Sunday, March 11, 2012

HT TỊNH KHÔNG CHÍNH THỨC TRẢ LỜI NHỮNG HIỂU LẦM VỀ DỰ BÁO ĐẠI NẠN NĂM 2012


Một số thông tin cho rằng HT Tịnh không nói về ngày tận thế năm 12-2012. Vậy sự việc này ra sao xin mời quý đạo hữu cùng nghe HT. Tịnh Không chính thức trả lời những hiểu lầm về dự báo đại nạn năm 2012.

Câu hỏi số 1: Có một đồng tu tự ý trích đoạn từ tập đĩa này, rút gọn lại thành 1 đĩa, lưu truyền rộng khắp.

HT Tịnh Không trả lời: Đây không phải là một việc tốt, không nên làm như vậy, muốn lưu truyền thì phải lưu truyền trước sau đầy đủ, bởi vì nếu như trước sau người xem đều xem qua hết, thì sẽ không có vấn đề gì xảy ra. Cho nên việc này là thuộc về trích dẫn cắt xén, chỉ nghe cái đoạn đó mà những đoạn trước và sau đều không biết, cho nên sẽ sanh ra một số hiểu lầm. Nếu bạn nghe trọn vẹn qua hết một lượt thì vấn đề được giải quyết rồi.

Sự việc này xảy ra vì cho rằng ngày 21 tháng 12 năm 2012 tai nạn “nhất định” sẽ xảy ra. Tôi không hề nói như vậy, tôi trước giờ không hề dám nói từ "nhất định", tôi chỉ nói tôi đã xem qua rất nhiều tin tức bên ngoài nói về việc này, nói là có khả năng xảy tai nạn mà thôi. Thế nhưng dù tin tức bên ngoài nói như vậy, tôi cũng không cho là quan trọng, tại vì sao? Phật đã nói với chúng ta: Pháp vốn dĩ là không cố định, không có định pháp, tại vì sao không có định pháp? Bất cứ sự việc gì trên thế giới đều đang thay đổi mỗi ngày, không có gì là bất biến.

Vận mạng của con người cũng là như vậy, các vị xem “Liễu Phàm Tứ Huấn” thì liền biết được, tiên sinh Viên Liễu Phàm lúc 15 tuổi đã được Khổng tiên sinh đoán mạng rất chính xác, đoán đúng được nhiều năm, đoán cuộc đời ông khi ông đến 53 tuổi thì mạng chung. Trong khoảng 20 năm liên tiếp, mỗi năm tiên sinh Liễu Phàm đều có trải nghiệm nhiều sự việc hoàn toàn đúng với lời tiên đoán của Khổng tiên sinh cho nên tâm lý của ông buông xuôi, không khởi một ý niệm nào, ông nói tôi có ý niệm cũng không ích gì, vận mạng đã định rồi.
Vận mạng từ do đâu mà có? Do đời trước tu mà được, trên thực tế mỗi ngày vận mạng của chúng ta cũng đang có sự tăng giảm, thêm bớt. Khởi lên một niệm thiện thì vận mạng của bạn được thêm vào một điểm tốt, khởi lên một niệm ác thì bị giảm đi một điểm, đại ý là như vậy, nó ngày ngày có thêm bớt cộng trừ, bạn làm sao có thể nói nó là "nhất định" được chứ? Phật cũng không thể nói nhất định, cái đạo lý này chúng ta phải hiểu.

Hiện tại, các nhà khoa học ngành vật lý lượng tử đã phát hiện ra một số bí mật của vũ trụ, đã báo cáo với chúng ta, chúng ta sau khi xem rồi, nhận thấy báo cáo của họ hoàn toàn tương đồng với những gì trên kinh Phật đã nói, trong đó có một nguyên tắc chung, chính là không có định pháp, Phật đã nói: "Tất cả pháp từ tâm tưởng sanh". Hiện tại khoa học gia lượng tử đã chứng minh. Cái tâm tưởng đó trước một giây cùng sau một giây là không như nhau, thì bạn làm sao có thể nói là "nhất định"? Cách nói khẳng định như vậy thì đã sai quá nghiêm trọng rồi, chúng ta phải biết mọi thứ mỗi ngày đều đang thay đổi.

Tai nạn đó từ nơi nào mà sanh ra? Là từ nơi ý niệm bất thiện mà tạo thành. Chúng ta một niệm hướng thiện, tai nạn liền được hóa giải rồi. Cho nên năm trước có mấy vị khoa học gia tổ chức hội nghị ở Sydney, học viện của chúng ta có phái 8 đồng tu đến tham gia, pháp sư Định Hoằng cũng có tham gia hội nghị này, nghe qua báo cáo của họ. Ngày đầu tiên thì nghe qua báo cáo những thành tựu đạt được của các chuyên gia vật lý lượng tử, suốt ngày hôm sau thì chuyên đề thảo luận vấn đề của năm 2012, đến sau cùng là do một vị tiến sĩ Hoa Kỳ làm báo cáo tổng kết.

Khi tổng kết họ nói với chúng ta, năm 2012 không phải là ngày tàn của thế giới, ngày 21 tháng 12 không phải là ngày tận thế, hy vọng cư dân trên địa cầu từ nay đến thời điểm đó có thể thức tỉnh, mọi người đều có thể làm đến được "bỏ ác dương thiện, cải tà quy chánh, đoan chánh tâm niệm", tai nạn này liền sẽ không còn, liền có thể hóa giải. Cái đạo lý này là căn cứ từ lý luận của lượng tử học mà biết được, chính là tất cả pháp, giống như Phật đã nói với chúng ta: "Tất cả pháp từ tâm tưởng sanh", nó là từ ý niệm, một niệm ác của chúng ta khởi lên là khởi nguồn cho tai nạn xảy ra, khi một niệm thiện khởi lên, tai nạn này liền không có, hoàn toàn giống như Phật pháp đã nói.

Cho nên không thể nói "nhất định" có thể xảy ra, nói "nhất định" xảy ra ở vào mức độ nào đó cũng đều không thể nói, mỗi ngày đều có tăng giảm thêm bớt. Nếu như cái niệm ác này của chúng ta mà quá nhiều thì tai nạn này có thể sẽ xảy ra sớm hơn, không phải là ở vào ngày hôm đó, có thể sớm hơn nửa năm, có thể sớm hơn mấy tháng v.v…Ngược lại, nếu như khi niệm thiện của chúng ta nhiều, các ác niệm bị đè phục, vậy thì tai nạn sẽ bị đẩy lùi, có thể lùi lại vài năm, lùi lại mười mấy năm, nó sẽ lùi lại, cho nên nó không nhất định. Khi ác niệm của chúng ta hoàn toàn không có, chỉ có niệm thiện khởi lên thì tai nạn này liền sẽ không có, hoàn toàn hóa giải hết.

Cho nên bí mật của niệm lực gần đây được khoa học gia phát hiện, việc này rất có đạo lý. Những gì Phật nói ra 3000 năm trước, hiện tại 30 năm gần đây được các nhà khoa học gia phát hiện, hoàn toàn giống như Phật đã nói trong kinh điển. Ngày trước chúng ta không xem thấy báo cáo của khoa học, đối với những gì Phật nói đều tin tưởng, Phật không vọng ngữ, Phật nói ra chúng ta tin tưởng, thế nhưng cái đạo lý này không thông, luôn là có một chút nghi hoặc. 99% tin tưởng Phật, vẫn còn có một phần trăm nghi hoặc, đó cũng vẫn là nghi hoặc. Ngay khi chúng ta xem thấy báo cáo của các nhà khoa học, cái nghi hoặc này mới dứt hết, chúng ta mới hoàn toàn tin tưởng, không có chút nào nghi hoặc. Cho nên ý niệm làm chủ tất cả, cái đạo lý này chúng ta không thể không biết.

Phần tiếp theo câu hỏi:

…Cho đến có một số người nghe tin này buông bỏ tất cả thế giới, niệm Phật vãng sanh, từ bỏ công việc, gia đình, hoặc tập trung lại một chỗ, hoặc ở trên núi, hoặc ở riêng một mình trong phòng v.v…mọi người tập trung lại cùng nhau không ăn, không uống, không ngủ, muốn học theo pháp sư Oánh Kha niệm Phật vãng sanh, và còn nói đây là phương pháp tốt mà lão pháp sư dạy cho chúng ta tránh khỏi tai nạn năm 2012, tạo ra ảnh hưởng rất xấu cho quốc gia và xã hội. Trong tâm đệ tử có nghi hoặc, kính xin lão pháp sư từ bi giải thích.

HT Tịnh Không trả lời: Đây là do cắt xén lời văn mà sanh ra, nếu đem mấy tập mà tôi giảng trước và sau đại khái có khoảng 6 đến 7 tập, sau khi bạn xem qua hết, thì vấn đề này liền được giải quyết. Không phải là như vậy, trên kệ khai kinh có nói "nguyện giải Như Lai chân thật nghĩa", ý nghĩa mà tôi giảng các vị không hiểu rõ, các vị đã hiểu sai rồi, đó là cái ý của chính các vị, không phải là ý của tôi.

Nếu như học Phật chân thật vì chính mình, vì tự tư tự lợi, Thích Ca Mâu Ni Phật lại hà tất phải giảng kinh dạy học suốt 49 khổ cực như vậy để làm gì, tại vì sao ngài không vào Đại Niết Bàn sớm? Tại vì sao không đi đến thế giới Cực Lạc sớm hơn? Lại đi làm việc khổ cực này, có ý nghĩa gì, nhà Phật nói Từ Bi ở đâu!

Học Phật, tôi thường hay nói, học Phật việc tốt nhất trước tiên chính là gì: Biết được sinh mạng là vĩnh hằng, ta không hề chết, “chết” - thân thể này thì có sanh diệt, ta thì không có sanh diệt. Thông thường chúng ta nói ta là cái gì? Linh hồn là ta, người nước ngoài cũng thừa nhận, trong Phật pháp gọi là thần thức, đây là cái ta chân thật. Nếu như nói cái ta này có sanh tử, còn đi đầu thai, còn có cái gì là kiếp trước đời sau…Không hề có. Cho nên vấn đề chính ngay chỗ này. Chân thật từ nơi Phật pháp nói, Phật pháp vẫn không gọi là linh hồn, gọi là Linh Tánh. Kỳ thật nếu gọi là linh hồn thì cái hồn đó tuyệt nhiên không linh, nếu như là linh thì nó sẽ chọn thế giới Cực Lạc để đi, hà tất phải đi vào sáu cõi luân hồi chứ? Nó không linh! Không nên gọi là linh hồn mà gọi là mê hồn, quyết định không phải là linh hồn.

Khổng Tử nói rất hay, Khổng Tử đã nói ở trong "Dị Hệ Từ", "Du Hồn Vi Biến", trong đây Ngài nói được rất hay. Bởi vì hồn đích thực là biến hóa của nó quá lớn, tốc độ quá nhanh, nói du hồn là nói được rất chính xác. Có thể thấy được Khổng Tử không phải không biết đối với việc này, ông nói "Du Hồn Vi Biến", chính là nói sáu cõi luân hồi, nói "Tinh Khí Vi Vật", đó chính là nói quan hệ của hiện tượng tinh thần cùng hiện tượng vật chất, ngày nay khi chúng ta từ nơi tri thức của lượng tử lực học để giải thích hai câu nói này thì rất dễ dàng hiểu rõ. Hiện tượng vật chất đích thực là do hiện tượng tinh thần biến hiện ra, cho nên gọi là “tinh khí vi vật, du hồn vi biến”.

Mười pháp giới Y Chánh Trang Nghiêm, Chánh Báo chính là du hồn vi biến, căn cứ vào cái gì để thay đổi? Căn cứ vào ý niệm của chính mình. Cho nên khi ý niệm sanh ra, thánh nhân người xưa nói rất hay: “bổn tánh vốn thiện”, Phật nói lại càng hay hơn: “tất cả chúng sanh vốn là Phật”, Thích Ca nói vốn dĩ là Phật, tổ tông chúng ta nói bổn tánh vốn thiện, là một ý nghĩa. Vốn thiện không phải là thiện của thiện và ác, “vốn thiện” – cái thiện đó là tán thán, nó quá viên mãn, không có chút kém khuyết nào. Thích Ca Mâu Ni Phật ở trong kinh Hoa Nghiêm đã nói một câu "tất cả chúng sanh đều có trí tuệ đức tướng Như Lai", đây chính là bổn thiện. Có trí tuệ viên mãn, có đức hạnh viên mãn, có tướng hảo viên mãn, tướng hảo là thuộc về phước báo, cho nên tướng hảo phước báo đều là viên mãn, đây là “vốn thiện”.

Mê mất đi tự tánh thì trí tuệ đức tướng của chúng ta liền bị bóp méo đi, bị biến chất. Có khởi được tác dụng hay không? Có. Tác dụng gì vậy? Hoàn cảnh hiện tiền của chúng ta chính là tác dụng, thế nhưng tác dụng này đã bị biến chất rồi.
Gíao dục của Phật là gì? Không gì khác hơn, dạy bảo chúng ta làm thế nào để quay về với tự tánh, giáo dục truyền thống của chúng ta là dạy cái gì? Dạy chúng ta quay về với bổn tánh, thì sẽ trở thành thánh nhân. Nếu quay chưa về được đến nơi, đó là hiền nhân. Đang trên đường quay trở về, đó gọi là quân tử. Ở trong Phật pháp cũng là như vậy, quay về được viên mãn thì gọi là Phật Đà, quay về chưa được đến nơi, thì gọi là Bồ Tát , đang trên đường quay về đó là A La Hán, cùng đồng một đạo lý. Đây là thánh học, học vấn của thánh nhân, chân thật làm đến được viên mãn cứu cánh triệt để.

Cho nên "Phật pháp ở thế gian thì không thể lìa thế gian giác".Câu nói này quan trọng, hay nói cách khác lìa khỏi thế gian thì bạn không thể giác, bạn không rời thế gian thì bạn mới có thể giác, làm sao mà bạn có thể từ bỏ đi công việc, buông bỏ gia đình? Đó là bạn không gánh vác trách nhiệm, bạn học Phật hiểu biết không thấu triệt, chỉ nghe lời truyền miệng, bạn không nên có cách làm như vậy.

Xuất gia có thể thành Phật là đúng, Thích Ca Mâu Ni Phật đã biểu diễn cho chúng ta xem thấy, xuất gia thành Phật nhưng tại gia cũng có thể thành Phật. Khi Phật Thích Ca còn tại thế, người bên ngoài không biết, người học Phật thì biết, có hai vị Phật đồng thời xuất hiện, một là Thích Ca Mâu Ni Phật, vị thứ hai là một vị Phật ở tại gia, cư sĩ Duy Ma Cật, người không học Phật thì không biết. Cư Sĩ Duy Ma Cật nói pháp, Phật Thích Ca phái Mục Kiền Liên, Xá Lợi Phất…những vị đại đệ tử này đến nghe kinh, đến học tập với cư sĩ Duy Ma Cật. Nhìn thấy cư sĩ Duy Ma Cật, đảnh lễ ba lạy, đi nhiễu ba vòng, lễ tiết cũng hoàn toàn giống như thấy Phật, việc này các vị xem qua Kinh Duy Ma Cật thì biết.

Mục đích nói rõ cái gì? Phật pháp là sư đạo, trong sư đạo lão sư là lớn nhất, chỉ cần họ có thân phận là lão sư, bạn muốn học tập với họ, vậy thì bạn liền phải tôn sư trọng đạo. Người xuất gia cùng học với người tại gia, người tại gia là lão sư. Ba vị lão sư của tôi, trong ba vị này lão cư sĩ Lý Bĩnh Nam chính là cư sĩ tại gia, tôi xuất gia học Phật với ông, đối với ông cũng là lễ bái, không thể nói ông là người tại gia, ta là xuất gia, cao hơn so với ông một bậc, vậy thì xong rồi! Đây là việc cần phải nên hiểu, không thể nào không biết.

Với người học Phật tại gia, thì bạn phải dùng phương thức của tại gia; xuất gia học Phật, bạn chân thật là xuất gia, bạn phải đem việc gia đình của bạn xếp đặt cho tốt. Xuất gia, việc quan trọng nhất, phải có sự đồng ý của cha mẹ, nếu như bạn còn có vợ, con cái, vợ và con cái của bạn phải đồng ý, không đồng ý thì bạn không thể xuất gia, việc này trên giới luật đều có qui định, cho nên không thể không gánh vác trách nhiệm. Học Phật chính là học làm ra một tấm gương tốt, cá nhân bạn ở trong xã hội là một tấm gương tốt, làm tấm gương tốt cho mọi người, bạn ở gia đình, gia đình của bạn là một tấm gương tốt cho tất cả hết thảy gia đình trên thế giới, bạn từ nơi nghề nghiệp, không luận là ở nơi nghề nghiệp nào, bạn ở nơi nghề nghiệp đó đều là tấm gương tốt nhất, là mô phạm.

Thích Ca Mâu Ni Phật nghề nghiệp của Ngài là giáo dục, là giáo học, ở trong giáo dục Ngài đích thực làm đến được là một thầy giáo tốt nhất, giáo học chưa từng kém khuyết buổi nào, 49 năm như một ngày. Thái độ giáo học cũng giống như Khổng Tử, không phân quốc tịch, không phân chủng tộc, không phân tôn giáo tín ngưỡng, người đến thì không từ chối, người đi thì không lưu giữ, hơn nữa đều xem là nghĩa vụ, không có nhận học phí, thời gian học tập của bạn dài ngắn tùy theo ý bạn. Cho nên bằng lòng trọn đời đi theo Thích Ca Mâu Ni Phật, việc này trên kinh điển có ghi chép: 1255 người, gọi là chúng thường tùy còn số lượng không đi theo trọn đời, thân cận Phật Đà mấy ngày, mấy mươi ngày, hai ba năm thì rất nhiều, số đó thì không có ghi chép. Đủ thứ hạng người đi theo học với Ngài, không có ai là không có được đại hoan hỉ, pháp hỉ sung mãn, việc này nhất định phải biết.

Nói không ăn không uống, Thích Ca Mâu Ni Phật mỗi ngày đi ra ngoài khất thực, Ngài còn phải ăn cơm, Ngài còn phải nghỉ ngơi. Thời xưa Ấn Độ ngày đêm chia làm sáu thời, ngày ba thời, đêm ba thời, buổi tối thời gian nghỉ ngơi là nửa đêm, tính theo thời gian hiện tại là từ 10 giờ tối đến 2 giờ khuya, bốn giờ đồng hồ, thời gian này là nghỉ ngơi, đời sống rất có qui luật, tại gia học Phật cũng không ngoại lệ.

Cho nên nói là muốn học theo pháp sư Oánh Kha thì không học được. Tại vì sao? Bạn không có loại tâm chân thành đó của ông, bạn không có cái tâm cung kính đó của ông, trong ba ngày thì ông có thể niệm ra được Phật, bạn 30 ngày cũng không niệm ra được, không tin thì bạn cứ thử xem, chân thành đến tột điểm! 

Ông cũng là có một nghịch tăng thượng duyên giúp ông. Vì sao vậy? Ông đã tạo ra rất nhiều tội nghiệp, những tội nghiệp đó đều là tội nghiệp đọa địa ngục, ông sợ đọa địa ngục, cho nên bức bách ông không thể không chân thành, vậy thì phải vạn phần chân thành, vạn phần chân thành thì tội của ông liền sám hết.

Ngày nay chúng ta còn có nhiều vọng tưởng tạp niệm như vậy ở trong tâm thì bạn làm sao có thể niệm ra được Phật? Không thể nào! Nếu như tâm thật chân thành rồi, thì bạn sẽ không viết gởi đến đây những lời này, một vọng niệm cũng không có. Bạn vẫn còn viết hỏi tôi nhiều thứ đến như vậy, có thể thấy rằng công phu của bạn chưa được.

Wednesday, February 29, 2012

BÍ MẬT VỀ NGƯỜI SỐNG CHỈ NHỜ "NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI"

Hira Ratan Manek, 69 tuổi, người Bodhavad, Ấn Độ, từ tháng 6/1995 đã sống mà chỉ cần ánh sáng mặt trời và nước. Thỉnh thoảng, vì lòng hiếu khách hay quan hệ xã hội, ông uống trà, cà phê, hay sữa. Manek cho rằng, khi ngắm mặt trời, người ta đã nhận được “sự nuôi dưỡng” từ nó. Tuy nhiên, hầu hết các chuyên gia chăm sóc mắt đều khuyên tránh nhìn trực tiếp vào mặt trời. Một vài kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, ở những người thường xuyên luyện tập phương pháp ngắm nhìn mặt trời thì mức hấp thụ năng lượng cao hơn và giảm cảm giác thèm ăn.

1. Nhịn ăn ròng rã, không có bất kỳ một sự tổn thương nào

Năm 2001, Tiến sĩ Sudhir Shah đã từng “khảo sát” một bệnh nhân tên là Hira Ratan Manek, người đã không hề ăn gì từ năm 1995 và không hề uống gì từ 411 ngày trước khi được trở thành đối tượng nghiên cứu khoa học. Ông R. Manek nói rằng, bí quyết để ông có thể duy trì cuộc sống chỉ với chút nước và ngắm mặt trời lâu đến như vậy là do hấp thụ năng lượng mặt trời.

Được biết trước kia, ông R. Manek là một kỹ sư cơ khí cư trú tại Calicut Ấn Độ. Sau khi nghỉ hưu, ông bắt đầu nghiên cứu và thực hành các bài tập nhìn mặt trời để duy trì sự sống. Phương pháp này là một phương pháp cổ xưa, đã từng được người cổ đại luyện tập có hiệu quả nhưng hiện bị lãng quên. Bản thân ông từ thời thơ ấu đã rất tò mò, muốn thử nhưng đến khi về hưu mới có cơ hội luyện.

Bản thân ông R. Manek cũng rất ngạc nhiên về các khả năng có thể nói là phi phàm của mình nên ông đã tự nguyện tham gia các đợt khảo sát và nghiên cứu của các chuyên gia Ấn Độ. Ông chấp nhận trải qua nhiều ca xét nghiệm. Ca xét nghiệm đầu tiên là nhịn ăn 211 ngày liên tục trong thời gian 1995 - 1996 tại Calicut, Ấn Độ, với sự chứng kiến của đội ngũ các bác sĩ chuyên gia, đại diện của khoa học, y tế bao gồm bác sĩ gia đình, các bác sĩ tim mạch, thần kinh, nội tiết, bác sĩ phẫu thuật, bệnh lý học, do bác sĩ CK Ramachandran chủ trì.

Tiếp theo đó là bằng cách ăn chay liên tục cho 411 ngày, theo Jain truyền thống trong thời gian năm 2000 - 2001 tại Ahmedabad, Ấn Độ chỉ đạo bởi một đội ngũ quốc tế gồm 21 bác sĩ và các nhà khoa học, Tiến sĩ Sudhir Shah trực tiếp chịu trách nghiệm về chương trình thử nghiệm này.

Theo đó, ông R. Manek chỉ đun sôi nước tiêu thụ hàng ngày từ 11 amto 04:00 chỉ và không có các chất lỏng khác. Vài ngày trước khi ăn chay, ông R.Manek đã phải trải qua các xét nghiệm về y tế. Hồ sơ kiểm tra y tế này bao gồm: thực trạng hàng ngày của xung, huyết áp, hô hấp, nhiệt độ, lượng nước, lượng nước tiểu, trọng lượng… có liên quan đến huyết học và sinh hóa (ở dạng kiểm tra thông thường được thực hiện định kỳ, tức là hàng tháng hoặc hai tuần/lần).

Sau đó kết quả cho thấy, trong 3 tháng đầu ông R. Manek giảm mất 19 kg trọng lượng cơ thể, tỷ lệ nhịp tim và BP giảm nhẹ, giảm hạn mức hô hấp (từ 18 đến nay 10/minute). Ông đã ngừng đi đại tiện từ ngày thứ 16 của quá trình ăn chay. Lượng nước tiểu được duy trì ở khoảng 600 - 800 cc. Ngoài ra, ông không còn bất cứ biểu hiện bất thường nào.

Ngay cả bộ não và khả năng cảm nhận mọi thứ vẫn hoàn toàn bình thường. Không hề có bất cứ sự chấn động nào. Điều đáng ngạc nhiên nhất là, ông đã tự mình trèo lên núi Shatrunjay nổi tiếng (đồi Palitana) cùng với 500 chuyên gia đi cùng mà không cần sự giúp đỡ của bất cứ ai. Như vậy, phải nói rằng, mặc dù đã tốn khá nhiều công sức và tâm huyết nhưng các nhà khoa học cho tới hôm nay vẫn chưa thể tìm ra bí quyết giúp R. Manek có được những năng lực siêu phàm như hiện nay.

2. Bí quyết là ở chỗ chăm chỉ “ngắm mặt trời”

Riêng theo ông R. Manek lý giải thì bí quyết nằm ở chỗ chăm chỉ “ngắm mặt trời”. Ông cho rằng, khi ngắm mặt trời, người ta đã nhận được “sự nuôi dưỡng” từ nó. Ông và một số người đề xướng “bài thể dục” từ mặt trời cũng cho biết, từ rất lâu, người Ai Cập cổ đại, người Aztec ở Mexico, người Maya và bộ tộc thổ dân châu Mỹ đã luyện tập phương pháp này như hình thức tập Yoga Tây Tạng và Ấn Độ.

“Ánh sáng mặt trời cũng tạo ra sự ấm áp giúp cho các môi trường sinh thái thuận lợi cho mọi vật phát triển. Nếu không có mặt trời thì có thể nói sự sống trên trái đất sẽ hầu như không có. Các tia tử ngoại của mặt trời còn có công năng sát khuẩn rất mạnh, có thể diệt trừ giúp con người các vi khuẩn gây ra bệnh hại, bệnh độc. Đặc biệt hơn, ánh nắng mặt trời có khả năng cung cấp cho cơ thể năng lượng để thực hiện các chức năng thiết yếu. Thức ăn mà chúng ta thường dùng chẳng qua cũng chỉ là một dạng năng lượng thứ cấp của năng lượng mặt trời. Mà cơ thể lại có cơ chế tiếp nhận năng lượng trực tiếp từ mặt trời và dự trữ nó để sử dụng khi cần”, Manek giải thích.

Theo lời Tiến sĩ Sudhir Shah, ông R. Manek không có gì khác biệt về các chỉ số sinh học và cơ thể học so với những người bình thường. Nhưng vì sao ông có thể không hề ăn gì từ năm 1995 và không hề uống gì từ 411 ngày.

Tiến sĩ Shah cũng cho rằng, đối với trường hợp của ông R. Manek cần phải mất vài tháng tiếp tục nghiên cứu các dữ liệu đã thu thập được may ra mới đi tới được một kết luận nào đó. Tiến sĩ Shah cho biết, những khảo sát gần đây vẫn chưa làm cho hiện tượng kỳ dị của ông R.Manek trở nên dễ hiểu hơn. Nhưng vẫn còn hy vọng để lý giải chuyện này vì các phương pháp ưu việt hơn đang được áp dụng. Và các nhà nghiên cứu cũng đã kiểm tra được khả năng hoạt động của toàn bộ các hệ thống ở ông R. Manek.

Trường hợp sống khỏe mạnh 16 năm chỉ nhờ ngắm mặt trời là điều xưa nay không có. Nhất là khi các kết quả kiểm tra lâm sàng, sinh hoá, đo đạc điện tử và các kiểm tra khác đều đã được tiến hành và cho kết quả nằm trong mức an toàn.

Các nhà khoa học đã kết luận trường hợp của ông R. Manek là một hiện tượng vô cùng kỳ lạ của cơ thể con người.

Giải thích khả năng kỳ lạ này của ông R. Manek, các bác sĩ cho rằng rất có thể những bài tập nhìn mặt trời đã khiến cho cơ thể ông R. Manek bị thay đổi về mặt sinh học. Một số nhà khoa học khác thì cho rằng có thể cơ thể ông R. Manek sở hữu một loại gen đặc biệt cho phép ông có khả năng sống mà chỉ cần ánh sáng mặt trời và nước trong một thời gian dài đến như vậy.

Mặc dù đưa ra các giả thiết như vậy, song các nhà nghiên cứu vẫn hoàn toàn bó tay trong việc kiến giải một cách rõ ràng và khoa học hiện tượng vốn được xem rằng “không thể có” trong y học. Bởi theo nghiên cứu khoa học thì phần lớn con người có thể sống sót mà không cần ăn trong 50 ngày.

Trong khi đó, chuyên gia thần kinh học Sudhir Shah, người đã từng chịu trách nhiệm chính trong ca thử nghiệm về trường hợp của ông R. Manek trong năm 2000 - 2001  thì cho rằng nếu ông R. Manek không lấy năng lượng từ thực phẩm thì chắc chắn ông ấy phải lấy năng lượng từ những thứ trong môi trường xung quanh, chẳng hạn như ánh sáng.

Từ đó, Tiến sĩ Sudhir Shah rất tin vào lời giải thích của ông R. Manek. Theo một tờ báo đưa ra dẫn chứng là vào năm 2000 - 2001, bác sĩ Shah cũng đã từng tiến hành thử nghiệm tương tự trên ông R. Manek trong vòng hơn một năm trước khi ông R. Manek tuyên bố rằng ông sống bằng khí trời và nước lọc. Theo tờ báo này, có vẻ như bác sĩ Shah và các cộng sự đang chứng minh cho một giải thiết rằng con người có thể sống sót nhờ các nguồn năng lượng tự nhiên như ánh sáng mặt trời hay năng lương dạng siêu việt kiểu tinh thần thay vì đồ ăn và thức uống.

3. Hy vọng những ứng dụng trong việc giải quyết cái đói của con người

Tổ chức Nghiên cứu và Phát triển quân sự của Ấn Độ còn cho rằng ông R. Manek có thể dạy các binh sĩ cách kéo dài thời gian sống sót mà không cần thức ăn, chỉ cần nhìn mặt trời. Những bí mật của ông cũng có thể giúp những nạn nhân của thảm họa tăng khả năng sống sót trong lúc chờ lực lượng cứu hộ.

“Nếu khẳng định của ông ấy được chứng thực, đó sẽ là một bước ngoặt trong khoa học y học”, bác sĩ G. Ilavazhagan, Giám đốc Viện khoa học và Sinh lý học quốc phòng, nói. “Chúng ta có thể giúp cứu mạng sống trong các thảm họa thiên nhiên, các cuộc leo núi hay các cuộc hành trình trên biển… Chúng ta có thể hướng dẫn mọi người kỹ năng sống trong những điều kiện khắc nghiệt mà không có thức ăn hay nước uống”.

Cũng từ đó mà hiện nay phong trào học dưỡng sinh bằng phương pháp truyền năng lượng mặt trời được giới thiệu khá nhiều trên toàn thế giới. Từ năm 1988, nữ tiến sĩ vật lý Barbara An Brennan, chuyên viên khoa học của NASA đã nghiên cứu và viết quyển “Hands of light” (Những bàn tay ánh sáng).

Cùng năm này, nữ tiến sĩ y học Nga Djouna Davitasvili viết quyển “Tôi nghe đôi tay mình” cũng nói về năng lượng sinh học. Năm 1993, bà Barbara lại viết thêm quyển “Light Emerging” (Chữa bệnh bằng ánh sáng)”. Gần đây nhất có 2 cuốn sách tiêu biểu đề cập đến vấn đề này là:  “Ánh sáng, Y khoa của tương lai” - Jacob Lieberman và “Ánh sáng mặt trời và sức khỏe trong thế kỷ 21” - Richard Hobday.

Một vài kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, ở những người thường xuyên luyện tập phương pháp ngắm nhìn mặt trời thì mức hấp thụ năng lượng cao hơn và giảm cảm giác thèm ăn. Trên trang Pravda.ru cũng có báo viết về một trường hợp “ăn nắng” khác, đó là ông Nikolai Dolgoruky sống ở vùng Dnepr của Ucraina.

Tuy nhiên, các nhà khoa học cho rằng, nhìn trực tiếp ánh sáng mặt trời trong một khoảng thời gian ngắn có thể gây mù hay nguy hại cho mắt. Hầu hết các chuyên gia chăm sóc mắt đều khuyên tránh nhìn trực tiếp vào mặt trời.

Mặc dù vậy, là người nghiên cứu tác dụng của việc “ăn” nắng trong nhiều năm, theo Manek, việc nhìn ngắm mặt trời vào lúc bình minh hay hoàng hôn rất tốt cho sức khoẻ. Những người luyện tập phương pháp “tự quang hợp” này thường có đầu óc minh mẫn, khoẻ mạnh hơn về cả thể chất và tinh thần mà không tốn bất kỳ một sự tổn hại nào. Tất nhiên, chỉ nên thực hiện việc này vào những thời điểm an toàn, tức là khoảng 30 phút sau khi mặt trời mọc và 30 phút trước khi mặt trời lặn (một số người khác lại thực hiện vào thời gian khác trong ngày).

CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG KẺ MƯỢN DANH HÒA THƯỢNG TỊNH KHÔNG GIẢNG NGÀY TẬN THẾ

Báo Giác ngộ Online
HỎI :

Tôi là một Phật tử, theo tôi được biết, hiện các nhà khoa học đã khẳng định là không có ngày tận thế nào trong năm 2012 hay ngày 21-12-2012. Nhưng thời gian qua tôi có gặp một số đạo hữu nói rằng HT.Tịnh Không người Trung Hoa nói ngày 21-12-2012 là ngày tận thế, rồi nói lung tung nhiều thứ khác thật vô lý. Qua tìm hiểu tôi biết trang web tinhtong.vn đăng toàn bộ sự việc trên. Không biết đây là website do Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) quản lý hay không mà đăng những thông tin gây hoang mang cho xã hội? Xin quý Báo cho biết quan điểm của Phật giáo về vấn đề này.

ĐÁP:

Bạn Võ Quốc Đạo và Thanh Minh thân mến! 

Đúng như các bạn đã phản ánh, trên website tinhtong.vn đã đăng tải loạt bài “Lời nhắn nhủ của HT.Tịnh Không” được giảng vào các ngày 21 – 22 và 31-12-2011 tại Hương Cảng Phật đà Giáo dục Hiệp hội. Trong các “Lời nhắn nhủ…” ấy ghi rằng HT.Tịnh Không đã tiếp nhận tài liệu của NASA (National Aeronautics and Space Administration), tuy không nói tận thế nhưng ngài cho biết vào các ngày 21 – 22 và 23-12-2012 chính là lúc: “Địa cầu thay quý, sẽ không có ánh sáng mặt trời, trái đất đi vào Vòng đai Quang Tử, nhân loại sẽ trải qua ba ngày trong không gian zero chiều. Địa cầu sẽ chuyển từ không gian 3D (chiều) sang không gian 4D (chiều). Đây là một tai nạn to lớn. Đương nhiên sẽ có rất nhiều người chết! Biến cố này sẽ dẫn tới thế giới mới tinh. Những khoa học kỹ thuật hiện tại có thể sẽ bị hủy diệt… Thế giới sẽ trở về thời kỳ đồ đá. Ai niệm Phật thì sẽ vãng sinh Tây phương, ai không tu không niệm Phật thì sẽ đọa ba đường ác. Người có phước duyên sẽ ở lại thế gian để làm Sơ tổ truyền bá Phật pháp… Tôi nghĩ sự chết chóc của con người sẽ chiếm một tỉ lệ rất lớn, bởi vì nhân loại chưa bao giờ gặp phải sự kiện như vậy xảy ra…”. Sau đó là những lời dạy khuyến tu niệm Phật để cầu sanh Tịnh độ.

Hiện chúng ta chưa biết chính xác HT.Tịnh Không có “nhắn nhủ” như vậy hay không? Bởi website tinhtong.vn đưa tin ấy không do GHPGVN quản lý, chỉ là trang web cá nhân nên thông tin vốn mang tính nội bộ, chủ quan của trang nhà mà thôi. Nhưng chắc chắn một điều, ai cũng biết HT.Tịnh Không là vị Pháp sư Thượng thủ Tịnh tông Học hội Thế giới, một cao tăng của Tịnh tông quốc tế đương đại. Do đó chúng tôi nghĩ rằng, HT.Tịnh Không hẳn đã không nói những điều ấy, người ta vì lý do nào đó đã gán ghép cho ngài, vì nếu ngài nói như vậy chẳng những không đúng với khoa học mà còn sai với Chánh pháp.


HT.Tịnh Không hẳn đã không nói những điều ấy, người ta vì lý do nào đó đã gán ghép cho ngài, vì nếu ngài nói như vậy chẳng những không đúng với khoa học mà còn sai với Chánh pháp.

Trước hết, về mặt khoa học, sự tương tác giữa địa cầu với vũ trụ là vấn đề sinh mệnh của nhân loại trên toàn thế giới, có tính toàn cầu. Không chỉ NASA của Hoa Kỳ mà các cơ quan nghiên cứu không gian trên toàn thế giới đều quan tâm, cung cấp và chia sẻ thông tin cho toàn thể nhân loại biết rõ, đồng thời các chính phủ, nhà nước có trách nhiệm phải chính thức thông báo trên các phương tiện truyền thông tất cả mọi biến động của địa cầu cho nhân dân được biết. Đến thời điểm này, các nhà khoa học và thiên văn trên thế giới đã nhiều lần lên tiếng chính thức phủ nhận niềm tin và dự báo tận thế của một số người vào cuối năm 2012, kết thúc chu kỳ lịch (5.126 năm) của người Maya. Nên những “Lời nhắn nhủ…” (được cho là của HT.Tịnh Không) nói đến sự hủy diệt (theo tài liệu báo cáo của NASA, trong khi NASA và giới truyền thông quốc tế đều có thông báo chính thức phủ nhận điều này), là hoàn toàn thiếu cơ sở.

Về phương diện Chánh pháp, Đức Thế Tôn đã dạy vô thường sanh diệt biến chuyển trong từng sát-na. Không ai có thể biết được phút giây sau sẽ thay đổi như thế nào, mạng người trong hơi thở, hàng Phật tử ý thức sâu sắc về vô thường tấn tốc nên tinh tấn tu hành. Kinh Phật không hề nói đến tận thế hay hủy diệt địa cầu vào cuối năm 2012, và cũng không hù dọa “Ai niệm Phật thì sẽ vãng sinh Tây phương, ai không tu không niệm Phật thì sẽ đọa ba đường ác…” theo kiểu phao tin đồn nhảm về tận thế của một số giáo phái thờ Thượng đế cuồng tín ở Âu Mỹ, trong thời gian vừa qua.

Hiện tượng các hành tinh xếp thẳng hàng sẽ không xảy ra vào ngày 21/12/2012. Ngay cả khi hiện tượng đó xảy ra, nó cũng chẳng gây nên bất kỳ vấn đề nào. Don Yeomans, Giám đốc Chương trình Các vật thể gần trái đất của NASA khẳng định.

Hiện nay, một số Phật tử tu tập theo Tịnh Độ tông ở Việt Nam có dấu hiệu hoang mang, lo lắng vì tin vào các “Lời nhắn nhủ…” thiếu cơ sở khoa học và sai với Chánh pháp kia. Vì các “Lời nhắn nhủ…” được gán cho HT.Tịnh Không nên một số người tin nhận liền mà không cần suy xét kỹ lưỡng, đồng thời lại tỏ ra bi quan với cuộc sống, ngừng các dự án làm ăn và học tập để tu niệm mong được vãng sanh trong ngày “tận thế”. ĐĐ.Thích Đạo Thịnh cho biết:

“Ngày 14-1-2012, một phái đoàn Phật tử ở Hà Nội đã tới chùa Khai Nguyên hỏi tôi: Thưa thầy! Có đúng là ngày tận thế sắp đến và sẽ xảy ra không ạ? Chúng con rất tin lời của HT.Tịnh Không nói. Bây giờ chúng con phải làm sao ạ…? Có hai mẹ con trong phái đoàn còn nói: Thực sự mấy ngày nay gia đình chúng con không biết làm gì nữa. Con gái con đã xin nghỉ học để ở nhà niệm Phật, không biết chúng con có còn đủ thời gian để vãng sinh nữa không? Hôm nay mẹ con chúng con đã đem sẵn tư trang rồi, nếu thực có ngày tận thế thì xin thầy cho mẹ con nhà con ở lại chùa để tu tập cầu giải thoát” (HT.Tịnh Không nói gì về ngày tận thế?).

Rõ ràng, các “Lời nhắn nhủ…” đã đem lại những hiệu ứng tiêu cực, bi quan cho một bộ phận đời sống xã hội cũng như chẳng mang đến lợi ích chân thực nào cho sự tu tập của hàng Phật tử. Do đó, người Phật tử chân chính cần phát huy Chánh kiến, tin sâu giáo pháp của Phật Thích Ca, tỉnh giác nhận chân sự thật để không tin theo những điều sai quấy, dù điều ấy được gán cho bất cứ ai. Đành rằng sự tinh tấn trong tu học rất quan trọng và cần thiết nhưng sự siêng năng ấy tuyệt không xuất phát từ sợ hãi, nhất là lo sợ tận thế mà gắng niệm Phật cầu vãng sanh lại càng rối loạn hơn. Đó không phải là Chánh tinh tấn trong Phật giáo.

Mặt khác, có thể đây là một trong những thủ đoạn chống phá uy tín của HT.Tịnh Không nói riêng và Tịnh Độ tông trên thế giới nói chung một cách rất tinh vi nên hàng Phật tử phải đề cao cảnh giác. Vì những ai tin tưởng vào các “Lời nhắn nhủ…” kia thì sau năm 2012 sẽ vỡ mộng, mất niềm tin vào Phật pháp. Cũng như hiện tại có một vài vị giảng sư cũng dựa vào niềm tin tận thế vào cuối năm 2012 để kêu gọi mọi người tu nhân tích đức, tinh tấn niệm Phật. Khuyến hóa tu học theo cách này chỉ lợi bất cập hại, vì Phật dạy “vô thường tấn tốc” nên việc tu niệm từ xưa cho đến giờ phải gấp rút “như cứu lửa cháy trên đầu” chứ không phải vì sợ tận thế vào cuối năm 2012 mới nỗ lực tu học.
Những “Lời nhắn nhủ…” ấy trong chừng mực nào đó đã khiến gây bất an, hoảng hốt cho một số người nhẹ dạ, cả tin, ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội. Do vậy, trước khi GHPGVN và các cơ quan chức năng chính thức can thiệp để làm trong sáng Chánh pháp, thiết nghĩ, ban quản trị website tinhtong.vn và website khác có đăng các “Lời nhắn nhủ…” cần phải nhanh chóng tháo gỡ bài ra khỏi trang nhà để hàng Phật tử sơ cơ bớt hoang mang, lo lắng và tinh tấn tu tập đúng theo Chánh pháp.

Chúc các bạn tinh tấn!

Wednesday, February 22, 2012

NGOẠI CẢM TRONG ĐỜI SỐNG NGƯỜI VIỆT

Markus Schlecker 

Một phong trào có tên chủ nghĩa tâm linh bắt đầu nở rộ ở phương Tây từ đầu đến giữa thế kỷ 19
         
Niềm tin vào sự hiện hữu của linh hồn không phải là mới, cũng như các kỹ thuật liên lạc với họ. Nhưng chủ nghĩa tâm linh đánh dấu bước ngoặt quan trọng. Nó thu hút chủ yếu giai cấp trung lưu và thượng lưu có học và mở đường cho sự tìm hiểu có tính hệ thống hơn về hiện tượng siêu nhiên. Lĩnh vực tâm linh, tâm lý học phát triển từ cuối thế kỷ 19, với sự sáng lập Hội Nghiên cứu Ngoại cảm ở London và một hội tương tự ở New York. Triết gia C.S. Peirce cũng rất quan tâm lĩnh vực này, hoạt động độc lập và cố gắng điều tra rộng rãi các hiện tượng siêu nhiên.
         
Trong mấy thập niên sau đó, các nhà tâm linh, tâm lý học xác định và phân loại những hiện tượng không thể giải thích bằng kiến thức khoa học đương thời. Sau một giai đoạn háo hức và nở rộ trong thập niên 1970, người ta bắt đầu ít quan tâm đến lĩnh vực này. Ngày nay, tâm linh tâm lý học vẫn là lĩnh vực nghiên cứu gây tranh cãi, bị nhiều người hồ nghi. Một số, có cả các khoa học gia có tiếng, bảo vệ nó. Những người thực hành và ủng hộ nói đó là nghiên cứu hợp pháp về những hiện tượng mà khoa học chưa có mô hình lý giải.
         
Các nhà nhân học (anthropology) đã nghiên cứu việc lên đồng, và những người nhìn thấy cái vô hình trong nhiều nền văn hóa. Những nghiên cứu ban đầu cho đến cuối thập niên 1950 được dẫn dắt bằng niềm tin cơ bản rằng những tư tưởng và hành vi đó biểu lộ suy nghĩ thô sơ, trái ngược với suy luận hữu lý của phương Tây. Vào đầu thập niên 1960, nhà nhân học người Anh Evans-Pritchard ghi nhận ngành của ông nói chung thù địch trước các niềm tin và hành vi tôn giáo.
         
Thay đổi quan niệm
         
Đầu thập niên 1960 cũng chứng kiến việc ra mắt tác phẩm Savage Mind của Claude Levi-Strauss, khẳng định cách suy luận Tây và phi Tây đơn giản chỉ là biến tấu của cùng một cấu trúc suy nghĩ chung của con người.
         
Kể từ đó, nhiều nhà nhân học cố gắng tìm hiểu những niềm tin không phải từ quan niệm quy ước của mình, mà dựa trên quan niệm của chính nền văn hóa mà họ quan sát. Ngày nay, công thức căn bản của các nhà nhân học là ‘đừng vội không tin’.
         
Các nhà nhân học đã ghi chép sự phục hồi của đời sống tâm linh ở Việt Nam thời Đổi Mới, mà trọng tâm là hành vi và niềm tin tâm linh.
         
Nhiều người nhìn thấy sự liên quan giữa thương mại và chủ nghĩa tiêu thụ gia tăng ở vùng đô thị, cùng với sự nở rộ của dịch vụ tín ngưỡng.
         
Tại một khu nông thôn của Hải Phòng, nơi tôi có một năm nghiên cứu thực địa (2006/07), có vẻ sự phục hồi tâm linh được thúc đẩy không phải vì chủ nghĩa tiêu thụ mà vì nghèo đói và sự tan rã cộng đồng do người ở đó đi ra thành phố.
        
 Người dân làng nhìn những vấn đề này có liên quan đến các oan hồn trong làng. Trước thời cải cách, nhiều ngôi mộ đã bị phá hủy hoặc chưa bao giờ được xây tử tế vì thiếu tiền. Nhiều gia đình không biết nơi chôn các liệt sĩ.
         
Tìm hài cốt
          
Tôi bắt gặp cái tên Nguyễn Văn Liên, là một người đã giúp nhiều gia đình tìm người thân đã chết, chủ yếu là liệt sĩ, ở gần đó và cả những nơi rất xa. Có trường hợp một cụ già lặn lội đến vùng của người K’tu để lấy xương của em trai, nhờ hướng dẫn của ông Liên. Có lúc người dân chỉ việc đến xã bên cạnh để tìm hài cốt một người chết trong cuộc chiến chống Pháp.        

Số lượng khách hàng của ông Liên dường như ngày càng tăng. Chính tôi chứng kiến việc phát hiện một ngôi mộ người dân bên trong xã, nhờ tài ngoại cảm của ông Liên. Nhưng cũng có những sự chỉ trích của những người nghi ngờ sự chính xác. Có một số kể những ví dụ cáo buộc chỉ dẫn của ông Liên đã sai lạc.         

Ông Liên và nhiều nhà ngoại cảm khác (như bà Phan Thị Bích Hằng) đã tham gia những chương trình nghiên cứu do Chính phủ bảo trợ từ thập niên 1990 điều tra khả năng của họ trong việc giúp tìm mộ liệt sĩ. Trong 10 năm, hàng ngàn ngôi mộ được phát hiện và các nhà ngoại cảm được nhà nước phong thưởng.
          
Sự hợp tác giữa nhà ngoại cảm và giới khoa học, đại diện chính quyền thể hiện sự phát triển kinh ngạc. Nhưng bên ngoài các chương trình như vậy, nhà ngoại cảm vẫn cảm thấy cần phải tìm kiếm sự chấp nhận của cộng đồng vì nhiều người bị tố cáo “buôn thần bán thánh”. Ông Vũ Thế Khanh, tổng giám đốc Liên hiệp Khoa học Công nghệ tin học ứng dụng, cho rằng 90% các nhà ngoại cảm là “đồ rởm”.

Câu hỏi
         
"Là một nhà nhân học, tôi nghĩ khi đặt những câu hỏi như vậy, tôi có thể học được nhiều về sự phức tạp của đời sống xã hội Việt Nam và cách thức người dân ở đây giải thích thế giới chung quanh. Nói cách khác, công việc của các nhà ngoại cảm và nhu cầu có dịch vụ của họ cung cấp điểm tham chiếu vô giá về đời sống người Việt trong thế kỷ 21."
         
Là một nhà nhân học, một câu hỏi tôi đặt ra là nhu cầu tìm nhà ngoại cảm và mong muốn tìm mộ xuất phát từ cái nghèo trong vùng và biến đổi kinh tế - xã hội to lớn ở Việt Nam ở mức độ nào. Cư dân địa phương dường như nhìn thấy sợi dây nhân quả giữa oan hồn trong vùng và sự vất vả của họ.
         
Một câu hỏi khác là tín ngưỡng lâu đời của người Việt – ví dụ niềm tin vào kiếp sau – liệu có được củng cố thêm bởi ngoại lực khi đất nước này tiếp xúc thêm với truyền thông nước ngoài. Tôi đang nghĩ đến các phong trào tôn giáo và tinh thần mới ở Tây phương, cùng xu hướng nghi ngờ các định nghĩa hẹp của khoa học và sự thật. Nhiều nhà ngoại cảm, trong đó có bà Phan Thị Bích Hằng, nhắc đến những nghiên cứu ở nước ngoài.
        
Sau cùng, tôi rất quan tâm đến cách người ta đặt vấn đề ngoại cảm trong quan hệ với kiến thức, sự thật và quan niệm đạo đức. Điều tôi tìm thấy là các nhà ngoại cảm có thể được chấp nhận khi họ chứng tỏ có công lao, điều mà sau đó được chuyển hóa thành bằng chứng rằng kiến thức của họ là có thật. Có thể thấy điều này ở bà Bích Hằng. Cách nhìn nhận rộng rãi về bà như một nhà ngoại cảm thực tài biến chuyển cùng với uy tín người ta dành cho.
        
Ban đầu, bà Bích Hằng thường bị người dân bỏ qua, sợ hãi và nghi ngờ. Khi chuyện này bắt đầu ảnh hưởng đến gia đình bà, cán bộ địa phương yêu cầu bà dùng kỹ năng của mình để “làm điều có ích cho quê hương, để mọi người thừa nhận tài năng của chị”. Một việc quan trọng cho ngôi làng của bà là khi bà tìm thấy mộ của một vị tướng nhà Trần và di tích một ngôi chùa cổ. Trong cả hai trường hợp, người chết đã hướng dẫn bà đến tận nơi, và sau này, cán bộ của Bộ Văn hóa chứng nhận đó là di tích lịch sử.

Sự gắn kết giữa công lao và sự chân thật rõ ràng cũng đóng vai trò quan trọng trong những lần xuất hiện gần đây của bà Bích Hằng. Bà mặc quần áo Phật tử và có mặt ở các buổi lễ và hội nghị Phật giáo. Chuyện này giúp phân biệt công việc của bà với những người “buôn thần bán thánh”. Nói cách khác, sự thật được thiết lập dựa trên lý do thực dụng, theo như triết lý của William James.

Phần cuối: SỐNG 100 TUỔI VẪN KHOẺ MẠNH? KHÔNG PHẢI LÀ GIẤC MƠ

Gs. Hồng Chiêu Quang


VẬN ĐỘNG VỪA SỨC: là nền tảng cơ sở thứ ha.

Ánh sáng mặt trời, không khí, nước và vận động là khởi nguồn của sinh mệnh và sức khỏe.

Hình thức vận động nào là tốt nhất? Đi bộ là vận động tốt nhất. Đi bộ có thể phòng bệnh xơ cứng động mạch, có thể làm cho động mạch từ xơ cứng sang mềm mại. Trong tập luyện thì đi bộ đối với bệnh huyết áp, bệnh cholesteron, bệnh béo phì đều rất tốt.

Vận động quá sức rất nguy hại. Đi bộ phải đi cho vừa sức. Đi như thế nào thì tốt? Nhớ kỹ 3 chữ: 3, 5, 7. “3” là một lần đi bộ 3 km hết khoảng trên dưới 30 phút. “5” là tuần lễ vận động ít nhất 5 lần. “7” là vận động cho vừa sức: tuổi của bạn + nhịp đập tim = 170.

Thái cực quyền là một môn vận động rất tốt. Đây là một môn tập luyện có sự kết hợp giữa âm và dương, môn này có thể cải thiện được hệ thống thần kinh và rất quan trọng là cải thiện sự cân bằng công năng. Người Mỹ đã làm thí nghiệm đối chiếu giữa luyện tập thái cực quyền và luyện tập bằng dụng cụ trong phòng . Kết quả so sánh: nhóm tập thái cực quyền cân bằng công năng tốt hơn, đi không bị ngã, bệnh gãy xương giảm 50%. Qua thí nghiệm khoa học trên, chúng ta rút ra: cần vận động với hai môn đi bộ và thái cực quyền.

BÀI THUỐC , TRỪ RƯỢU : Nền tảng cơ sở thứ ba.

Hút thuốc lá không tốt, chúng ta không cần bàn tới nữa. Nếu bỏ được thuốc, các bạn nhất định nên bỏ ngay. Còn nếu chưa bỏ ngay được thì một ngày không được hút quá 5 điếu. Hút không quá 5 điếu 1 ngày thì mức nguy hại có hạn, nếu vượt quá 5 điếu thì mức nguy hại tăng gấp bội.

Rượu có thể uống được chút ít không quá 50-100 cc mỗi ngày . Uống nhiều rượu thì bất lợi. Có một thống kê :50% tội phạm trong nhà lao , 40% sự cố giao thông, 25% người bệnh có liên quan đến rượu . Uống chút ít rượu có thể là bạn của sức khỏe, còn uống nhiều sẽ là tội phạm.

CÂN BẰNG TÂM LÝ : nền tảng cơ sở thứ tư.

Hôm nay tôi muốn giới thiệu với các bạn vấn đề quan trọng nhất là cân bằng tâm lý, đó là biện pháp quan trọng, là chiếc chìa khóa vàng để bảo vệ sức khỏe cho chúng ta. Tác dụng của cân bằng tâm lý vượt hẳn mọi tác dụng tâm lý khác.
Ở Bắc Kinh có rất nhiều cụ già sống khỏe mạnh trên 100 tuổi. Họ đã sống khỏe mạnh như thế nào?Ăn ngon hay có nhiều tiền? Không phải. Những người già sống khỏe mạnh rất lạ, có người đi ngủ sớm và dậy sớm, nhưng cũng có người ngủ muộn và dậy muộn, có người nói họ không hay ăn thịt mỡ, có người nói người già sống khỏe mạnh không hút thuốc, nhưng cũng có người vẫn hút, có người không uống trà , có người hay uống trà. Cuộc sống quả là muôn màu muôn vẻ. Nhưng có điều mà các cụ già khỏe mạnh đều giống nhau, đó là ai cũng sống thoải mái nhân hoà, lương thiện.

Tại sao cân bằng tâm lý lại quan trọng đến như vậy ? Chúng ta nói xơ cứng động mạch phải mất mấy năm mới làm cho huyết quản tắc nghẽn lại. Thường ở độ tuổi 40 - 50 trở lên , mỗi năm huyết quản hẹp lại khoảng 1 - 2% , nếu bạn hút thuốc hoặc bị cao huyết áp, máu nhiễm mỡ v.v… thì tốc độ ấy lên đến 3-4%, nhưng nếu bạn nổi giận thì có thể chỉ trong một phút, động mạch thu hẹp đến 100%, lúc đó chỉ có chết . Tình cảm có tác động ghê gớm như vậy.
Theo báo cáo của Mỹ, có người đàn ông 53 tuổi khi đi làm về đẩy cửa vào nhà thấy vợ, con cãi nhau, chửi nhau thậm tệ, anh ta định khuyên vài câu nhưng không kịp mở miệng, đứa con trong cơn thịnh nộ đã cầm dao gọt hoa quả đâm một nhát vào tim bà mẹ từ trước ngực qua sau lưng, làm bà mẹ chết ngay tại chỗ, người cha thấy vậy cũng ngã xỉu chết luôn. Đưa ra pháp y giải phẫu, thấy người đàn ông bị xơ cứng động mạch, các mạch máu vẫn trơn tru không bị tắc nghẽn. Nhưng tại sao lại chết ? Đó là do động mạch co giật tắc nghẽn, cả trái tim cũng ở trạng thái co lại , không giãn ra được.

Báo chí còn đăng ở Ai Cập có vụ một bác sĩ thiếu tinh thần trách nhiệm, bệnh nhân hôn mê, đồng tử giãn to, cho rằng bệnh nhân đã chết, đưa xuống nhà xác. Khi ở nhà xác, bệnh nhân tỉnh lại, thấy mình nằm trong quan tài, sợ quá dùng hết sức đội nắp quan tài bò ra. Đang trong lúc một chân ở ngoài, một chân còn ở trong quan tài thì có một hộ lý đẩy cửa nhà xác bước vào. Vì không bao giờ nghĩ có chuyện như vậy, nên vừa nhìn thấy có người từ trong quan tài bước ra với dáng tiều tụy đau khổ đến như vậy, người hộ lý chỉ kịp hét lên định chạy ra ngoài nhưng không kịp, đã ngã xuống chết tại chỗ. Ngược lại bệnh nhân kia lại được cứu sống. Tòa án xử phạt người bác sĩ 3 năm tù vì tội không làm tròn chức vụ.

Có lúc chỉ một lời nói cũng có thể lấy đi một sinh mạng của con người. Ở bệnh viện chúng tôi, thứ bảy mới được thăm bệnh nhân. Có một bà vợ đến thăm chồng, tay xách nải chuối, dưa hấu, đủ thứ, rất phấn khởi, song chỉ vì một câu nói của bà vợ mà ông chồng suýt mất mạng. Bà ấy kể lại tối hôm qua đài truyền hình đưa tin trong sự biến ở Đông Âu năm 1989, ông Chiôtxaixưkhôt đã bị bắn chết. Ông chồng cho rằng như vậy là bừa bãi, bà vợ thì bảo : “Bắn chết là đáng.”

Hai vợ chồng tranh luận về cái chết của ông Chiôtxaixưkhôt, kết quả là chưa đầy 3 phút tranh luận, ông chồng bỗng thấy ngực đau nhói, mặt tái nhợt, toát mồ hôi đầy người. Thấy tình hình như vậy, bà vợ vội tìm bác sĩ đến đo điện tâm đồ thì toàn bộ cơ tim đã cứng. Khẩn trương cấp cứu, đưa qua phòng giám hộ, nửa giờ sau được phục hồi trở lại. Hôm ông chồng xuất viện, bà vợ tặng cho bệnh viện chúng tôi một lá cờ cảm ơn cứu mạng và nói : “Tôi biết tác hại của cái giận đến mức nào rồi, tôi có thể hứa với các anh là ông Chiôtxaixukhôt sau này có bị chết bắn hay như thế nào vợ chồng tôi cũng không quan tâm đến nữa, ông ấy nói sao tôi nghe vậy, thế là ổn”.

[Đoạn này ngắn, nhưng rất hay. Trong cuộc sống của chúng ta cũng có rất nhiều cuộc cãi vả vì những chuyện không đâu, để rồi kết quả là mất tình cảm với nhau, chưa nói đến có thể bị nhồi máu cơ tim như ông này]

Sự thay đổi tình cảm quả là rất ghê gớm. Có một vị giáo sư vì tức giận với một cậu sinh viên, đã nói : “Bây giờ giới trẻ tốt cũng nhiều, nhưng không nghe lời thầy giáo cũng lắm. Chưa tốt nghiệp mà anh đã ăn nói chả ra làm sao, vô lễ đến thế !”. Vị giáo sư tức giận đập bàn, đứt mạch máu não, bán thân bất toại, đi không được, ngồi cũng không xong, cố nắm lấy cáí bàn nhưng cũng không kịp, đã ngã vật xuống. Cậu sinh viên đứng dậy, chỉ vào giáo sư và nói : “Tôi nói cho ông biết: pháp luật đã quy định là làm cho người tức giận mà chết không bị phạm pháp”. Nói xong rồi bỏ đi. Ở đây tôi không bàn đến đạo đức của cậu sinh viên này, chỉ nói rằng người già mà tức giận là không nên. Cáu giận, huyết áp sẽ tăng nhanh đột ngột.

Chúng tôi đã theo dõi một bệnh nhân chỉ vì một con muỗi mà huyết áp tăng lên nghiêm trọng. Ông ta từ nước ngoài mới về nước. Vào lúc 10 giờ tối chuẩn bị đi ngủ. Trong màn có một con muỗi. Một ông già 60 tuổi đi đập muỗi đâu có dễ. Mãi cho đến 4 giờ sáng con muỗi mới bị đập chết. Ông ấy nghĩ hãy nằm thêm nửa giờ nữa xem có còn con muỗi nào nữa không. Sau nửa tiếng, thấy yên ổn, ông mới bắt đầu ngủ, nhưng vì đã quá giấc nên nằm mãi không ngủ được. Ông uống thuốc hạ huyết áp. Bình thường huyết áp của ông chỉ 120, nhưng đến hồi sáng đo lại lên đến 196. Bác sĩ bảo ông có thể uống thêm thuốc. Ông uống tăng gấp đôi không hạ, tăng tiếp đến 8 lần mà vẫn không hạ, phải đưa nhanh đến bệnh viện để xử lý. Lúc đó huyết áp mới từ từ hạ xuống, tuy chưa xuất huyết não, nhưng mũi đã chảy máu. Chỉ vì một con muỗi mà huyết áp tăng lên 76.

Vấn đề tình cảm này quả đã gây ra nhiều chuyện bất ngờ. Trạng thái tâm lý con người rất quan trọng, mắc bệnh và phục hồi sức khỏe tùy theo từng người, không giống nhau. Có người dễ mắc bệnh nhưng có người không dễ mắc bệnh chút nào, điều đó quan hệ mật thiết đến tâm lý. Bệnh tật chúng ta chịu ảnh hưởng rất lớn của tâm lý. Ở Đông Bắc có một bệnh nhân 38 tuổi, bị đau ở vùng ngực, đi siêu âm, bác sĩ bảo : “ không xong rồi, ở trong gan anh có một khối u đã lớn 7cm”. Vừa nghe thấy thế, anh ta mặt mày tái nhợt, ngã vật xuống đất, đứng không nổi, tay chân run lẩy bẩy. Về nhà, ăn ngủ không được, con mới 8 tuổi, mình chết ai nuôi nó đây ? Càng nghĩ lại càng không ngủ được, lại càng đau, lại phải đến phòng y tế để xin thuốc. Bác sĩ ở đây rất tốt, quan tâm đến hoàn cảnh của anh, khuyên : “Ung thư gan giai đoạn cuối tôi cũng không có cách nào để chữa, nhưng tôi có cách: anh muốn ăn gì thì cứ ăn, thích chơi gì thì cứ chơi”. Tình trạng ấy kéo dài đến cuối tháng, anh ta chỉ còn da bọc xương, không ngồi dậy được. Chủ tịch công đoàn đến thăm, động viên an ủi anh ta và hỏi anh ta có nguyện vọng cuối cùng gì. Anh ta trả lời:

- Đối với tôi mọi thứ không còn gì nữa, điều đáng tiếc nhất là chưa được nhìn thấy Thiên An Môn. Tôi muốn được nhìn thấy nó, có chết cũng yên tâm.

Chủ tịch công đoàn thấy tình trạng bệnh tình của anh cũng rất thương tâm, bèn nói:
- Được, để đưa anh đi xem Thiên An Môn.

- Tôi đi không nổi.

- Đừng lo, tôi có cách.

Chủ tịch công đoàn cử 4 anh thanh niên khiêng anh ta lên xe lửa đến Bắc Kinh và viếng thăm Thiên An Môn. Đã đến lúc phải trở về, có người nói : “Đã đến Bắc Kinh rồi thì xem có bác sĩ nào giỏi, có cách nào hãy đến khám xem”. Kết quả là đến một bệnh viện ở Bắc Kinh, có một giáo sư là bạn của tôi chuyên nghiên cưú viêm gan siêu vi B khám cho anh ấy. Khám xong anh ấy hỏi :

- Tôi bị bệnh gì?

-Anh không có bệnh gì cả.

- Đùa! Sao tôi lại không có bệnh? Tôi đau gan, sắp chết đấy!

- Anh dọa tôi đấy à?

- Sao lại dọa?

- Trường hợp này rất nhiều. Có rất nhiều người túi nang sưng phồng giống như anh vậy, bị chẩn đoán là ung thư, hoảng sợ cho là mình mắc bệnh, kết quả tinh thần suy sụp, nhưng trên thực tế là chẳng có bệnh gì cả.

Bác sĩ đã giải thích với anh ấy như vậy. Bốn thanh niên khiêng anh ấy đi nghe nói vậy cũng rất phấn khởi, nói : “Anh không có bệnh chúng tôi còn khiêng anh làm gì ?”. Bác sĩ bảo anh ta : “Tình trạng anh như vậy , tôi chứng minh cho anh thấy, tôi sẽ chịu trách nhiệm, anh yên tâm đi”. Điều đó làm cho anh ngày càng nhận thức ra. Trở về Đông Bắc, anh ăn được, ngủ được và đi làm trở lại bình thường. May mà anh ấy muốn đi xem Thiên An Môn, nếu không thì đã thành nắm xương tàn rồi.

Tác dụng ám thị cũng rất ghê gớm. Thế nào là tác dụng ám thị? Ví dụ như bác sĩ chữa bệnh cao huyết áp, cấp cho bệnh nhân một loại thuốc viên nang rất đẹp, một nửa màu vàng, một nửa màu xanh và nói : “Đây là thuốc nhập từ Mỹ về, rất tốt. Anh uống đi, tuần sau đến kiểm tra lại”. Thực ra viên thuốc ấy bên trong toàn là tinh bột, nhưng qua tuần sau rất nhiều bệnh nhân đến kiểm tra huyết áp đều khôi phục ở trạng thái bình thường, ít đau và ngủ rất tốt. Sau khi phẫu thuật cắt dạ dày thường rất đau không chịu nổi nên phải tiêm cho bệnh nhân một mũi “moocphin”. Hễ tiêm là 40% thấy hết đau, thực ra thuốc giảm đau đó là muối sinh lý. Tiêm thuốc moocphin thật thì chỉ có 95% bệnh nhân không đau, còn 5% vẫn kêu đau.

Người Mỹ chữa bệnh ung thư chữa từng người một nên bệnh nhân chết nhanh. Vậy chữa như thế nào thì tốt? Chữa theo từng nhóm tổ, các bệnh nhân ung thư cứ 7 - 8 người mỗi tuần đến chữa một lượt. Họ ngồi lại với nhau, trao đổi trò chuyện tán gẫu với nhau, trong tâm lý có gì khó chịu đều nói ra hết để cùng nhau tương trợ động viên lẫn nhau. Điều trị từng tổ nhóm như vậy, tình cảm của mọi người rất tốt , kết quả là tác dụng phụ do hoá trị rất ít, tỉ lệ chết giảm thấp. Họ đã thành lập “câu lạc bộ chống ung thư”, sau đó đã tổng kết kinh nghiệm tại sao bác sĩ nói chỉ sống thêm được nửa năm mà hai mươi năm sau có người vẫn còn sống. Chưa một ai trong số họ nói đã dùng thuốc tốt kéo dài tuổi thọ mà họ đều nói có cuộc sống tình cảm rất vui vẻ thoải mái, tràn đầy niềm tin, hi vọng nào tương lai, chẳng sợ việc gì. Tâm lý tâm thái cân bằng, gia đình hoà thuận đầm ấm, cơ quan đoàn thể mọi người quan tâm, đó là điều quan trọng, còn thuốc là thứ yếu.

Thưa các bạn, trạng thái tâm lý phấn chấn là chống ung thư tốt nhất. Trên thực tế, một con người có tâm lý cân bằng, bệnh gì cũng không dễ mắc, nếu có bệnh cũng nhanh chóng khỏi. Bất cứ bệnh nào cũng đều như thế, tác dụng tâm lý này vô cùng mạnh mẽ, có khi mạnh đến mức không tưởng tượng được.

Gần đây, chúng tôi có một bệnh nhân bị tắc nghẽn động mạch tim và nhiều vùng khác cũng bị tắc nghẽn, thành tâm thất có u, lại có cả cục máu đông. Bác sĩ bảo với ông ta là hết cách rồi, chỉ còn một tia hy vọng là lên Bắc Kinh đến bệnh viện An Trinh làm phẫu thuật nối cầu quán mạch, nong mạch và cắt bỏ u đi. Tôi đã khám cho ông ta và nói: “anh muốn làm cũng được, nhưng phải làm một thí nghiệm xem cơ tim có còn sống hay không. Nếu cơ tim còn sống thì việc bắt cầu có hiệu quả, còn cơ tim đã chết thì có bắt cầu cũng không có hiệu quả”. Thí nghiệm cho thấy cơ tim đã chết. “Thế là hết”, ông ta nói như vậy.

Thật là may mắn hôm đó chúng tôi có bài giảng về sức khỏe ( mỗi tháng giảng một lần ). Ông ta đã nghe bài giảng này và nói : “nghe bài giảng này hơn là đọc sách mười năm. Cả đời tôi làm giám đốc ngân hàng, chẳng biết gì đến sức khoẻ. Bây giờ tôi mới biết 4 nền tảng cho sức khỏe của chúng ta quả là quá tốt”. Sau đó vị giám đốc ngân hàng này về nhà tự tổng kết thành 4 câu :

- Câu thứ nhất : quên quá khứ đi. Trước đây ăn trên ngồi trước, cơm bưng nước rót, tiền hô hậu ủng… bây giờ không làm việc nữa mà vẫn còn nghĩ đến, tâm lý thấy khó chịu, nên quên quá khứ đi.

- Câu thứ hai : không nhìn hiện tại. Giám đốc ngân hàng bây giờ so với mình trước đây còn oai phong lẫm liệt hơn, càng so sánh càng thấy tức nên không nhìn hiện tại nữa.

- Câu thứ ba : hưởng thụ hôm nay. Hàng ngày dưỡng lão , chăm sóc cây hoa , nghe đài…

- Câu thứ tư : hướng tới ngày mai. Trái tim tôi bảo dưỡng tốt , tôi có thể sống đến hơn 90 tuổi.

Nghĩ vậy, ông rất phấn chấn. Nhờ vậy, sau 2 năm, kiểm tra lại bệnh, chụp phim thấy tim ông nhỏ lại khá nhiều. Đồng chí chủ nhiệm khoa phóng xạ nói :“nhầm rồi. Cầm nhầm phim rồi”. Tôi bảo :“nhầm đâu, nếu cần thì chụp lại”. Đây là một trường hợp hiếm có. Tim thường chỉ càng ngày càng to ra, làm sao có thể nhỏ lại như thế được, quả là lần đầu tiên tôi gặp. Làm siêu âm, thấy tim nhỏ lại rất rõ, chức năng tim được cải thiện tốt, huyết tan không còn nữa, hiện nay ông ấy sống rất khỏe, ngày ngày đều leo núi.

Viện khoa học quốc gia có một viện sĩ nổi tiếng. Một hôm có người báo với ông rằng người bạn của ông đã chết. Người đó là thư ký của ông trước đây, là người bạn thân thiết đã làm việc cùng ông mấy mươi năm, nay đột ngột chết, ông vô cùng thương tiếc, xót xa. Đến tối nhà khoa học này cũng chết luôn.

Mối quan hệ giữa trạng thái tâm lý đối với sự phát sinh và phát triển bệnh rất lớn. Con người chỉ cần có một trạng thái tâm lý tốt sẽ có một khả năng kháng bệnh rất lớn, sức đề kháng rất mạnh, nhưng nếu tinh thần suy sụp thì coi như đã hết. Vì vậy, ổn định tâm thái rất quan trọng. Vậy làm sao có thể giữ được ổn định tâm thái ? Có 3 câu nói : “Đối xử với mình đúng đắn. Đối xử với người khác đúng đắn. Đối xử với xã hội đúng đắn”.

Một con người muốn tâm thái ổn định phải đối xử đúng đắn với bản thân mình, đem tọa độ nhân sinh của mình đặt đúng vị trí, đúng tiêu chuẩn không nên vượt quá, cũng không nên tự ti. Ngoài ra, đối xử với người khác, với xã hội cũng phải đúng đắn, phải luôn luôn có tấm lòng cảm kích với xã hội. Có hai thái độ đối với xã hội : lạc quan, tích cực và bi quan, tiêu cực. Chỉ cần lạc quan, tích cực nhìn xã hội thì thấy xã hội này rất tốt đẹp. Còn nếu bạn dùng thái độ bi quan tiêu cực để đánh giá xã hội thì xã hội này thật đáng sợ.

Ngày nay đã mở cửa đổi mới, rất nhiều lợi ích đang được điều chỉnh, những sự việc chưa ổn định, chưa cân bằng đang còn nhiều. Nếu bi quan thì hằng ngày có thể bị bực tức, cáu gắt từ sáng đến tối, mỗi việc đều có thể làm cho bạn tức đến chết được. Còn ngược lại, nếu lạc quan thì, nói thực với bạn, thời kỳ này là thời kỳ tốt nhất từ khi ĐCS được thành lập cho đến nay. Nền kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao, đời sống nhân dân từ trước đến nay chưa bao giờ tốt hơn hiện tại. Nếu bạn muốn phấn chấn lạc quan nhìn xã hội thì hãy xem tivi, nghe phát thanh, hằng ngày đều có những tin tức hay bạn tha hồ vui vẻ từ sáng đến tối. Cho nên có nhà triết học đã nói : “Cuộc sống giống như một cái gương. Bạn cười nó cũng cười, bạn khóc nó cũng khóc”.

Có một vị giáo sư nổi tiếng ở một trường đại học nổi tiếng sống rất khổ sở. Hai người con của họ, sau khi đỗ thạc sĩ và tiến sĩ đều ở lại Mỹ, như vậy thì tốt quá đi chứ ? Một hôm ông giáo sư bước xuống cầu thang đến bậc cuối cùng chẵng may bị trượt chân ngã. Vì dùng tay đỡ nên bị gãy xương cánh tay. Bà vợ già yếu không thể giúp ông được, phải thuê một người giúp việc. Người giúp việc lại không biết làm việc, bệnh tật lâu ngày, ông giáo sư lại sinh thêm bệnh mới không đi tiểu được, phải cắm ống dẫn tiểu. Ở nhà chỉ cô quạnh hai vợ chồng già, con cái đều ở Mỹ, tốt thì tốt thật nhưng không chịu về nước, chỉ đến ngày lễ Noel gửi về tấm thiệp, thế là xong, thật là khổ, trạng thái tinh thần không tốt.

Ngược lại, ai là người hạnh phúc, phấn khởi ? Bác xích lô ở cạnh nhà. Nhà của bác ấy chỉ là nhà cấp 4, nhưng sáng sớm ngủ dậy, hai tay xách hai lồng chim đi ra công viên, vừa đi vừa nghêu ngao mấy câu cải lương, lúc về nhà nhấm nháp một bát sữa đậu nành và hai cái quẩy thật vui, thật thoải mái. Con trai của bác ấy không đậu thạc sĩ tiến sĩ gì, chỉ tốt nghiệp phổ thông cơ sở, ngồi sửa xe đạp ở bên kia đường, còn cô gái bán xì dầu cũng ở gần đó, cho nên chúng thường xuyên đến thăm bố mẹ, có ấm đầu sổ mũi cả nhà đều quây quần thăm hỏi nhau, khi thì mua hoa quả, khi thì mua kẹo bánh, cả nhà cha mẹ con cái chuyện trò vui vẻ.

Người lớn thì kể chuyện “ngày xưa cả đến bột ngô tôi cũng còn chưa được ăn, nhưng bây giờ không những được ăn hoa quả mà còn được điểm tâm nữa…” không khí gia đình thật vui vẻ ấm cúng, chẳng có điều gì phàn nàn, con cũng có, cháu cũng có, thật là hiếu thảo. Ông giáo sư của bạn, con đều học hành cao, đến ngày lễ gửi về tấm thiệp, ngoài ra không có quan tâm gì đến bố mẹ, ông có khóc cũng không ai để ý đến ông.

Hạnh phúc, vấn đề đó không có một tiêu chuẩn tuyệt đối nào cả, vì vậy chúng ta phải làm cho tâm thái cân bằng. Những năm 70 tặng quà cho nhau thì tặng quà gì? Quà điểm tâm. Những năm 80 tặng quà là tặng thuốc bổ, thập niên 90 là hoa quả tươi. Ở các phòng bệnh nhân của tôi, họ đều tặng hoa tươi, chẳng có ai tặng quà điểm tâm nữa. Vào thế kỷ 21, quà tặng là sức khỏe. Làm sao có thể tặng sức khỏe được ? Hãy tặng nhau “dưỡng tâm bát chân thang” là thang thuốc tốt nhất cho sức khỏe. Thang này gồm có 8 vị:

- Vị thứ nhất là một tấm lòng nhân ái. Không giàu lòng yêu mến xã hội, yêu mến con người thì không thể làm người được.
- Vị thứ hai là tấm lòng lương thiện. Có tấm lòng lương thiện thì hay giúp đỡ người khác.
- Vị thứ ba là chính khí.
- Vị thứ tư là lòng khoan dung. Khoan dung phải nhiều hơn chính khí, vì con người đều không phải là thánh hiền, còn nhiều điều chưa đủ, nên bạn cần khoan dung, độ lượng đối với người khác.
- Vị thứ năm là lòng hiếu thảo. Chúng tôi đã làm cuộc điều tra và thấy đối với người cao tuổi, yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất đến hạnh phúc không phải là tiền tài, địa vị mà là có con cái hiếu thảo ở bên cạnh. Con cái không hiếu thảo thì có nhiều con cũng chẳng ích gì. Có lần tôi gặp một ông giám đốc ở Hồng Kông, ông ta hỏi tôi : “Các anh chọn cán bộ, chọn người như thế nào ?”. Tôi trả lời : “Ở Hồng Kông là xã hội tư bản, tiêu chuẩn chọn người phải là biết ngoại ngữ, giỏi vi tính…”. “Không phải – ông ta nói – tôi chọn người, tiêu chuẩn quan trọng nhất là xem họ có hiếu không. Nếu người ấy cả đến cha mẹ mà họ không hiếu thảo thì làm sao họ có thể tốt với mình ? Phàm là người có hiếu thảo đều là người tốt, họ không làm điều vi phạm đạo đức vì họ hiếu thảo với cha me, họ sẽ rất tốt.”
- Vị thứ sáu là sự thật thà đúng mực. Con người cũng không thể quá thật thà, quá thật thà hoá ra đần cũng không nên.
Nhưng không thật thà cũng không được. Thật thà phải xem tình hình, đúng lúc, đúng mực.
- Vị thứ bảy là sự cống hiến không hạn chế, càng nhiều càng tốt.
- Vị thứ tám là không cần báo đáp.

Đem 8 vị thuốc ấy cho vào “chảo khoang tâm” sao vàng nhỏ lửa từ từ không bị cháy ( tức là từ từ suy ngẫm ), sau đó cho vào “cối công bằng” nghiền kĩ, nghiền càng nhỏ càng tốt, “tam tư vi mạc, đạm bạc vi dẫn”, làm việc cần phải “tam tư’và cần “đạm bạc” bình tĩnh, dùng nước “hoà khí” để uống. Chọn ngày trăng thanh gió mát, sớm tối chia làm hai lần uống, có thể tịnh hoá tâm linh, thăng hoa nhân cách, vật ngã hưởng vong, vinh nhục bất kinh.
Dưỡng tâm bát chân thanh có 6 công dụng:

1) làm người trung thực.
2) làm việc chăm chỉ.
3) cống hiến xã hội.
4) hưởng thụ cuộc sống.
5) kéo dài tuổi thọ.
6) tiêu diệt khứ họa.

Tôi nghĩ rằng muốn cân bằng tâm lý, con người phải biết cống hiến cho xã hội, vừa phải biết hưởng thụ cuộc sống. Hưởng thụ ở đây chỉ là những sở thích nghiệp dư, tri thức hiểu biết rộng hơn một chút, càng có nhiều sở thích nghiệp dư càng dễ cân bằng tâm lý. Người thầy thuốc không chỉ “khám bệnh” mà còn “khám bệnh nhân”. Có hiểu biết trạng thái tâm lý, tính cách khác nhau của từng bệnh nhân thì mới điều chỉnh được tâm lý của họ, giải quyết được những vấn đề của họ.

Con người có tâm thái tốt thì mọi vật trên đời đều trở nên rất tốt đẹp. Nếu đang buồn bực, tâm lý khó chịu thì dù có non xanh nước biếc cũng không sao thưởng thức được, dù có cho ăn cao lương mỹ vị cũng không sao nuốt nổi. Tâm trạng nôn nao, cả đêm trằn trọc không ngủ được, chỉ thấy toàn ác mộng thì cho dù có giường đẹp cũng chẳng giá trị gì.

Cho nên cần phải giữ tâm thái của mình cho chính trực, vui cái người ta gọi là “ba cái khoái lạc: “trợ nhân vị lạc, tri túc thường lạc, tự đắc kỳ lạc”. Trong quá trình giúp đỡ người, tịnh hoá linh hồn, thăng hoa nhân cách làm người là khoái lạc nhân sinh lớn nhất. Các ông chủ có nhiều tiền không nên ăn chơi bừa bãi, dễ bị AIDS, chết nhanh không có thuốc chữa, mà nên làm từ thiện, đóng góp cho các công trình nhân tạo, tặng cho các người nghèo.

Có người nói : “Tôi không có tiền, làm sao giúp được ai ?”.Tôi bảo rằng : “Đừng nghĩ như vậy, sẽ tức chết đi đấy. Người ta có nhiều tiền hơn nhưng mà rủi ro lại lớn hơn, địa vị họ cao hơn nhưng áp lực lại nặng hơn, một vấn đề bao giờ cũng có hai mặt, vì vậy tri túc thường lạc”.

Còn “tự đắc kỳ lạc”là thế nào ? Đó là lúc rủi ro cũng cần vui vẻ. Lúc rủi ro thì còn vui nỗi gì ? Vâng, nhân sinh là phong thủy luân lưu di chuyển, trên đời này trăng có khi tròn khi khuyết, người có lúc hợp lúc tan, lúc thế này, lúc thế khác, không ai luôn được may mắn, cũng không ai luôn bị rủi ro. Bây giờ gặp rủi ro nghĩa là quang minh đang ở trước mặt, vì thế bạn nên tự đắc kỳ lạc. Vui buồn tựa vào nhau cùng tồn tại, khổ nạn là người thầy của cuộc sống, cho nên mỗi người nên giữ được tình cảm vui mãi mãi.

Nói tóm lại, sức khỏe là cái quý giá nhất đối với chúng ta. Sức khỏe không chỉ dựa vào kỷ thuật cao, thuốc tốt. Thầy thuốc tốt nhất là bản thân, thuốc tốt nhất là thời gian, tình cảm tốt nhất là bình tĩnh, tập luyện tốt nhất là đi bộ. Câu “thầy thuốc tốt nhất là bản thân” không phải do tôi nói ra mà đó là lời của một danh y thời cổ Hy Lạp : “Bản năng của bệnh nhân là thầy thuốc cuả bệnh nhân, thầy thuốc là người giúp đỡ bản năng”. Thuốc tốt nhất là thời gian. Tại sao? Thời gian phát hiện càng sớm điều trị càng sớm càng tốt. Phát hiện và chữa trị sớm thì vừa đỡ mất nhiều tiền vừa chóng khỏi bệnh, phát hiện và chữa trị chậm thì nhiều khi còn nguy hiểm đến tính mạng nữa. Ăn uống hợp lý, vận động thích hợp, không hút thuốc, hạn chế uống rượu, giữ tâm lý cân bằng thì cơ thể béo cũng gầy, cholesteron nhiều cũng ít, đó là cách phòng bệnh tốt nhất.

CÓ THỂ TỔNG KẾT VỀ SỨC KHOẺ TRONG 4 CÂU NHƯ SAU.
1. Một trung tâm:

Lấy sức khỏe là trung tâm. Vì không có sức khỏe thì bạn chẳng làm được việc gì.

2. Hai điểm cơ bản

Hơi hồ đồ một chút và hơi thoải mái một chút. Mao Trạch Đông đã dùng hai câu thơ cổ để đánh giá rất cao Diệp Kiếm Anh : “Gia Cát nhất sinh duy cẩn thận. Lỗ Đoan đại sự bất hồ đồ”. Có người mách vớí Hoàng Đế rằng tể tướng Lỗ Đoan rất hồ đồ. Hoàng đế nói: “Ông ấy không có hồ đồ chỉ có ngươi mới hồ đồ mà thôi. Tể tướng Lỗ Đoan việc nhỏ thì hồ đồ nhưng việc lớn thì rất sáng suốt”. Đó là biểu hiện của người rất thông minh. Việc nhỏ cứ tẩn mẩn cả ngày tính toán như lông gà vỏ tỏi, những người như thế là người ngu đần. Cho nên hồ đồ một chút, độ lượng khoan dung, thoải mái một chút, phong cách cao, nhìn xa thấy rộng, người như thế ở đâu làm việc gì cũng tốt.

3. Ba đại tác phong.

- Trợ nhân vị lạc,
- Tri túc thường lạc,
- Tự đắc kỳ lạc, luôn luôn giữ được vui vẻ.

4. TÁM ĐIỀU CẦN CHÚ Ý.

4 NỀN TẢNG CƠ SỞ

- Ăn uống hợp lý
- Vận động thích hợp
- Không hút thuốc, hạn chế uống rượu
- Giữ tâm lý cân bằng :

VÀ 4 CÁI NHẤT

- Thầy thuốc tốt nhất là bản thân.
- Thuốc tốt nhất là thời gian.
- Tình cảm tốt nhất là bình tĩnh.
- Vận động tốt nhất là đi bộ.

Có những điều trên thì chẳng cần phải uống thuốc gì, mỗi chúng ta đều có thể sống khỏe mạnh tám chín mươi, một trăm tuổi. Điều ấy không phải chỉ là giấc mơ.

Cuối cùng, tôi xin rút ra 4 câu rất đơn giản :

Thiên thiên tam tiếu dung nhan tiêu
Thất bát phần bão nhân bất lão
Tương thích mạc vấn lưu xuân thuật
Đạm bạc ninh tịnh bỉ dược hảo

Tạm dịch như sau :

Ngày cười ba lần dung nhan đẹp
Bảy tám phần no người không già
Thoải mái vô tư làm xuân đẹp
Thanh đạm tịnh yên hơn thuốc a !
Chỉ cần làm theo phương thức sống như vậy thì bệnh tật sẽ rất ít, chúng ta có thể sống mạnh khỏe đến 120 tuổi, cá nhân, gia đình và xã hội đều hạnh phúc. Hy vọng mọi người đều sống khỏe mạnh đến tám chín mươi, một trăm tuổi hay hơn nữa để cống hiến cho sự phục hưng của Tổ quốc.