Sunday, April 8, 2012

THẦY CÚNG LÊN NGÔI, PHƯƠNG TIỆN ĐỘ SANH BỊ LỢI DỤNG ĐỂ KIẾM TIỀN


Trong Phật giáo không có thầy cúng, nhưng do trong quá trình du nhập vào một vùng mới, vì tính dung hoà và giản dị, Phật giáo đã chấp nhận những hình thức cúng bái ngẫu tượng và phong tục thờ cúng địa phương, vì thế những loại hình cúng bái do nhu cầu xã hội bắt đầu bén rễ.

Thầy cúng mượn nhiều hình thức để thu hút sự chú ý và mở rộng dịch vụ tín ngưỡng thờ cúng và phương thức sinh nhai của mình một cách hiệu quả hơn, nên đã bỏ quên và bất chấp sự suy thoái đạo đức và tinh thần xuất gia giải thoát của một tu sĩ. Trong đó có nhiều hạng thầy cúng mang hình thức một tín ngưỡng địa phưong, hay của một tôn giáo khác, trong đó điển hình là của Phật giáo và Đạo giáo.

Trong nhiều thời kì đen tối của Phật giáo thì cũng do thầy cúng gây ra, khi họ đã đưa hình thức cúng vái vào công việc tâm linh để vận hành thế giới của họ thì sự đảo lộn xã hội là một điều chắc chắn, đạo đức cũng từ đó suy đồi, vì bản thân của sự cúng vái không giải quyết một sự thật nào cả, mặt dù có khi được xem là một hình thức nghi lễ tôn giáo hay an ủi người sống, tất cả điều bị lầm lẫn, lầm lẫn ở đây là vô tình đẩy xã hội rơi vào tay của tà giáo. Mà như chúng ta biết, ngày xưa khi xã hộị và trật tự xã hội bị rơi vào tà giáo thì kết quả xã hội ấy đầy thảm hại, mà con người trong xã hội ấy muốn vựt dậy cũng khó.

Hiện nay, thầy cúng hầu hết họ đều tập trung ở đô thị mà chẳng thèm đến vùng nông thôn nghèo khó, vì ở đó không có ai mời cúng. Đồng thời khi xã hội được bày biện bởi sự cúng cấp thì cũng sinh ra nhu cầu của nó, vì thế xã hội cũng chỉ cần thầy cúng là đủ. Vì vậy vai trò của chánh giáo dễ bị đánh tráo, hiểu nhầm và dễ bị kẻ lợi dụng gây tai hại cho xã hội và cho Phật giáo. Hãy nhìn vào Phật giáo Hàn quốc là một ví dụ điển hình, Phật giáo chính thống không đủ sức mạnh để đẩy lùi lực lượng thầy cúng ở đây, đã có gia đình và mọc rễ trong cảnh chùa chiền.

Hơn thế  nữa, hầu hết những chức sắc tôn giáo đều do họ  nắm giữ, bởi những lí do rất đơn giản mà  xã hội đã tạo nên, đó là giàu có về  tiền bạc, sở hữu về vật chất, truyền bá mê tín và những trang phục đắt tiền. Ngoài ra cũng hơn 90% chùa chiền đều do họ nắm giữ cương vị trú trì, để dễ dàng hoạt động phục vụ tín ngưỡng cúng vái.

Ở trong chùa, một tu sĩ mới nhập môn cần phải trải qua các thời kì  đi cúng, đến nỗi không cần học cũng biết nghề, vì sự lập đi lập lại quá nhiều, đến nỗi không còn thời gian để tu học và thực hành. Rồi từ đó họ nghĩ rằng đi cúng cũng là một cách hành trì. Thật nguy hại hết sức.

Thế  rồi Giáo hội khi cần đến cơ sở hạ  tầng để phục vụ cho giáo dục thì hỡi ôi không còn cơ sở nữa, mà muốn có cơ  sở mới thì không đơn giản tí nào. Một cơ sở Giáo hội do bởi một lí do khách quan tạo thành một ngôi chùa, thì từ đó không còn cơ hội để trở lại mục đích ban đầu mà trở thành một trung tâm phục vụ việc cúng vái, chánh điện làm nơi thờ các loại hình tín ngưỡng dân gian, nhà linh nhà cốt ngênh ngang, suốt ngày pháp hội, chẳng thấy một từ giáo lí, mặt dù đọc trong bài cúng thì ngôn từ bằng chữ tàu dù có ngụ ý Phật pháp cũng chỉ là bài ca bài thán sơ sài.

Lại nữa, khi xã hội được vận hành bởi mục đích vật chất thì sức mạnh của nó là tiền bạc, những thứ này vốn tự con người tạo ra chứ  không có tội gì cả, là phương tiện trao đổi, thể hiện tính văn minh của con người, thế nhưng nếu không biết cách sử dụng vật chất và tiền bạc, con người sẽ trở thành kẻ nô lệ. Trong bất cứ môi trường nào, kể cả trong tôn giáo, khi thầy cúng đã nắm toàn bộ cơ sở  vật chất, có sức mạnh về tiền bạc, có  chức có quyền thì dĩ nhiên sự điều hành của họ cũng theo thiên hướng cúng tế.

Một thực tế cho thấy, hầu hết các lễ hội trong Phật giáo đều một hình thức như nhau, thí dụ, một hội thảo khoa học cho Phật giáo hình thức chẳng khác mấy một đám tang của tu sĩ, hoặc một buổi lễ hội tín ngưỡng cũng chẳng khác mấy một lễ chẫn tế. Nội dung không có gì nêu bật ý nghĩa của tổ chức, ngược lại vai trò của “thầy cúng lên ngôi”. Vì trong chương trình của những buổi lễ này toàn là nghi với lễ, đón với rước, lọng che kèn trống om xòm. Mở đầu cho một buổi lễ như vậy bằng một lễ “hưng tác thượng đại tràng phan”, thì thật còn gì là một buổi hội thảo khoa học. Kết thúc chương trình là “đăng đàn chẩn tế”. Thử hỏi có ai đặt vấn đề này với Giáo hội với các chức sắc mà đã được gọi là “tôn sư”, nhưng thực tế họ là những “pháp sư” cúng dạo.

Một sự  thật cay đắng là khi đi tham dự lễ thì  cho dù là vị đó ở địa vị  nào cũng phải đến tham dự, hoặc bằng phương tiện tự túc, hoặc tập trung để cùng đi bằng phương tiện số đông, thế nhưng thầy cúng thì Giáo hội phải đón rước bằng xe hơi, đến từng chùa, lo tiếp  đón long trọng. Chờ cho những bậc thầy cúng này xong phần tiếp đón, vớ tất giày hia, mũ mão đường bệ, y áo gấm lụa, thừ thừ theo kèn trống rinh rang “quang lâm” thì cũng đã quá trưa, vừa mất thời gian, vừa tốn kém, vừa không có lợi gì cho việc tu tập giải thoát.

Trong thực tế, khi phát tâm xuất gia người tu sĩ Phật giáo mong muốn có được một cơ hội học hỏi và tu học cho mục đích giải thoát, thế nhưng do nhu cầu xã hội và hình thức cúng vái đã biến chuyển phẩm chất của họ, rồi họ bỏ học sang đi cúng, thấy lợi trước mắt chứ không thấy được giá trị của con đường giải thoát mà Đức Phật đã dạy. Có lúc không cần tu học mà bước vào con đường đi cúng lấy tiền, có lúc bỏ học để đi cúng, hoặc chuyển hẳn sang nghề đi cúng, nhưng họ không hề hay biết, hoặc không may mắn vào xuất gia với thấy cúng hoặc trong chùa chuyên đi cúng, vì vậy mục đích của họ dần dần bị biến tướng và quên hẳn lí tưởng giải thoát. Nhưng tệ hại nhất là hình thành một ý thức hệ đi cúng, có vai vế và có địa vị trong giáo hội tại địa phương. Đây là một trong những tai hại của Phật giáo, thậm chí làm cho vai trò tôn quí của sự giải thoát bị lu mờ, Phật giáo lâm vào cảnh thế tục hoá.

Sự lạm dụng hình thức cũng như các hoạt động của thầy cúng đã đi đến sự xáo trộn trật tự  trong Phật giáo. Việc đi cúng được họ gọi là làm Phật sự hay Pháp sự, đi cúng được cho là phương pháp hành, rồi từ đó chê bai hiềm khích tu sĩ biết học, biết tu và biết cố gắng bằng những ngôn từ miệt thị như “tiến sĩ” không bằng “tiến linh”, “đi tu không bằng đi cúng”… Còn trao đổi và nói chuyện thì ngôn ngữ của họ khỏi phải bàn…

Về từ  ngữ “thầy cúng”, Tự Điển Việt Nam của soạn giả Lê Ngọc Trụ giải thích là “tiếng gọi một cách mỉa mai những thầy chùa chuyên làm đám ăn tiền chứ không thiết gì đến kinh kệ, giáo lý nhà Phật”. Hiện nay thì số thầy cúng chiếm được chùa, cuộc sống hưởng thụ vật chất, trong lúc đó tu sĩ quan tâm đến đạo Pháp thì bị chèn ép, lại thiếu cơ sở để làm Phật sự. Thời gian dành cho việc tụng đọc kinh điển Phât giáo của những thầy cúng rất ít, họ toàn lợi dụng kinh điển của Đức Phật là “Phật sự siêu độ người chết”, cho rằng đây là Phật sự. Cho nên vừa nghe nói đến tiếng “Phật sự” là rất dễ sinh ra hiểu lầm. Những việc siêu độ vong linh này ở trong Phật giáo xuất hiện rất trễ ..., rất trễ, thời xưa ở Ấn Ðộ chẳng có, sau khi truyền đến Trung quốc, lúc ban đầu cũng chẳng có,, nhưng sau đó do ảnh hưởng Lão giáo mà phát triển và thịnh hành, rồi lan rộng sang Việt Nam.

Chúng ta cần nhận định rõ vấn đề này, bởi vì đây là một vai trò của Phật giáo, quyết không để mê tín tràn lan, vừa hại cho đạo mà cũng vừa ai cho đời. Một tu sĩ Phật giáo đã cạo bỏ râu tóc, mình mặc áo cà sa, là quyết định cuộc đời vì mục đích giải thoát và cứu độ chúng sinh, chứ không có hình thức mang hia đội mão, áo cà sa hoại sắc thô bố chứ không phải gấm tía hài son. Đừng ham danh lợi mà phải mượn nón này mũ nọ, hài son y tía, mà thu hút hoặc tô thêm uy nghi. Đức Phật dạy uy nghi có được là nhờ vào sự giữ gìn Giới luật, đức hạnh là nhờ vào sự trang nghiêm của hành vi đạo đức, chứ không có cái gì tô vẽ nên được.

Thiết nghĩ, Phật giáo vốn chẳng có những việc như thế, nhưng vì Đạo Phật là đạo từ bi, mà phương tiện để độ chúng sanh từ mê sang ngộ, mà Phật giáo từ buổi đầu đã chấp nhận những hình thức tín ngưỡng dân gian địa phương mà truyền bá chánh Pháp. Nhờ những hoạt động uyển chuyển như vậy mà Phật giáo dần dần dạy cho người dân biết được nhân quả, làm lành tránh dữ, ngõ hầu đem lại cuộc sống an lạc hạnh phúc cho người dân. Do đó, dù đạo Phật không chủ trương cúng bái, cầu xin, nhưng khi tới đại phương nào thì cũng tùy thuận chúng sinh mà làm lễ bái cho dân chúng, rồi sẽ nhân đó mà giảng giáo lý nhà Phật, rất minh bạch rõ ràng, rồi còn chỉ cho họ con đường đi đến giác ngộ giải thoát, và chứng đắt đồng với quả vị của Đức Phật.

Nhận thấy  đây là một vấn đề cần phải được xem xét, đề nghị Giáo hội cần phải rõ ràng trong vấn đề tu sĩ và thầy cúng, chớ có  lẫn lộn mà hại cho Phật giáo. Việc nghi lễ cũng là việc cần làm tuy nhiêm đừng để bị lạm dụng không những tai  hại cho Phật  giáo mà xã hội cũng bị ảnh hưởng lây. Cần phải đặt vai trò giáo dục Phật giáo và đào tạo Tăng tài, nâng cao vai trò ý thức việc đi cúng hoặc cấp phát chứng chỉ mới được đi cúng. Những cơ sở xưa là cơ sở của Giáo hội mà nay do các thầy cúng trú trì thì phải cần cử tu sĩ đến thay đổi hoặc làm các cơ sở phục vụ cho mục đích số đông. Việc làm cần thiết hơn nữa là cải cách nghi lễ, những yếu tố có thiên hướng đi xa với ý nghĩa thực tế thì bỏ, đưa các hình thức cầu nguyện đúng đắn.

LỢI DỤNG KHUNG CẢNH TRANG NGHIÊM CỦA NHÀ CHÙA BÁN PHẬT BẰNG NGỌC GIÁ... TRÊN TRỜI

Lợi dụng tâm lý tin vào sự may mắn nơi cửa Phật của khách thập phương, nhiều người lạm dụng khung cảnh trang nghiêm của nhà chùa để bán những vật phật phong thuỷ bằng ngọc, đá cẩm thạch, thạch anh... với giá cao để thu lời. 

Chi bạc triệu mua vòng ngọc chờ... kiểm định

Ngày rằm, tôi và cô bạn đến chùa Thiên Niên (đường lạc Long Quân, quận Tây Hồ, Hà Nội) vãn cảnh, đập vào mắt là cảnh tượng một đôi trai gái đang bày bán ngọc phong thuỷ ngay phía trong cổng chùa. Đồ nghề của họ chỉ là một chiếc bàn gỗ nhỏ và những món ngọc được bày bán trên đó. Người bán, kẻ mua tấp nập.

Thấy tôi ghé vào, người bán đon đả chào mời: "Mua lộc đầu năm đi em. Ngọc của chị bán có giấy kiểm định chất lượng đàng hoàng". Sau một hồi được đôi vợ chồng trẻ tư vấn, từng loại ngọc, hợp với từng mệnh, có khả năng chữa... bách bệnh, nhiều người đã không ngại móc hầu bao mua một vài món đồ phong thuỷ. Nhưng điều đáng nói, những món ngọc ấy được bán với giá "cắt cổ". Chỉ gần nửa tiếng đứng quan sát, tôi bắt gặp 4 vị khách đứng mua ngọc phong thuỷ. Nhẩm tính cũng lên tới hơn 20 triệu đồng.

Tôi quá ngạc nhiên và không thể mường tượng vì sao nhiều người lại có thể tiêu tiền không đắn đo. Anh Quang Minh (Ngã Tư Sở, Hà Nội) cầm trên tay 2 món ngọc với giá gần chục triệu đồng hớn hở nói: "Mua lộc ở chùa là may mắn nhất đấy. Ông Di lạc này tôi mua về trưng bày trên xe ô tô có giá 5,5 triệu đồng, Quan âm Bồ tát có giá 4,4 triệu đồng".

Thấy anh Minh có vẻ rất tin vào chuyện mua may nơi cửa Phật, tôi gặng hỏi: "Ngọc này ai dám chắc ngọc xịn?". Anh Minh quả quyết: "Ngọc có giấy kiểm định, họ lấy số điện thoại của tôi rồi, mấy hôm nữa họ mang giấy kiểm định đến tận nhà!?". Anh Minh còn nói với tôi rằng: "Cô mua ngọc lấy may. Nếu mua, người ta sẽ nhờ nhà chùa 'thỉnh' giúp, như thế ngọc mới có linh nghiệm".

Cẩn trọng với những lời rao

Đem câu chuyện ngọc, đá cẩm thạch, thạch anh... được rao bán tại các đình, chùa đến các chuyên gia đá quý, chúng tôi nhận được câu trả lời: "Đó chỉ là những chiêu lừa của những kẻ bịp bợm". Theo ông Hoàng Nguyên - nhà sưu tập ngọc tại Hà Nội, các sản phẩm được quảng cáo, như ngọc phỉ thuý đều có giá, từ vài chục triệu lên tới vài trăm triệu đồng chứ không có giá "bèo" như vẫn rao bán ở một số cổng chùa.

Theo cách phân tích của ông Nguyên, ngay cả những công ty lớn cũng quảng cáo chưa đúng sự thật. Những sản phẩm được gọi là phỉ thuý chỉ có thể có dính một chút phỉ thuý chứ không thể coi toàn bộ sản phẩm là có chất liệu từ phỉ thuý. Họ post lên mạng những tấm hình cẩm thạch na ná ngọc phỉ thuý. Khi những nhà chuyên môn lên tiếng thì họ bao biện hàng của công ty chúng tôi có màu tương tự như phỉ thuý. Còn những loại ngọc, phỉ thuý được bán ở các đền, chùa thì chất lượng... trên trời.

Từ câu chuyện ngọc phỉ thuý, ông Nguyên quả quyết các loại đá cẩm thạch, thạch anh ở chùa Thiên Niên quảng cáo hàng nhập đều là hàng rởm.

Vậy làm thế nào để biết được một sản phẩm có thực sự là ngọc, thạch anh, cẩm thạch hay không? Các chuyên gia cho rằng việc chơi ngọc rất khó, người chơi muốn có được một sản phẩm thực thụ thì cần có thời gian nghiên cứu và đôi khi phải trả giá bằng tiền bạc mới rút ra được các kinh nghiệm xương máu. Theo ông Nguyên, để biết chính xác chỉ có cách giám định bằng máy móc.

Nhiều người kinh doanh đá quý cũng đưa ra cảnh báo hiện trên thị trường đã xuất hiện loại ngọc được dùng công nghệ chiếu tia tạo màu và tạo ánh sáng trong cho sản phẩm, sau đó gắn cho chúng nhiều ngôn từ mỹ miều và thổi giá sản phẩm lên cao hàng chục, thậm chí hàng trăm lần giá trị thực.

Trên trang daquy.com, các chuyên gia tư vấn, với các loại đá quý, người mua nên có những hiểu biết nhất định ít nhất về giá  loại đá mình muốn mua. Có những loại đá giá trị rất bình thường như thạch anh trắng hay hồng, ám khói, caxêđôn hay thiên thạch. Bình thường ở đây nghĩa là bạn có thể bỏ ra một khoản tiền nhỏ mà vẫn có thể sở hữu nó chứ không phải chi ra cả chục triệu đồng. Các loại đá mắc tiền nhất gồm ruby, topal, saphire, emerald. Các loại đá nhân tạo có giá trị cực kỳ rẻ. Nếu bạn mua mặt dây chuyền thì 90% giá trị ở công người chế tạo ra mẫu đóỏ công thợ bạc, thợ inox làm khoen và tạo kiểu và lượng kim loại tạo nên viên đá. Một viên đá nhân tạo đẹp lung linh đủ màu sắc chỉ có giá từ 20.000 - 100.000 đồng.

Dễ là đồ rởm
Theo các chuyên gia, chứng nhận kiểm định của sản phẩm  là bằng chứng của việc sản phẩm đó được mua là hàng xịn hay rởm. Mỗi sản phẩm khi kiểm định sẽ mang một mã số nhất định. Khi bạn đưa mã số này đến các trung tâm họ sẽ cho bạn thêm các thông tin về đá quý, ví dụ màu sắc, độ trong, kiểu cắt và những phương pháp giám định được áp dụng. Do đó, nếu bạn thấy tất cả các sản phẩm của người bán đều mang cùng một mã số, thì rõ ràng họ đã dùng công nghệ làm giả vỉ ép kiểm định.

Saturday, April 7, 2012

ĐỪNG LÀM PHẬT KHÓC

Giao Hưởng

Đó là “tiền công đức” do thập phương bá tánh đến tiến cúng với mục đích cầu phước và nhằm để đóng góp xây dựng, trùng tu, bảo vệ di tích, danh lam thắng cảnh như đền Hùng, chùa Hương chẳng hạn. Thế nhưng, những đồng tiền này có nhiều trường hợp bị thất thoát hoặc bị đánh cắp, bị sử dụng không đúng mục đích.

Việc xào xáo vì đồng tiền diễn ra hằng ngày ngoài xã hội là sự thường, nhưng ở đây đồng tiền đã chen vào chốn đền chùa thiêng liêng, vào các di tích của đất nước.
Đó là “tiền công đức” do thập phương bá tánh đến tiến cúng với mục đích cầu phước và nhằm để đóng góp xây dựng, trùng tu, bảo vệ di tích, danh lam thắng cảnh như đền Hùng, chùa Hương chẳng hạn. Thế nhưng, những đồng tiền này có nhiều trường hợp bị thất thoát hoặc bị đánh cắp, bị sử dụng không đúng mục đích.

Đứng về mặt “đời”, “tiền công đức” là một loại công quỹ cần được công khai số thu và cách chi dùng rõ ràng. Nếu công quỹ này bị lạm dụng, mất mát, những vị có chức sắc trong công tác quản lý phải gánh trách nhiệm.

Đứng về mặt “đạo”, “tiền công đức” cúng dường vào các đền chùa phải được dùng vào việc ích lợi chung cho nhà chùa và xã hội, như tu bổ, sửa chữa đền điện, tăng phòng và tham gia từ thiện xã hội, giúp đỡ người nghèo khổ neo đơn, bệnh tật...

Song một số trường hợp cho thấy “tiền công đức” ấy từ hàng trăm nghìn, hàng trăm triệu đến cả tỉ đồng, đã bị đánh cắp, như ở chùa Hàm Long mất tới 4 tỉ đồng, một cán bộ xã ở Hải Dương đã biển thủ tiền công đức ở khu di tích An Phụ 300 triệu đồng...

Trong nhà chùa thường nhắc câu Phật dạy đại ý “một hạt gạo của người đem đến cúng dường nặng như núi Tu Di - ăn gạo ấy tu hành không rõ đạo thì kiếp sau phải mang lông đội sừng mà trả”. Bốn tiếng “mang lông đội sừng” có nghĩa là phải đầu thai làm súc sinh, làm các loài vật như heo, gà, ngỗng, vịt (loài có lông) hoặc làm trâu, dê (loài có sừng) để trả nợ cho những thí chủ đã cúng dường “tiền công đức”.

Luật “đời” về việc biển thủ công quỹ tất nhiên phải bị xử lý, thậm chí bị khởi tố như trường hợp cán bộ xã ở Hải Dương nói trên. Còn về “đạo” có luật nhân quả bất biến, phải “mang lông đội sừng” vậy. Dù người đó là hòa thượng, là thượng tọa, là đại đức tu hành lâu năm mà xâm phạm “tiền công đức” vẫn rơi vào địa ngục như thường. Vì sao? Vì người tu hành vẫn phải chịu sự tác động của luật nhân quả. Và vì lẽ thập phương thí chủ đến cúng dường bằng vật thực như gạo cơm rau quả, dầu thắp thuốc men, hoặc bằng “tiền công đức” với mong muốn được sử dụng số tài vật ấy nhằm tạo chút phước báu cho mình. Nhưng khi biết tiền mình cúng dường bị rơi vào túi riêng của ai đó, hoặc bị mất mát, bị đánh cắp, bị xài phí ngoài mục đích, thì họ không buồn sao được. 

Nhưng nói cho cùng, họ cũng không buồn bằng đức Phật khi nghe Ma vương bảo rằng vào thời mạt pháp Ma vương sẽ cho quyến thuộc và đệ tử của mình cạo trọc đầu, mặc áo cà sa, giả dạng vào chùa tu hành để phá hoại Phật pháp, tựa như một loại trùng sống trong thân sư tử để “ăn thịt sư tử”. Nghe vậy, đức Phật từ bi im lặng và rơi nước mắt. Đó là lần đầu tiên chúng tôi được biết về nguyên do đức Phật đã khóc khi ngài còn tại thế. Đến nay, những hiện tượng không tốt liên quan đến “tiền công đức” khiến nhiều người lo lắng. Nếu là người quản lý di tích hãy có giải pháp chặt chẽ hơn nữa. Nếu là các vị chức sắc ở đền chùa, mong hãy đừng để “tiền công đức” đi sai mục đích phước thiện và hơn nữa - xin đừng làm Phật khóc...

Sunday, March 11, 2012

HT TỊNH KHÔNG CHÍNH THỨC TRẢ LỜI NHỮNG HIỂU LẦM VỀ DỰ BÁO ĐẠI NẠN NĂM 2012


Một số thông tin cho rằng HT Tịnh không nói về ngày tận thế năm 12-2012. Vậy sự việc này ra sao xin mời quý đạo hữu cùng nghe HT. Tịnh Không chính thức trả lời những hiểu lầm về dự báo đại nạn năm 2012.

Câu hỏi số 1: Có một đồng tu tự ý trích đoạn từ tập đĩa này, rút gọn lại thành 1 đĩa, lưu truyền rộng khắp.

HT Tịnh Không trả lời: Đây không phải là một việc tốt, không nên làm như vậy, muốn lưu truyền thì phải lưu truyền trước sau đầy đủ, bởi vì nếu như trước sau người xem đều xem qua hết, thì sẽ không có vấn đề gì xảy ra. Cho nên việc này là thuộc về trích dẫn cắt xén, chỉ nghe cái đoạn đó mà những đoạn trước và sau đều không biết, cho nên sẽ sanh ra một số hiểu lầm. Nếu bạn nghe trọn vẹn qua hết một lượt thì vấn đề được giải quyết rồi.

Sự việc này xảy ra vì cho rằng ngày 21 tháng 12 năm 2012 tai nạn “nhất định” sẽ xảy ra. Tôi không hề nói như vậy, tôi trước giờ không hề dám nói từ "nhất định", tôi chỉ nói tôi đã xem qua rất nhiều tin tức bên ngoài nói về việc này, nói là có khả năng xảy tai nạn mà thôi. Thế nhưng dù tin tức bên ngoài nói như vậy, tôi cũng không cho là quan trọng, tại vì sao? Phật đã nói với chúng ta: Pháp vốn dĩ là không cố định, không có định pháp, tại vì sao không có định pháp? Bất cứ sự việc gì trên thế giới đều đang thay đổi mỗi ngày, không có gì là bất biến.

Vận mạng của con người cũng là như vậy, các vị xem “Liễu Phàm Tứ Huấn” thì liền biết được, tiên sinh Viên Liễu Phàm lúc 15 tuổi đã được Khổng tiên sinh đoán mạng rất chính xác, đoán đúng được nhiều năm, đoán cuộc đời ông khi ông đến 53 tuổi thì mạng chung. Trong khoảng 20 năm liên tiếp, mỗi năm tiên sinh Liễu Phàm đều có trải nghiệm nhiều sự việc hoàn toàn đúng với lời tiên đoán của Khổng tiên sinh cho nên tâm lý của ông buông xuôi, không khởi một ý niệm nào, ông nói tôi có ý niệm cũng không ích gì, vận mạng đã định rồi.
Vận mạng từ do đâu mà có? Do đời trước tu mà được, trên thực tế mỗi ngày vận mạng của chúng ta cũng đang có sự tăng giảm, thêm bớt. Khởi lên một niệm thiện thì vận mạng của bạn được thêm vào một điểm tốt, khởi lên một niệm ác thì bị giảm đi một điểm, đại ý là như vậy, nó ngày ngày có thêm bớt cộng trừ, bạn làm sao có thể nói nó là "nhất định" được chứ? Phật cũng không thể nói nhất định, cái đạo lý này chúng ta phải hiểu.

Hiện tại, các nhà khoa học ngành vật lý lượng tử đã phát hiện ra một số bí mật của vũ trụ, đã báo cáo với chúng ta, chúng ta sau khi xem rồi, nhận thấy báo cáo của họ hoàn toàn tương đồng với những gì trên kinh Phật đã nói, trong đó có một nguyên tắc chung, chính là không có định pháp, Phật đã nói: "Tất cả pháp từ tâm tưởng sanh". Hiện tại khoa học gia lượng tử đã chứng minh. Cái tâm tưởng đó trước một giây cùng sau một giây là không như nhau, thì bạn làm sao có thể nói là "nhất định"? Cách nói khẳng định như vậy thì đã sai quá nghiêm trọng rồi, chúng ta phải biết mọi thứ mỗi ngày đều đang thay đổi.

Tai nạn đó từ nơi nào mà sanh ra? Là từ nơi ý niệm bất thiện mà tạo thành. Chúng ta một niệm hướng thiện, tai nạn liền được hóa giải rồi. Cho nên năm trước có mấy vị khoa học gia tổ chức hội nghị ở Sydney, học viện của chúng ta có phái 8 đồng tu đến tham gia, pháp sư Định Hoằng cũng có tham gia hội nghị này, nghe qua báo cáo của họ. Ngày đầu tiên thì nghe qua báo cáo những thành tựu đạt được của các chuyên gia vật lý lượng tử, suốt ngày hôm sau thì chuyên đề thảo luận vấn đề của năm 2012, đến sau cùng là do một vị tiến sĩ Hoa Kỳ làm báo cáo tổng kết.

Khi tổng kết họ nói với chúng ta, năm 2012 không phải là ngày tàn của thế giới, ngày 21 tháng 12 không phải là ngày tận thế, hy vọng cư dân trên địa cầu từ nay đến thời điểm đó có thể thức tỉnh, mọi người đều có thể làm đến được "bỏ ác dương thiện, cải tà quy chánh, đoan chánh tâm niệm", tai nạn này liền sẽ không còn, liền có thể hóa giải. Cái đạo lý này là căn cứ từ lý luận của lượng tử học mà biết được, chính là tất cả pháp, giống như Phật đã nói với chúng ta: "Tất cả pháp từ tâm tưởng sanh", nó là từ ý niệm, một niệm ác của chúng ta khởi lên là khởi nguồn cho tai nạn xảy ra, khi một niệm thiện khởi lên, tai nạn này liền không có, hoàn toàn giống như Phật pháp đã nói.

Cho nên không thể nói "nhất định" có thể xảy ra, nói "nhất định" xảy ra ở vào mức độ nào đó cũng đều không thể nói, mỗi ngày đều có tăng giảm thêm bớt. Nếu như cái niệm ác này của chúng ta mà quá nhiều thì tai nạn này có thể sẽ xảy ra sớm hơn, không phải là ở vào ngày hôm đó, có thể sớm hơn nửa năm, có thể sớm hơn mấy tháng v.v…Ngược lại, nếu như khi niệm thiện của chúng ta nhiều, các ác niệm bị đè phục, vậy thì tai nạn sẽ bị đẩy lùi, có thể lùi lại vài năm, lùi lại mười mấy năm, nó sẽ lùi lại, cho nên nó không nhất định. Khi ác niệm của chúng ta hoàn toàn không có, chỉ có niệm thiện khởi lên thì tai nạn này liền sẽ không có, hoàn toàn hóa giải hết.

Cho nên bí mật của niệm lực gần đây được khoa học gia phát hiện, việc này rất có đạo lý. Những gì Phật nói ra 3000 năm trước, hiện tại 30 năm gần đây được các nhà khoa học gia phát hiện, hoàn toàn giống như Phật đã nói trong kinh điển. Ngày trước chúng ta không xem thấy báo cáo của khoa học, đối với những gì Phật nói đều tin tưởng, Phật không vọng ngữ, Phật nói ra chúng ta tin tưởng, thế nhưng cái đạo lý này không thông, luôn là có một chút nghi hoặc. 99% tin tưởng Phật, vẫn còn có một phần trăm nghi hoặc, đó cũng vẫn là nghi hoặc. Ngay khi chúng ta xem thấy báo cáo của các nhà khoa học, cái nghi hoặc này mới dứt hết, chúng ta mới hoàn toàn tin tưởng, không có chút nào nghi hoặc. Cho nên ý niệm làm chủ tất cả, cái đạo lý này chúng ta không thể không biết.

Phần tiếp theo câu hỏi:

…Cho đến có một số người nghe tin này buông bỏ tất cả thế giới, niệm Phật vãng sanh, từ bỏ công việc, gia đình, hoặc tập trung lại một chỗ, hoặc ở trên núi, hoặc ở riêng một mình trong phòng v.v…mọi người tập trung lại cùng nhau không ăn, không uống, không ngủ, muốn học theo pháp sư Oánh Kha niệm Phật vãng sanh, và còn nói đây là phương pháp tốt mà lão pháp sư dạy cho chúng ta tránh khỏi tai nạn năm 2012, tạo ra ảnh hưởng rất xấu cho quốc gia và xã hội. Trong tâm đệ tử có nghi hoặc, kính xin lão pháp sư từ bi giải thích.

HT Tịnh Không trả lời: Đây là do cắt xén lời văn mà sanh ra, nếu đem mấy tập mà tôi giảng trước và sau đại khái có khoảng 6 đến 7 tập, sau khi bạn xem qua hết, thì vấn đề này liền được giải quyết. Không phải là như vậy, trên kệ khai kinh có nói "nguyện giải Như Lai chân thật nghĩa", ý nghĩa mà tôi giảng các vị không hiểu rõ, các vị đã hiểu sai rồi, đó là cái ý của chính các vị, không phải là ý của tôi.

Nếu như học Phật chân thật vì chính mình, vì tự tư tự lợi, Thích Ca Mâu Ni Phật lại hà tất phải giảng kinh dạy học suốt 49 khổ cực như vậy để làm gì, tại vì sao ngài không vào Đại Niết Bàn sớm? Tại vì sao không đi đến thế giới Cực Lạc sớm hơn? Lại đi làm việc khổ cực này, có ý nghĩa gì, nhà Phật nói Từ Bi ở đâu!

Học Phật, tôi thường hay nói, học Phật việc tốt nhất trước tiên chính là gì: Biết được sinh mạng là vĩnh hằng, ta không hề chết, “chết” - thân thể này thì có sanh diệt, ta thì không có sanh diệt. Thông thường chúng ta nói ta là cái gì? Linh hồn là ta, người nước ngoài cũng thừa nhận, trong Phật pháp gọi là thần thức, đây là cái ta chân thật. Nếu như nói cái ta này có sanh tử, còn đi đầu thai, còn có cái gì là kiếp trước đời sau…Không hề có. Cho nên vấn đề chính ngay chỗ này. Chân thật từ nơi Phật pháp nói, Phật pháp vẫn không gọi là linh hồn, gọi là Linh Tánh. Kỳ thật nếu gọi là linh hồn thì cái hồn đó tuyệt nhiên không linh, nếu như là linh thì nó sẽ chọn thế giới Cực Lạc để đi, hà tất phải đi vào sáu cõi luân hồi chứ? Nó không linh! Không nên gọi là linh hồn mà gọi là mê hồn, quyết định không phải là linh hồn.

Khổng Tử nói rất hay, Khổng Tử đã nói ở trong "Dị Hệ Từ", "Du Hồn Vi Biến", trong đây Ngài nói được rất hay. Bởi vì hồn đích thực là biến hóa của nó quá lớn, tốc độ quá nhanh, nói du hồn là nói được rất chính xác. Có thể thấy được Khổng Tử không phải không biết đối với việc này, ông nói "Du Hồn Vi Biến", chính là nói sáu cõi luân hồi, nói "Tinh Khí Vi Vật", đó chính là nói quan hệ của hiện tượng tinh thần cùng hiện tượng vật chất, ngày nay khi chúng ta từ nơi tri thức của lượng tử lực học để giải thích hai câu nói này thì rất dễ dàng hiểu rõ. Hiện tượng vật chất đích thực là do hiện tượng tinh thần biến hiện ra, cho nên gọi là “tinh khí vi vật, du hồn vi biến”.

Mười pháp giới Y Chánh Trang Nghiêm, Chánh Báo chính là du hồn vi biến, căn cứ vào cái gì để thay đổi? Căn cứ vào ý niệm của chính mình. Cho nên khi ý niệm sanh ra, thánh nhân người xưa nói rất hay: “bổn tánh vốn thiện”, Phật nói lại càng hay hơn: “tất cả chúng sanh vốn là Phật”, Thích Ca nói vốn dĩ là Phật, tổ tông chúng ta nói bổn tánh vốn thiện, là một ý nghĩa. Vốn thiện không phải là thiện của thiện và ác, “vốn thiện” – cái thiện đó là tán thán, nó quá viên mãn, không có chút kém khuyết nào. Thích Ca Mâu Ni Phật ở trong kinh Hoa Nghiêm đã nói một câu "tất cả chúng sanh đều có trí tuệ đức tướng Như Lai", đây chính là bổn thiện. Có trí tuệ viên mãn, có đức hạnh viên mãn, có tướng hảo viên mãn, tướng hảo là thuộc về phước báo, cho nên tướng hảo phước báo đều là viên mãn, đây là “vốn thiện”.

Mê mất đi tự tánh thì trí tuệ đức tướng của chúng ta liền bị bóp méo đi, bị biến chất. Có khởi được tác dụng hay không? Có. Tác dụng gì vậy? Hoàn cảnh hiện tiền của chúng ta chính là tác dụng, thế nhưng tác dụng này đã bị biến chất rồi.
Gíao dục của Phật là gì? Không gì khác hơn, dạy bảo chúng ta làm thế nào để quay về với tự tánh, giáo dục truyền thống của chúng ta là dạy cái gì? Dạy chúng ta quay về với bổn tánh, thì sẽ trở thành thánh nhân. Nếu quay chưa về được đến nơi, đó là hiền nhân. Đang trên đường quay trở về, đó gọi là quân tử. Ở trong Phật pháp cũng là như vậy, quay về được viên mãn thì gọi là Phật Đà, quay về chưa được đến nơi, thì gọi là Bồ Tát , đang trên đường quay về đó là A La Hán, cùng đồng một đạo lý. Đây là thánh học, học vấn của thánh nhân, chân thật làm đến được viên mãn cứu cánh triệt để.

Cho nên "Phật pháp ở thế gian thì không thể lìa thế gian giác".Câu nói này quan trọng, hay nói cách khác lìa khỏi thế gian thì bạn không thể giác, bạn không rời thế gian thì bạn mới có thể giác, làm sao mà bạn có thể từ bỏ đi công việc, buông bỏ gia đình? Đó là bạn không gánh vác trách nhiệm, bạn học Phật hiểu biết không thấu triệt, chỉ nghe lời truyền miệng, bạn không nên có cách làm như vậy.

Xuất gia có thể thành Phật là đúng, Thích Ca Mâu Ni Phật đã biểu diễn cho chúng ta xem thấy, xuất gia thành Phật nhưng tại gia cũng có thể thành Phật. Khi Phật Thích Ca còn tại thế, người bên ngoài không biết, người học Phật thì biết, có hai vị Phật đồng thời xuất hiện, một là Thích Ca Mâu Ni Phật, vị thứ hai là một vị Phật ở tại gia, cư sĩ Duy Ma Cật, người không học Phật thì không biết. Cư Sĩ Duy Ma Cật nói pháp, Phật Thích Ca phái Mục Kiền Liên, Xá Lợi Phất…những vị đại đệ tử này đến nghe kinh, đến học tập với cư sĩ Duy Ma Cật. Nhìn thấy cư sĩ Duy Ma Cật, đảnh lễ ba lạy, đi nhiễu ba vòng, lễ tiết cũng hoàn toàn giống như thấy Phật, việc này các vị xem qua Kinh Duy Ma Cật thì biết.

Mục đích nói rõ cái gì? Phật pháp là sư đạo, trong sư đạo lão sư là lớn nhất, chỉ cần họ có thân phận là lão sư, bạn muốn học tập với họ, vậy thì bạn liền phải tôn sư trọng đạo. Người xuất gia cùng học với người tại gia, người tại gia là lão sư. Ba vị lão sư của tôi, trong ba vị này lão cư sĩ Lý Bĩnh Nam chính là cư sĩ tại gia, tôi xuất gia học Phật với ông, đối với ông cũng là lễ bái, không thể nói ông là người tại gia, ta là xuất gia, cao hơn so với ông một bậc, vậy thì xong rồi! Đây là việc cần phải nên hiểu, không thể nào không biết.

Với người học Phật tại gia, thì bạn phải dùng phương thức của tại gia; xuất gia học Phật, bạn chân thật là xuất gia, bạn phải đem việc gia đình của bạn xếp đặt cho tốt. Xuất gia, việc quan trọng nhất, phải có sự đồng ý của cha mẹ, nếu như bạn còn có vợ, con cái, vợ và con cái của bạn phải đồng ý, không đồng ý thì bạn không thể xuất gia, việc này trên giới luật đều có qui định, cho nên không thể không gánh vác trách nhiệm. Học Phật chính là học làm ra một tấm gương tốt, cá nhân bạn ở trong xã hội là một tấm gương tốt, làm tấm gương tốt cho mọi người, bạn ở gia đình, gia đình của bạn là một tấm gương tốt cho tất cả hết thảy gia đình trên thế giới, bạn từ nơi nghề nghiệp, không luận là ở nơi nghề nghiệp nào, bạn ở nơi nghề nghiệp đó đều là tấm gương tốt nhất, là mô phạm.

Thích Ca Mâu Ni Phật nghề nghiệp của Ngài là giáo dục, là giáo học, ở trong giáo dục Ngài đích thực làm đến được là một thầy giáo tốt nhất, giáo học chưa từng kém khuyết buổi nào, 49 năm như một ngày. Thái độ giáo học cũng giống như Khổng Tử, không phân quốc tịch, không phân chủng tộc, không phân tôn giáo tín ngưỡng, người đến thì không từ chối, người đi thì không lưu giữ, hơn nữa đều xem là nghĩa vụ, không có nhận học phí, thời gian học tập của bạn dài ngắn tùy theo ý bạn. Cho nên bằng lòng trọn đời đi theo Thích Ca Mâu Ni Phật, việc này trên kinh điển có ghi chép: 1255 người, gọi là chúng thường tùy còn số lượng không đi theo trọn đời, thân cận Phật Đà mấy ngày, mấy mươi ngày, hai ba năm thì rất nhiều, số đó thì không có ghi chép. Đủ thứ hạng người đi theo học với Ngài, không có ai là không có được đại hoan hỉ, pháp hỉ sung mãn, việc này nhất định phải biết.

Nói không ăn không uống, Thích Ca Mâu Ni Phật mỗi ngày đi ra ngoài khất thực, Ngài còn phải ăn cơm, Ngài còn phải nghỉ ngơi. Thời xưa Ấn Độ ngày đêm chia làm sáu thời, ngày ba thời, đêm ba thời, buổi tối thời gian nghỉ ngơi là nửa đêm, tính theo thời gian hiện tại là từ 10 giờ tối đến 2 giờ khuya, bốn giờ đồng hồ, thời gian này là nghỉ ngơi, đời sống rất có qui luật, tại gia học Phật cũng không ngoại lệ.

Cho nên nói là muốn học theo pháp sư Oánh Kha thì không học được. Tại vì sao? Bạn không có loại tâm chân thành đó của ông, bạn không có cái tâm cung kính đó của ông, trong ba ngày thì ông có thể niệm ra được Phật, bạn 30 ngày cũng không niệm ra được, không tin thì bạn cứ thử xem, chân thành đến tột điểm! 

Ông cũng là có một nghịch tăng thượng duyên giúp ông. Vì sao vậy? Ông đã tạo ra rất nhiều tội nghiệp, những tội nghiệp đó đều là tội nghiệp đọa địa ngục, ông sợ đọa địa ngục, cho nên bức bách ông không thể không chân thành, vậy thì phải vạn phần chân thành, vạn phần chân thành thì tội của ông liền sám hết.

Ngày nay chúng ta còn có nhiều vọng tưởng tạp niệm như vậy ở trong tâm thì bạn làm sao có thể niệm ra được Phật? Không thể nào! Nếu như tâm thật chân thành rồi, thì bạn sẽ không viết gởi đến đây những lời này, một vọng niệm cũng không có. Bạn vẫn còn viết hỏi tôi nhiều thứ đến như vậy, có thể thấy rằng công phu của bạn chưa được.

Wednesday, February 29, 2012

BÍ MẬT VỀ NGƯỜI SỐNG CHỈ NHỜ "NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI"

Hira Ratan Manek, 69 tuổi, người Bodhavad, Ấn Độ, từ tháng 6/1995 đã sống mà chỉ cần ánh sáng mặt trời và nước. Thỉnh thoảng, vì lòng hiếu khách hay quan hệ xã hội, ông uống trà, cà phê, hay sữa. Manek cho rằng, khi ngắm mặt trời, người ta đã nhận được “sự nuôi dưỡng” từ nó. Tuy nhiên, hầu hết các chuyên gia chăm sóc mắt đều khuyên tránh nhìn trực tiếp vào mặt trời. Một vài kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, ở những người thường xuyên luyện tập phương pháp ngắm nhìn mặt trời thì mức hấp thụ năng lượng cao hơn và giảm cảm giác thèm ăn.

1. Nhịn ăn ròng rã, không có bất kỳ một sự tổn thương nào

Năm 2001, Tiến sĩ Sudhir Shah đã từng “khảo sát” một bệnh nhân tên là Hira Ratan Manek, người đã không hề ăn gì từ năm 1995 và không hề uống gì từ 411 ngày trước khi được trở thành đối tượng nghiên cứu khoa học. Ông R. Manek nói rằng, bí quyết để ông có thể duy trì cuộc sống chỉ với chút nước và ngắm mặt trời lâu đến như vậy là do hấp thụ năng lượng mặt trời.

Được biết trước kia, ông R. Manek là một kỹ sư cơ khí cư trú tại Calicut Ấn Độ. Sau khi nghỉ hưu, ông bắt đầu nghiên cứu và thực hành các bài tập nhìn mặt trời để duy trì sự sống. Phương pháp này là một phương pháp cổ xưa, đã từng được người cổ đại luyện tập có hiệu quả nhưng hiện bị lãng quên. Bản thân ông từ thời thơ ấu đã rất tò mò, muốn thử nhưng đến khi về hưu mới có cơ hội luyện.

Bản thân ông R. Manek cũng rất ngạc nhiên về các khả năng có thể nói là phi phàm của mình nên ông đã tự nguyện tham gia các đợt khảo sát và nghiên cứu của các chuyên gia Ấn Độ. Ông chấp nhận trải qua nhiều ca xét nghiệm. Ca xét nghiệm đầu tiên là nhịn ăn 211 ngày liên tục trong thời gian 1995 - 1996 tại Calicut, Ấn Độ, với sự chứng kiến của đội ngũ các bác sĩ chuyên gia, đại diện của khoa học, y tế bao gồm bác sĩ gia đình, các bác sĩ tim mạch, thần kinh, nội tiết, bác sĩ phẫu thuật, bệnh lý học, do bác sĩ CK Ramachandran chủ trì.

Tiếp theo đó là bằng cách ăn chay liên tục cho 411 ngày, theo Jain truyền thống trong thời gian năm 2000 - 2001 tại Ahmedabad, Ấn Độ chỉ đạo bởi một đội ngũ quốc tế gồm 21 bác sĩ và các nhà khoa học, Tiến sĩ Sudhir Shah trực tiếp chịu trách nghiệm về chương trình thử nghiệm này.

Theo đó, ông R. Manek chỉ đun sôi nước tiêu thụ hàng ngày từ 11 amto 04:00 chỉ và không có các chất lỏng khác. Vài ngày trước khi ăn chay, ông R.Manek đã phải trải qua các xét nghiệm về y tế. Hồ sơ kiểm tra y tế này bao gồm: thực trạng hàng ngày của xung, huyết áp, hô hấp, nhiệt độ, lượng nước, lượng nước tiểu, trọng lượng… có liên quan đến huyết học và sinh hóa (ở dạng kiểm tra thông thường được thực hiện định kỳ, tức là hàng tháng hoặc hai tuần/lần).

Sau đó kết quả cho thấy, trong 3 tháng đầu ông R. Manek giảm mất 19 kg trọng lượng cơ thể, tỷ lệ nhịp tim và BP giảm nhẹ, giảm hạn mức hô hấp (từ 18 đến nay 10/minute). Ông đã ngừng đi đại tiện từ ngày thứ 16 của quá trình ăn chay. Lượng nước tiểu được duy trì ở khoảng 600 - 800 cc. Ngoài ra, ông không còn bất cứ biểu hiện bất thường nào.

Ngay cả bộ não và khả năng cảm nhận mọi thứ vẫn hoàn toàn bình thường. Không hề có bất cứ sự chấn động nào. Điều đáng ngạc nhiên nhất là, ông đã tự mình trèo lên núi Shatrunjay nổi tiếng (đồi Palitana) cùng với 500 chuyên gia đi cùng mà không cần sự giúp đỡ của bất cứ ai. Như vậy, phải nói rằng, mặc dù đã tốn khá nhiều công sức và tâm huyết nhưng các nhà khoa học cho tới hôm nay vẫn chưa thể tìm ra bí quyết giúp R. Manek có được những năng lực siêu phàm như hiện nay.

2. Bí quyết là ở chỗ chăm chỉ “ngắm mặt trời”

Riêng theo ông R. Manek lý giải thì bí quyết nằm ở chỗ chăm chỉ “ngắm mặt trời”. Ông cho rằng, khi ngắm mặt trời, người ta đã nhận được “sự nuôi dưỡng” từ nó. Ông và một số người đề xướng “bài thể dục” từ mặt trời cũng cho biết, từ rất lâu, người Ai Cập cổ đại, người Aztec ở Mexico, người Maya và bộ tộc thổ dân châu Mỹ đã luyện tập phương pháp này như hình thức tập Yoga Tây Tạng và Ấn Độ.

“Ánh sáng mặt trời cũng tạo ra sự ấm áp giúp cho các môi trường sinh thái thuận lợi cho mọi vật phát triển. Nếu không có mặt trời thì có thể nói sự sống trên trái đất sẽ hầu như không có. Các tia tử ngoại của mặt trời còn có công năng sát khuẩn rất mạnh, có thể diệt trừ giúp con người các vi khuẩn gây ra bệnh hại, bệnh độc. Đặc biệt hơn, ánh nắng mặt trời có khả năng cung cấp cho cơ thể năng lượng để thực hiện các chức năng thiết yếu. Thức ăn mà chúng ta thường dùng chẳng qua cũng chỉ là một dạng năng lượng thứ cấp của năng lượng mặt trời. Mà cơ thể lại có cơ chế tiếp nhận năng lượng trực tiếp từ mặt trời và dự trữ nó để sử dụng khi cần”, Manek giải thích.

Theo lời Tiến sĩ Sudhir Shah, ông R. Manek không có gì khác biệt về các chỉ số sinh học và cơ thể học so với những người bình thường. Nhưng vì sao ông có thể không hề ăn gì từ năm 1995 và không hề uống gì từ 411 ngày.

Tiến sĩ Shah cũng cho rằng, đối với trường hợp của ông R. Manek cần phải mất vài tháng tiếp tục nghiên cứu các dữ liệu đã thu thập được may ra mới đi tới được một kết luận nào đó. Tiến sĩ Shah cho biết, những khảo sát gần đây vẫn chưa làm cho hiện tượng kỳ dị của ông R.Manek trở nên dễ hiểu hơn. Nhưng vẫn còn hy vọng để lý giải chuyện này vì các phương pháp ưu việt hơn đang được áp dụng. Và các nhà nghiên cứu cũng đã kiểm tra được khả năng hoạt động của toàn bộ các hệ thống ở ông R. Manek.

Trường hợp sống khỏe mạnh 16 năm chỉ nhờ ngắm mặt trời là điều xưa nay không có. Nhất là khi các kết quả kiểm tra lâm sàng, sinh hoá, đo đạc điện tử và các kiểm tra khác đều đã được tiến hành và cho kết quả nằm trong mức an toàn.

Các nhà khoa học đã kết luận trường hợp của ông R. Manek là một hiện tượng vô cùng kỳ lạ của cơ thể con người.

Giải thích khả năng kỳ lạ này của ông R. Manek, các bác sĩ cho rằng rất có thể những bài tập nhìn mặt trời đã khiến cho cơ thể ông R. Manek bị thay đổi về mặt sinh học. Một số nhà khoa học khác thì cho rằng có thể cơ thể ông R. Manek sở hữu một loại gen đặc biệt cho phép ông có khả năng sống mà chỉ cần ánh sáng mặt trời và nước trong một thời gian dài đến như vậy.

Mặc dù đưa ra các giả thiết như vậy, song các nhà nghiên cứu vẫn hoàn toàn bó tay trong việc kiến giải một cách rõ ràng và khoa học hiện tượng vốn được xem rằng “không thể có” trong y học. Bởi theo nghiên cứu khoa học thì phần lớn con người có thể sống sót mà không cần ăn trong 50 ngày.

Trong khi đó, chuyên gia thần kinh học Sudhir Shah, người đã từng chịu trách nhiệm chính trong ca thử nghiệm về trường hợp của ông R. Manek trong năm 2000 - 2001  thì cho rằng nếu ông R. Manek không lấy năng lượng từ thực phẩm thì chắc chắn ông ấy phải lấy năng lượng từ những thứ trong môi trường xung quanh, chẳng hạn như ánh sáng.

Từ đó, Tiến sĩ Sudhir Shah rất tin vào lời giải thích của ông R. Manek. Theo một tờ báo đưa ra dẫn chứng là vào năm 2000 - 2001, bác sĩ Shah cũng đã từng tiến hành thử nghiệm tương tự trên ông R. Manek trong vòng hơn một năm trước khi ông R. Manek tuyên bố rằng ông sống bằng khí trời và nước lọc. Theo tờ báo này, có vẻ như bác sĩ Shah và các cộng sự đang chứng minh cho một giải thiết rằng con người có thể sống sót nhờ các nguồn năng lượng tự nhiên như ánh sáng mặt trời hay năng lương dạng siêu việt kiểu tinh thần thay vì đồ ăn và thức uống.

3. Hy vọng những ứng dụng trong việc giải quyết cái đói của con người

Tổ chức Nghiên cứu và Phát triển quân sự của Ấn Độ còn cho rằng ông R. Manek có thể dạy các binh sĩ cách kéo dài thời gian sống sót mà không cần thức ăn, chỉ cần nhìn mặt trời. Những bí mật của ông cũng có thể giúp những nạn nhân của thảm họa tăng khả năng sống sót trong lúc chờ lực lượng cứu hộ.

“Nếu khẳng định của ông ấy được chứng thực, đó sẽ là một bước ngoặt trong khoa học y học”, bác sĩ G. Ilavazhagan, Giám đốc Viện khoa học và Sinh lý học quốc phòng, nói. “Chúng ta có thể giúp cứu mạng sống trong các thảm họa thiên nhiên, các cuộc leo núi hay các cuộc hành trình trên biển… Chúng ta có thể hướng dẫn mọi người kỹ năng sống trong những điều kiện khắc nghiệt mà không có thức ăn hay nước uống”.

Cũng từ đó mà hiện nay phong trào học dưỡng sinh bằng phương pháp truyền năng lượng mặt trời được giới thiệu khá nhiều trên toàn thế giới. Từ năm 1988, nữ tiến sĩ vật lý Barbara An Brennan, chuyên viên khoa học của NASA đã nghiên cứu và viết quyển “Hands of light” (Những bàn tay ánh sáng).

Cùng năm này, nữ tiến sĩ y học Nga Djouna Davitasvili viết quyển “Tôi nghe đôi tay mình” cũng nói về năng lượng sinh học. Năm 1993, bà Barbara lại viết thêm quyển “Light Emerging” (Chữa bệnh bằng ánh sáng)”. Gần đây nhất có 2 cuốn sách tiêu biểu đề cập đến vấn đề này là:  “Ánh sáng, Y khoa của tương lai” - Jacob Lieberman và “Ánh sáng mặt trời và sức khỏe trong thế kỷ 21” - Richard Hobday.

Một vài kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, ở những người thường xuyên luyện tập phương pháp ngắm nhìn mặt trời thì mức hấp thụ năng lượng cao hơn và giảm cảm giác thèm ăn. Trên trang Pravda.ru cũng có báo viết về một trường hợp “ăn nắng” khác, đó là ông Nikolai Dolgoruky sống ở vùng Dnepr của Ucraina.

Tuy nhiên, các nhà khoa học cho rằng, nhìn trực tiếp ánh sáng mặt trời trong một khoảng thời gian ngắn có thể gây mù hay nguy hại cho mắt. Hầu hết các chuyên gia chăm sóc mắt đều khuyên tránh nhìn trực tiếp vào mặt trời.

Mặc dù vậy, là người nghiên cứu tác dụng của việc “ăn” nắng trong nhiều năm, theo Manek, việc nhìn ngắm mặt trời vào lúc bình minh hay hoàng hôn rất tốt cho sức khoẻ. Những người luyện tập phương pháp “tự quang hợp” này thường có đầu óc minh mẫn, khoẻ mạnh hơn về cả thể chất và tinh thần mà không tốn bất kỳ một sự tổn hại nào. Tất nhiên, chỉ nên thực hiện việc này vào những thời điểm an toàn, tức là khoảng 30 phút sau khi mặt trời mọc và 30 phút trước khi mặt trời lặn (một số người khác lại thực hiện vào thời gian khác trong ngày).