng dẫn.
2. Không tập ở nơi khí âm nhiều, như nghĩa địa, bệnh viện, lò thiêu.
3. Không dừng lại đột ngột trong lúc năng lượng đang chuyển động.
4. Không cầu nguyện hay cầu xin bất cứ một tha lực nào trong lúc tập thiền năng lượng.

Wednesday, December 8, 2010

PHÁT TRIỂN TIỀM NĂNG CON NGƯỜI BẰNG ÂM THANH"AUM"

MANTRA hay mật chú là âm tiết hoặc một chuỗi âm tiết mang năng lượng. Âm thanh là một dạng năng lượng gồm những rung động hoặc những làn sóng có khả năng trị bệnh và giúp cho ta hòa nhập vào sự rung động vi diệu tự nhiên của vũ trụ. Những MANTRA như âm "AUM" chẳng hạn, tạo ra những rung động và giúp hướng năng lượng tích cực vào trong tâm thức của ta, chính vì thế mà việc phát âm ĐÚNG MANTRA LÀ ĐIỀU HẾT SỨC QUAN TRỌNG.

Trong âm nhạc có 7 nốt và 3 cao độ: Âm trầm, âm trung, âm cao.

Âm trầm gồm có: mì, fà, sòl, là, sì, đồ, rề.

Âm trung gồm có: mi, fa, sol, la, si, đô, rê.

Âm cao gổm có: mí, fá, sól, lá, sí, đố, rế.

Khi phát âm "AUM" phải đúng với nốt nhạc nào? Âm trầm, âm trung, hay âm cao? Để biến âm thanh thành chìa khóa mở vào cánh cửa tâm thức. Đây là điều bí mật mà các đạo sư điều nhấn mạnh, là khi PHÁT ÂM PHẢI ĐÚNG MANTRA, được như vậy mới có hiệu quả. Và ngay cả các câu niệm chú, niệm phật cũng không ngoại lệ [ĐÂY LÀ CHỔ TÔI ĐÃ CHỨNG NGHIỆM ĐƯỢC].

Trong tất cả các MANTRA, âm AUM là quan trọng nhất, vì AUM là MANTRA nguyên thủy, là nguồn gốc của mọi âm thanh, từ ngữ và các câu thần chú. NHỮNG GÌ KHÔNG THỂ HÌNH DUNG ĐƯỢC, KHÔNG THỂ ĐÁP ĐƯỢC THÌ ÂM "AUM"GIÚP CHO TA KHAI MỞ. Sự phát âm chú ngữ AUM trong một thời gian dài, sẽ cộng hưởng trong tâm ta và đến một lúc nào đó ta không cần phát âm, mà âm thanh đó sẽ tự động vang lên trong đầu và chỉ có mình ta nghe được. Và nói theo lời của đạo sư RINPOCHE, kỹ thuật phát âm AUM có 2 lợi ích.

Thứ nhất: Giúp ta tập trung tâm trí và đánh thức nội tâm.

Thứ hai: Những rung động của AUM cộng dồn lại vang dội trong tâm sẽ tác động đến những trung tâm vi diệu của cơ thể.

ÂM AUM TRONG GIAO TIẾP.
Âm AUM là khởi nguồn của mọi suy nghĩ và ý tưởng. Âm AUM thường sử dụng trong lúc trao đổi thông tin, hoặc để trả lời trước câu hỏi khó. Thông thường trong lúc nói chuyện khỏang 50 đến 100 từ, thì âm AUM xuất hiện, và âm nầy sau khi xuất hiện một cách vô thức thì sự hoạt động của não bộ có vẽ linh hoạt hơn. Đây là sự minh chứng rằng âm AUM là nguồn năng lượng tiếp sức cho trí não phát triển.

DẨN CHỨNG MỘT VÀI THÍ DỤ
Những game show như là chung sức, ai là triệu phú. Khi người dẫn chương trình đặt ra câu hỏi, thì người trả lời thường hay nói âm ơ...âm ờ...hoặc âm um... âm ùm... trước khi trả lời câu hỏi.

Những buổi nói chuyện như là diễn đàn, thảo luận, thuyết trình... rất thường hay xuất hiện những âm nầy. Theo sự nghiên cứu và theo dõi của tôi, tôi thường thấy những người làm chính trị, giáo dục, khoa học thường sử dụng âm ơ... hoặc âm ờ... trong giao tiếp. Những người làm nghệ thuật thường sử dụng âm um... hay âm ùm... trong giao tiếp. Cũng cần nói rõ thêm đây là một dạng âm mà tất cả loài người trên trái đất nầy đều sử dụng khi giao tiếp.

ÂM THANH CÓ TÁC DỤNG CHỮA BỆNH

Theo tiến sĩ sinh học VALERI ILICHEV và ONGA SILAEVA. Âm thanh của rừng tốt hơn bất kỳ một loại thuốc nào và có tác dụng làm giảm áp lực máu của những người cao huyết áp.
-Nốt FA có tác dụng chữa bệnh đường ruột và dạ dày.
-Nốt ĐÔ có tác dụng chữa các chứng rối loạn thần kinh.
-Kết hợp các nốt nhạc SI, SOL, ĐÔ có tác dụng hiệu quả đối với các bệnh nhân có khối u.

Theo nhận xét của giáo sư LIUĐMILA BOLOTOVA viện hàn lâm khoa học NGA: Phương pháp chữa bệnh bằng âm thanh có khả năng phát triển rất lớn trong thời gian tới [tôi đồng ý với quan điểm nầy]. Và mới đây, các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng nghe nhạc MOZART có tác dụng chữa bệnh giảm STRESS, tăng cường trí thông minh, ổn định nhịp tim, điều trị chứng động kinh, suy giảm trí nhớ v.v... Khi viết đến đây, tôi bỗng có một ý nghĩ rằng: RẤT MUỐN HỢP TÁC VỚI NHẠC SĨ "TÂM LINH" NÀO Ở TRONG NƯỚC HOĂC NƯỚC NGOÀI CÓ KHẢ NĂNG PHỐI ÂM, PHỐI KHÍ THẬT TỐT. HIỆN NAY KHẢ NĂNG ĐẶC BIỆT CỦA TÔI LÀ PHÁT RA ĐƯỢC NHỬNG DẠNG ÂM THANH ĐỂ TRỊ NHIỀU LOẠI BỆNH KHÁC NHAU.

CHÂN NGÔN [CHÚ NGỮ].
OM MANI PADME HUM.

OM MANI PADME HUM là một câu chân ngôn tiếng PHẠN, được xem là câu chú cầu QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT. Còn được mệnh danh là LỤC TỰ ĐẠI MINH CHÂN NGÔN. Theo phiên âm tiếng hán- việt. Câu nầy được đọc là ÚM MA NI BÁT NI HỒNG hay ÁN MA NI BÁT MÊ HỒNG và khi viết tới đây, tôi chợt nhớ đến câu chú NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT, và vấn đề được đặt ra là...
-Câu chú nầy [nam mô a di đà phật] có phải là câu chân ngôn hoặc chủ ngữ?
-Câu chú nầy có phải là tên của một vị PHẬT A DI ĐÀ, nói theo cách lý giải của phật giáo.
-Có sự tương quan nào giữa câu chú OM MA NI PADME HUM và NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT.

Thông thường người ta không giải thích câu thần chú, bởi vì thần chú quan trọng nơi "ÂM THANH" chứ không phải nơi ý nghĩa. Khi dịch ra ngôn ngữ khác thì thần chú không còn tác dụng nữa. Trong kinh UPANISHADS có nói rằng: Thần chú có những âm thanh riêng biệt và có tác dụng bí ẩn tùy theo cách trình bày của người phát âm [tôi rất đồng ý với quan điểm trên].

PHƯƠNG PHÁP TẬP ÂM THANH "AUM" GỒM 9 BƯỚC
Đây là bài tập nằm trong giáo trình tập luyệnYOGA mà tôi đã từng hướng dẫn như: -

-ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH.

-CÂU LẠC BỘ ỨNG DỤNG TIỀM NĂNG CON NGƯỜI TP HỒ CHÍ MINH

-KHU BIỆT THỰ NGÂN HÀNG ĐÔNG Á ĐƯỜNG TRẦN NÃO QUẬN 2.

-Lợi ích bài tập: Tác động vào hệ thống thần kinh trung ương, nhằm khám phá khả năng đặc biệt của con người.

Tư thế chuẩn bị: Ngồi bán già hoặc kiết già. Đầu, cổ và lưng thẳng. Hai bàn tay mở ngửa để trên đầu gối, ngón cái và ngón trỏ chạm nhẹ vào nhau.

-BƯỚC 1: Tập trung vào giữa ngực, luân xa 4 [ANAHATA].
Phát âm "A". Tập 5 lần...

Lợi ích: Phát triển tình thương và lòng từ bi. Ngăn ngừa bệnh tim mạch, tuần hòan, ung thư phổi.

-BƯỚC 2: Tập trung vào giữa cổ, luân xa 5 [VISHUDDHA}.
Phát âm "Ô". Tập 5 lần...

Lợi ích: Đây là khu vực liên quan đến hô hấp, âm thanh, tiếng nói. Tác động vào luân xa nầy thường xuyên, sẽ có được giọng nói dễ nghe, âm thanh dễ đi vào lòng người và được nhiều người mến mộ [NHỮNG NGƯỜI PHÁT THANH VIÊN, NGƯỜI DẪN CHƯƠNG TRÌNH, DIỄN GIẢ. MUỐN CÓ TIẾNG NÓI TỐT, ÂM THANH DỄ ĐI VÀO TIM MỌI NGƯỜI, NÊN CHÚ Ý VÀO LUÂN XA NẦY]. Phòng ngừa các bệnh hen suyễn, ho, đau nhức bả vai, lồng ngực, dị ứng thời tiết, cảm cúm.

- BƯỚC 3: Tập trung vào giửa 2 đầu chân mày, luân xa 6 [AJNA].
Phát âm "OM". Tập 5 lần...

Lợi ích: Tạo ra sự tập trung cao. Tạo ra ý tưởng mới. Làm gia tăng cường độ của những ý nghĩ đi sau nó [ NHỮNG NGƯỚI CẦN CÓ Ý NGHĨ MỚI HOẶC Ý TƯỞNG MỚI NÊN CHÚ Ý VÀO LUÂN XA NẦY]. Ngăn ngừa bệnh nhức đầu, viêm mũi, tê liệt thần kinh mặt, rối loạn thần kinh do thiếu hormon.

- BƯỚC 4: Tập trung vào giửa ngực phát âm "A", chuyển ý từ từ lên đến giữa cổ phát âm "Ô", tiếp tục chuyển ý từ từ đến giữa chân mày phát âm "OM". Tập 5 lần...
Bài tập nầy rất diệu kỳ trên lĩnh vực tâm linh, sẽ phát ra những tiếng nói lạ, còn được gọi là tiếng PHẠN hay tiếng nói của các CHƯ THIÊN. Tiếng nói nầy sẽ giải mã những bí ẩn mà trước nay mình chưa biết, hoặc chưa thông. Tôi thường sử dụng tiếng nói nầy để trao đổi thông tin với nhà ngoại cảm ĐÒAN VIỆT TIẾN. Ở lớp học câu lạc bộ ứng dụng tiềm năng con người thành phố HỒ CHÍ MINH do tôi hướng dẫn, có một học viên tên là CHÂU[nữ] chỉ sau 3 buổi học phát âm , kết hợp với thiền năng lượng, cô CHÂU đã nói được tiếng PHẠN, tuy rằng hiện bây giờ cô chưa hiểu ý nghĩa tiếng nói đó, nhưng tôi tin rằng sau một thời gian dài tập luyện siêng năng, cô sẽ tiến rất xa trên lĩnh vực tâm linh.

- BƯỚC 5:Hai ngón trỏ bịt vào 2 lỗ tai [bịt nhẹ thôi]. Hàm răng không chạm vào nhau.
Tập trung vào giữa 2 chân mày, luân xa 6 [AJNA]
Phát âm "OM". Tập 5 lần...

- BƯỚC 6: Hai ngón trỏ bịt vào 2 lỗ tai [bịt nhẹ thôi]. Hàm răng không chạm vào nhau.
Phát âm "OM" và đưa càm qua trái, phải. Tập 5 lần...
Chú ý: Khi đưa càm qua trái, phải. HAI HÀM RĂNG KHÔNG ĐƯỢC CHẠM VÀO NHAU.
Lợi ích: Tạo ra năng lượng vào bán cầu não trái, phải một cách hiệu quả nhất.

- BƯỚC 7: Các ngón tay ấn vào các vị trí sau:
-Ngón trỏ: Bịt vào lỗ tai.
-Ngón giữa: Vùng thái dương.
-Ngón áp út: Đuôi mí mắt.
-Ngón út: Dưới gò má.
-Ngón cái: Đàng sau dái tai.
Phát âm "OM" và điều chỉnh càm vào vị trí cân bằng 2 bên, để lắng nghe âm thanh vào đúng chính giữa đỉnh đầu. Luân xa 7 [SAHASRARA] Tập 5 lần...
Lợi ích: Có tác dụng nâng cao trình độ tâm thức, luôn là biểu tượng quyền năng của con người trong thế giới siêu nhiên.

- Ngăn ngừa bệnh đau đầu, lọan sắc, đau mắt, kinh phong, tê liệt thần kinh, mất trí nhớ...

- BƯỚC 8 Trở về tư thế chuẩn bị: Ngồi bán già hoặc kiết già. Đầu, cổ và lưng thẳng. Hai bàn tay mở ngửa để trên đầu gối, ngón cái và ngón trỏ chạm nhẹ vào nhau.
Tập trung vào giữa 2 chân mày. Luân xa 6 [AJNA]
Niệm thầm âm "OM" [niệm không ra tiếng].
Thời gian: từ 3 đến 5 phút.

- BƯỚC 9: Ngồi bán già hoặc kiết già. Đầu, cổ và lưng thẳng. Miệng khép, lưỡi để tự nhiên. Hai bàn tay đặt chồng lên nhau, ngón cái chạm nhẹ vào nhau để ở vùng bụng dưới. Luân xa 3 [MANIPURA].

-Cảm nhận phồng xẹp của bụng thông qua hơi thở. Không tạo áp lực vào hơi thở.
Thời gian: Từ 3 đến 5 phút.
Kết thúc buổi tập: MÁTXA mặt.

Sunday, December 5, 2010

THỞ BỤNG 4 THỜI YOGA [THỞ CƠ HOÀNH]

Hít thở là phản xạ tự nhiên vô điều kiện của con người, nhưng không phải ai cũng biết cách thở để phát huy tối đa khả năng của cơ quan hô hấp. Đa số chúng ta thở sai, ta thường thở nông và cạn, nên không làm đầy hai lá phổi. Bác sĩ nói rằng phần nhiều chúng ta chỉ dùng 1/3 hay một nửa thể tích của phổi, một phần lớn phổi của ta chưa được sử dụng và chứa đầy không khí cũ tồn đọng, đó là nguyên nhân phát sinh cảm lạnh và các bệnh hô hấp.

Quá trình trao đổi khí cần một thời gian nhất định, các nhà sinh lý học cho rằng một hơi thở tốt nên kéo dài khoảng 20 giây cho một lần hít vào, thở ra. Nếu ta thở nhanh quá hoặc cạn quá thì thời gian trao đổi khí quá ngắn, không tận dụng được lượng dưỡng khí ở trong máu đưa vào tế bào, cũng như không thải được thán khí ra khỏi cơ thể.

Trong tất cả các họat động nội tạng, chỉ có thở là vừa tự phát vừa có thể tùy ý. Động tác thở bụng được thực hiện chủ yếu bởi cơ hoành, một cơ chắn ngang giữa ngực và bụng. Mặt trên tiếp giáp tim và phổi, mặt dưới với gan và khoang bụng. Khi chúng ta hô hấp,cơ này cử động lên xuống, đồng thời dồn ép hoặc kéo giãn các cơ quan nội tạng.

Theo cách thông thường, người ta thường hay thở cạn, nhanh và không có sử dụng cơ này. Chỉ có cách thở bụng mới tận dụng được nó, theo cách thở nầy khi ta hít vào thật chậm, sâu thì không khí đi vào phần dưới đáy phổi, cơ hoành đẩy xuống làm cho thận, gan, dạ dày bị ép liên tục. Khi thở ra nó lại co lên kéo giãn các tạng phủ. Như vậy toàn bộ các cơ quan trong người được mátxa liên tục. Nói theo lời của B/S Đỗ hồng Ngọc thì sự hô hấp sâu sẽ tác động trên từng tế bào của cơ thể chứ không phải chỉ là ở hai lá phổi. Phổi thực chất là một cái bơm, bơm khí vào ra "phình xẹp" vậy thôi. Để cho cái máy bơm đó làm việc tốt thì cần phải biết một chút về cơ chế của nó. Lồng ngực là cái xy-lanh [cylindre], còn pít-tông [piston] chính là cơ hoành, một cơ trơn nằm vắt ngang giữa bụng và ngực. Khi cơ hoành thụt lên thụt xuống [như cái bể lò rèn] thì không khí được hút vào đẩy ra ở phổi. Cơ hoành hoạt động càng mạnh thì trái tim càng khỏe, có người ví von rằng cơ hoành là "TRÁI TIM THỨ HAI", là một thành phần tưởng không giữ vai trò nào nổi bật trong cơ thể, ấy vậy mà lại có thể trở thành đòn bẩy cho trái tim khỏe mạnh. Và nói theo lời của các đạo sư Yoga " KHÔNG PHẢI SỰ HÔ HẤP SINH RA VẬN ĐỘNG CỦA PHỔI, MÀ NGƯỢC LẠI CHÍNH SỰ VẬN ĐỘNG CỦA PHỔI VÀ CƠ HOÀNH MỚI TẠO RA SỰ HÔ HẤP". Điều này ta có thể chứng minh bằng cách là "dùng hai ngón tay bóp vào hai lỗ mũi một người đang ngủ" ta sẽ thấy phần ngực và cơ hoành chuyển động rất mạnh.

Bác sĩ Dean Ornish, tác giả cuốn sách nổi tiếng "Program for Reversing Heart Disease" (Chương trình phục hồi bệnh tim) hướng dẫn cách thở bụng rất đơn giản, dễ làm. Đặt một bàn tay lên bụng, khi thở vào thở ra, ta thấy bàn tay mình nhích lên nhích xuống là được.

Ngày nay, ở phương Tây, rất nhiều trung tâm dạy Thiền, Yoga, Khí công... để chữa bệnh cũng chủ yếu là dạy phương pháp thở bụng. Các phương pháp trị liệu nổi tiếng của các bác sĩ như Dean Ornish, Deepak Chopra v.v... căn bản cũng không ngoài cách... thở bụng. Phương pháp thở bụng không chỉ giúp để chữa một số bệnh tim mạch, hô hấp, tiêu hóa... mà còn làm cho tâm được an lạc, giảm stress trong cuộc sống hiện tại.

PHƯƠNG PHÁP TẬP THỞ BỤNG 4 THỜI YOGA: THỞ VÀO, NGƯNG THỞ, THỞ RA, NGƯNG THỞ. BẮT ĐẦU BẰNG THỞ RA. Việc thở bụng phải tuân thủ 4 nguyên tắc sau: CHẬM , ÊM, DÀI, SÂU. Cách thở nầy không những tăng cường nội lực mà còn giúp điều hòa các rối lọan tạng phủ.

THỜI 1: THỞ VÀO từ từ phình bụng ra, cơ hoành hạ xuống, có tác dụng đẩy các tạng phủ xuống thấp, làm áp lực ổ bụng tăng lên, máu ở bụng được đẩy về tim dễ dàng. Dạ dày, gan thận được mátxa liên tục. Khi thở vào SÂU, sẽ giúp cho oxy đến đầy đủ tận cùng toàn bộ tế bào trong cơ thể, do đó sẽ có sự chuyển hóa hoàn toàn nhất, tránh được khả năng đào thải những chất có gốc tự do gây bệnh và các chất oxy hóa từ tế bào tự hủy vì thiếu oxy, đó là mầm mống của bệnh tật. Thở vào SÂU, sẽ làm cho lượng bọt khí NITRIC OXIDE li ti xuất hiện nhiều trong máu, chất nầy tác động lên đầu các nơron thần kinh, làm tăng trao đổi điện hóa giữa các dây thần kinh, tăng chất DOPAMINE và ENDORPHIN trong máu.

THỜI 2: NGƯNG THỞ có tác dụng giữ lượng không khí trong phế nang một thời gian để tăng sự khuếch tán oxy vào máu, máu sẽ tràn đầy các tế bào và các mô, làm giãn nở các mạch máu và bắp thịt, giúp tăng cường hệ miễn dịch. THỞ VÀO, NGƯNG THỞ [thời dương] thường áp dụng cho những người trì trệ, kém năng động, hay buồn rầu, chán nản...

THỜI 3: THỞ RA bụng từ từ xẹp xuống, đẩy cơ hòanh lên cao hơn, các tạng phủ dồn lên,
các khoang liên sườn thu hẹp lại, thể tích lồng ngực giảm tối đa nhằm tống khí độc ô nhiễm CARBON DIOXIDE ra khỏi đáy phổi. Giúp cho tim và phổi họat động tốt hơn. Thở ra nếu có cố gắng thêm một chút, sẽ làm hưng phấn đối giao cảm, giúp tăng tiết INSULIN rất có lợi để chữa bệnh tiểu đường và có thể thay thế thuốc chích INSULIN từ ngoài vào cơ thể.

THỜI 4: NGƯNG THỞ tạo ra sự thay đổi ngược lại phản xạ sinh lý bình thường. Ngưng thở còn làm cho lượng CO2 trong máu tăng lên, có tác dụng kích thích trung tâm hô hấp ở hành tủy, điều khiển hít vào sâu hơn. Khi thở ra, ngưng thở kết hợp với nhíu hậu môn sẽ giúp cho lưu thông máu ở vùng tầng sinh môn được dễ dàng, vì vậy sẽ phòng và tránh được bệnh trĩ rất hiệu quả, hổ trợ cho việc hấp thu năng lượng âm và làm dễ dàng cho việc nâng khí nhằm bổ trợ cho thận thủy khí sung mãn. THỞ RA, NGƯNG THỞ [thời âm] thường áp dụng cho những người luôn nóng nảy, căng thẳng hoặc quá hưng phấn.

ÍCH LỢI THỞ 4 THỜI
1/ Cung cấp thêm nhiều oxy cho các tế bào, và tăng cường tuần hoàn não.
2/ Tăng cường hệ miễn dịch.
3/ Xoa bóp nội tạng.
4/ Nâng cao hiệu quả trong quá trình hô hấp.
5/ Tác động đến hệ thống tuần hoàn máu và bạch huyết, khiến những hệ thống nầy tạo ra những kháng thể để tiêu diệt vi trùng, vi khuẩn và những sinh vật khác trong cơ thể. Giúp cho ta tiêu trừ được một số bệnh kinh niên hay nhất thời.

PHƯƠNG PHÁP THỞ

TƯ THẾ CHUẨN BỊ: Nằm ngửa, hai chân thẳng, thả lỏng tự nhiên, tay trái xuôi theo thân, lòng bàn tay mở ngữa. Bàn tay phải đặt ở vùng bụng dưới. Ngón giữa tay phải đặt ở luân xa 3 [dưới rốn 3 phân]. Miệng khép nhẹ, lưỡi để tự nhiên. THỞ VÀO, THỞ RA BẰNG MŨI.

TRƯỚC KHI VÀO BÀI TẬP THỞ, HÃY TẬP BÀI ỔN ĐỊNH THÂN, TÂM.

NIỆM THẦM : Tôi đang theo dõi hơi thở...Tôi đang theo dõi hơi thở... Niệm liên tục.

TẬP TRUNG : Chú tâm vào vùng bụng dưới. Thời gian từ 3 đến 5 phút.
Bắt đầu bài tập thở bằng thở ra.

THỞ 2 THỜI : Thở vào , thở ra đếm 1...Thở vào, thở ra đếm 2...Thở 10 lần.

THỞ 3 THỜI : Thở vào, ngưng thở, thở ra đếm 1...Thở vào, ngưng thở, thở ra đếm 2...Thở 10 lần.

THỞ 4 THỜI : Thở vào, ngưng thở, thở ra, ngưng thở đếm 1...Thở vào, ngưng thở, thở ra, ngưng thở đếm 2...Thở 10 lần.

Kết thúc bài tập thở là bài tập THƯ GIÃN từ 3 đến 5 phút.

CHÚ Ý : KHÔNG NÊN THỞ 4 THỜI NGAY TỪ ĐẦU, VÌ THỞ NHƯ THẾ RẤT MỆT MÀ LẠI KHÔNG CÓ HIỆU QUẢ.

Monday, November 29, 2010

VẬN DỤNG YOGA TRONG ĐỜI SỐNG TÌNH DỤC

Yoga có nguồn gốc ở Ấn Độ, có lịch sử lâu đời hơn 5000 năm, là một trong 6 trường phái triết lý nỗi tiếng của Ấn Độ. Khởi nguồn của Yoga có 5 loại.
1/ BHAKTI YOGA: Là con đường sùng bái, sùng tín, hay tín ngưỡng.
2/ KARMA YOGA: Là con đường hành động.
3/ JNANA YOGA: Là con đường minh triết.
4/ RAJA YOGA: Là con đường giác ngộ, giải thoát.
5/ HATHA YOGA: Là con đường rèn luyện thể dục để tăng cường sinh lực.

HATHA YOGA phát triển sau cùng, hiện nay được nhiều người trên thế giới tập luyện và xem nó như là môn thề dục để rèn luyện sức khỏe. Theo kết quả tập luyện và nghiên cứu về HATHA YOGA, các nhà khoa học đã chứng minh rằng ngoài tác dụng nhất định trong việc giữ gìn vóc dáng, làm chậm dần sự lão hóa, giảm sự căng thẳng... Nó còn có tác dụng tạo ra sự khoái cảm và thăng hoa trong đời sống tình dục.

Sau nhiều năm tìm tòi, nghiên cứu và tập luyện. Hôm nay tôi được chia sẻ cùng quý vị một phương pháp MỚI NHẤT, nhằm cải thiện lại khả năng tình dục.

BÀI TẬP NẦY GỒM CÓ 8 ĐỘNG TÁC VÀ THỞ 3 THỜI DƯƠNG [ thở 3 thời dương là hít vào, ngưng thở, thở ra]

CHỐNG CHỈ ĐỊNH: CAO HUYẾT ÁP, TIM MẠCH.

Hơi thở [thần kinh thực vật]: Hít vào, ngưng thở... sẽ làm tăng sự khuyếch tán oxy vào máu, làm giãn nở các mạch máu,máu sẽ tràn đầy các tế bào và các mô, và lượng bọt khí NITRIC OXIDE li ti xuất hiện nhiều trong máu, chất nầy tác động lên đầu các nơron thần kinh, làm tăng trao đổi điện hóa giữa các dây thần kinh. NITRIC OXIDE là một hóa chất quan trọng có tác dụng rất tốt trong hoạt động làm cương dương[nam và nữ].

Động tác[thần kinh vận động]: Những động tác nầy sẽ làm tăng cường và mở rộng phạm vi hoạt động của cơ xương chậu và cơ mu cụt. Loại cơ có hình dáng cái võng nầy đặc biệt có cả nam lẫn nữ và có liên hệ mật thiết đến khả năng tạo ra sự khoái cảm.

HƯỚNG DẪN PHƯƠNG PHÁP TẬP LUYỆN

Bắt đầu vào bài tập.

Tư thế chuẩn bị: Nằm ngửa, hai chân thẳng tự nhiên. Hai cánh tay dang ngang, lòng bàn tay mở ngửa. Đầu, cổ và lưng thẳng.

Động tác 1/ Dao động trái, phải...

Thực hành:

Hít vô bụng nở- ngưng thở.

Chuyển động: Nâng 2 chân lên [ gót chân cách mặt đất 2 tấc] giữ yên một chút [để quá trình trao đổi chất được hiệu quả hơn]. Sau đó dao động qua trái, phải.

Thở ra: Từ từ hạ chân xuống về tư thế chuẩn bị, nằm nghĩ và thư giãn. Trong lúc thư giãn, hãy chú ý vào luân xa 2 [bộ phận sinh dục]

Động tác 2/ Dao động lên, xuống.
Động tác 3/ Dao động chéo chân.
Động tác 4/ Dao động co, duỗi.
Động tác 5/ Dao động 2 vòng tròn trong.
Động tác 6/ Dao động 2 vòng tròn ngoài.
Động tác 7/ Dao động ngược kim đồng hồ.
Động tác 8/ Dao động xuôi kim đồng hồ.

NHỮNG ĐIỀU CẦN GHI NHỚ TRONG LÚC TẬP LUYỆN.

1/ Tập khi bụng đói [không quá đói].
2/ Không quá cố gắng hít đầy bụng và ngưng thở quá lâu.
3/ Không nên tiếp tục tập khi cơ thể còn đang mệt.
4/ Mỗi động tác thực hiện từ 2 đến 5 lần.
5/ Dao động càng chậm càng có hiệu quả.
6/ Trong lúc tập, hãy quan sát và theo dõi mọi sự chuyển động của thân[ thân tâm hợp nhất]
7/ Trong lúc thư giãn, hãy chú ý vào luân xa 2 [sinh dục], Theo đông y thì Ý ĐÂU KHÍ ĐÓ, KHÍ ĐÂU HUYẾT ĐÓ.

NHỮNG THỨC ĂN CÓ LỢI VÀ LÀM TĂNG CƯỜNG SỰ HAM MUỐN TÌNH DỤC
Con tôm,con hàu, dâu tây, cà chua, chocolatte, rượu vang đỏ, chuối chín, cà rốt, gừng...

GHI CHÚ : Bài này được đăng theo yêu cầu của các hội viên. Bài tập nầy đã có dĩa ghi lại hình ảnh đầy đủ các phương pháp tập luyện. Đây là buổi báo cáo đề tài "VẬN DỤNG YOGA TRONG ĐỜI SỐNG TÌNH DỤC" của ông MAI VĂN NHƯ tại số 56/4 Nguyễn Thông Quận 3, TP.HCM.

Saturday, November 20, 2010

CON NGƯỜI, ÂM DƯƠNG VÀ TÍNH CÁCH

Trong mỗi con người, nếu thuộc tính DƯƠNG quá nhiều rất dễ sinh ra manh động, liều lĩnh, nóng nảy và thường khó thành công trong công việc. Nếu ÂM quá nhiều sẽ sinh ra ủy mị, không quyết đoán và thường làm lỡ mất cơ hội.

Với người DƯƠNG nhiều [LỰC ĐỘNG - tiếng Phạn RAJAS], khi lực nầy chiếm ưu thế trong tâm trí và cơ thể, ta thường trở nên kích động, nóng nảy, bồn chồn, lo lắng và thường rất khó giữ được bình tĩnh khi bị những nguyên nhân xấu tác động.

Với người ÂM nhiều [LỰC TĨNH – tiếng Phạn TAMAS], khi lực nầy chiếm ưu thế trong tâm trí và cơ thể, ta sẽ bị đần độn trí tuệ, thường buồn ngủ, mê muội, lơ đễnh, thiếu nghị lực và sự sáng tạo.

Người nào cân bằng ÂM DƯƠNG [LỰC TRI GIÁC – tiếng Phạn SATTVA], khi lực nầy chiếm ưu thế trong tâm trí và cơ thể, ta luôn luôn cảm nhận được sự an lạc, thanh thản thoải mái. Tâm trí ta dễ dàng hướng đến mức độ cao hơn của tâm thức.

Để giảm sự căng thẳng, nóng nảy và giúp cân bằng lại ÂM DƯƠNG. Tôi giới thiệu đến các bạn một phương pháp sau đây.

Thứ nhất: THỨC ĂN…
Thứ hai: THỞ ÂM
Thứ ba: TẬP TRUNG

THỨC ĂN HẤP THU NHIỀU NĂNG LƯỢNG ÂM
[dành cho người thường nóng nảy]
Thực vật: CỦ, như củ khoai lang, khoai tây, khoai mì, khoai môn, khoai từ…
Động vật: CÁ, như cá lóc, cá rô, cá bống kèo, cá bống dừa. .

THỞ ÂM
Thở 2 thời: THỞ RA DÀI GẤP ĐÔI HÍT VÀO.
Thở 3 thời; THỞ RA, NGƯNG THỞ, HÍT VÀO… [thở ra dài, ngưng thở ngắn, hít vào ngắn]…

Lợi ích thở 2 thời và 3 thời ÂM
THẦN KINH TRUNG ƯƠNG: Làm giảm sự căng thẳng. Sản sinh nội tiết tố MELATONIN, làm êm dịu hệ thần kinh trung ương, dần dần tiến tới kiểm soát cảm xúc.
THẦN KINH THỰC VẬT: Làm hưng phấn đối giao cảm và ức chế giao cảm. Làm cho tim đập chậm lại, tăng lượng máu cho não và tim. Giúp tăng nội tiết INSULIN rất có lợi đễ chữa bệnh tiểu đường. Bằng phương pháp thở nầy sẽ thay thế thuốc chích INSULIN từ ngoài vào cơ thể.
HÔ HẤP, TIÊU HÓA, BÀI TIẾT: Thở… kết hợp với động tác cúi, ngửa… sẽ tống các khí độc ô nhiễm CARBON DIOXIDE ra khỏi đáy phổi, hốc phổi. Nơi khí dơ thường dễ đóng lại và làm cho buồng phổi trống trải để tiếp đón luồng không khí trong lành theo hơi thở vào.
Làm tăng cường nhu động ruột, kích thích tiêu hóa, giúp mau đói và ăn ngon. Đặc biệt đối với người bị suyễn, bệnh phổi tắt nghẻn mản tính cũng cần phải tập luyện thì thở ra dài hơn hít vào.

TẬP TRUNG
Vào THIỀN, hãy tập trung vào luân xa 3 [MANIPURA] ÂM… dưới rốn 3 phân.
Có 7 luân xa : Từ 1 đến 3 là ÂM, từ 5 đến 7 là DƯƠNG, luân xa 4 ÂM DƯƠNG.
Theo y học cổ truyền "THẦN ĐÂU KHÍ ĐÓ". Vì vậy khi tập trung vào vùng bụng dưới [luân xa 3] thì khí huyết sẽ lưu chuyển về phía dưới, làm nhẹ áp lực ở vùng đầu, và làm êm dịu thần kinh.

HÃY NHỚ ĐẾN VÙNG BỤNG DƯỚI TRONG NHỮNG TRƯỜNG HỢP SAU ĐÂY
- TRƯỚC KHI NGỦ
- NGHỈ GIỮA GIỜ
- CHỜ ĐỢI
- PHỎNG VẤN
- TRƯỚC KHI BƯỚC VÀO PHÒNG THI
- KHI CƠN GIẬN VỪA MỚI BẮT ĐẦU.

Thursday, April 17, 2008

CAI THUỐC LÁ BẰNG YOGA

Bạn đã thấy tác hại của thuốc lá đối với sức khỏe?

Bạn đã có ý định từ bỏ thuốc lá mà không biết phải làm thế nào?

Bài viết dưới đây do chính tôi, người đã từng hút thuốc trên 35 năm, một ngày hút 2 gói (40 điếu) đã áp dụng phương pháp tự kỷ ám thị và thở 3 thời âm để cai thuốc lá. Hiện nay tôi đã bỏ thuốc lá được 6 năm. Phương pháp này rất đơn giản, dễ thực hành, không tốn kém tiền bạc, chỉ cần một ít thời gian và sự quyết tâm là bạn sẽ thành công ngay.

Theo kinh nghiệm bản thân và đã từng hướng dẫn nhiều người, chỉ có 3 ngày thôi là các bạn sẽ bỏ được thuốc lá. Các bạn hãy tin tôi đi. Đây là sự thật.

CHUẨN BỊ TRƯỚC KHI BỎ THUỐC
1. Bạn không nên uống cà phê ở quán vì ở đó có rất nhiều người hút thuốc, rất dễ kích thích sự thèm thuốc của bạn.
2. Không nên để thuốc lá ở trong người vì đã cai thuốc lá không lý do gì để gói thuốc tồn tại ở trong bạn. Hãy đoạn tuyệt với nó.
3. Bỏ thuốc lá cần phải có sự quyết tâm không dễ dãi với chính mình, không phải bỏ dần dần mà phải quyết tâm đoạn tuyệt với thuốc lá.

TỰ KỶ ÁM THỊ

Khi cơn thèm thuốc xuất hiện, bạn không nên đáp ứng mà phải cương quyết không hút thuốc và tự kỷ ám thị như sau: TÔI QUYẾT TÂM BỎ THUỐC LÁ!

Bạn hãy lặp đi lặp lại câu này trong trí não (Không đọc thành tiếng) cho đến khi quên hẳn sự thèm thuốc theo kinh nghiệm của tôi thời gian từ 2-3 phút là đã cắt đứt sự thèm thuốc.

Với bài tự kỷ ám thị này, bạn đã thành công một nửa rồi đấy. Và khi cắt đứt sự thèm thuốc, bạn nên áp dụng phương pháp thở sau đây:

THỞ 3 THỜI ÂM
Tư thế ngồi hoặc nằm, mắt khép nhẹ.
Thở bụng, đó là phương pháp thở trong bài tập này.
  1. THỞ 2 THỜI
    Thở ra 5 giây
    Hít vào 5 giây
    Tập 10 lần (thở ra, hít vào đếm 1)

  2. THỞ 2 THỜI ÂM DÀI HƠN DƯƠNG
    Thở bụng và ngực
    Thở ra 10 giây (5 giây bụng, 5 giây ngực)
    Hít vào 5 giây.
    Tập 10 lần.

  3. THỞ 3 THỜI BỤNG VÀ NGỰC
    Thở ra 10 giây (5 giây bụng, 5 giây ngực)
    Ngưng thở 5 giây
    Hít vào 5 giây
    Tập 10 lần
  • + Bạn phải thở liên tục từ bài 1 đến bài 3.
    + Bạn nên dành thời gian này cho chính bạn và không bị ai quấy rầy.
  • Tác dụng của bài tập:
    + Tự kỷ ám thị: giúp ta ngăn chặn sự thèm thuốc.
    + Thở 3 thời âm: thanh lọc nội tạng, tác động nhiều nhất là vùng phổi và đáy phổi qua phương pháp thở bụng và ngực.
Chúc các bạn thành công.