Saturday, February 11, 2012

MỘT CÁCH NHÌN MỚI VỀ YOGA VÀ THIỀN

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI BẮT ĐẦU TẬP YOGA
Nếu bạn là người chưa từng tập Yoga bao giờ thì bạn phải lưu ý là không nên tập quá sức ngay buổi tập đầu tiên, nó sẽ làm cho bạn rất đau đớn và bạn sẽ từ bỏ, như vậy là bạn không còn cơ hội tiếp cận với Yoga. Có thể là sau một hoặc hai buổi tập đầu tiên, cơ thể bạn bị căng và nhức ở một vài nơi nào đó, chẳng hạn như là ở cột sống, ở cổ, vai...Tuy nhiên những cảm giác này sẽ dần dần giảm đi khi bạn tập luyện đều đặn hơn, thường xuyên hơn. Nên nhớ rằng không được tập bất cứ một động tác nào gây nên sự đau đớn cho bạn, hoặc học với tâm trạng quá nóng vội muốn mau thành công, hay mang tính ganh đua với bạn cùng lớp, hoặc cố gắng thực hiện những động tác khó để chứng tỏ bản năng v.v... Khi thực hiện một động tác mà cảm thấy quá đau thì lập tức giảm sức ép ngay, nếu huấn luyện viên tác động thêm vào tư thế mình đang tập, bạn phải biết từ chối sự hỗ trợ của vị thầy.


Ở đây tôi cũng muốn thảo luận đôi chút về các vị thầy dạy YOGA. Theo sự quan sát của tôi ở những lớp dạy Yoga, các thầy thường hay tạo thêm áp lực, tạo thêm sự căng giãn tối đa vào các học viên mỗi khi họ thực hiện một động tác, hình như là các vị thầy cho mình một cái quyền nào đó mà không cần hỏi người học viên đó họ có bằng lòng hay không? Có những học viên họ rất khó chịu khi người thầy đụng chạm vào da thịt họ, việc này người thầy có biết chăng? Trước khi chạm vào học viên, người thầy có xin phép được chạm hay không? Việc chạm vào học viên để điều chỉnh động tác theo ý muốn của người thầy rất thường dễ gây chấn thương cho học viên, bởi vì người thầy có biết được độ căng và giãn của học viên ở mức độ nào? Có những động tác chỉ cần căng giản hơn 1cm là có thể làm cho học viên đó tàn tật suốt đời. Lấy ví dụ như ở tư thế "kéo giãn cột sống", đối với người mới tập thường thì các cơ, khớp, và dây chằng còn rất cứng. Người tập thường cố gắng cúi người xuống phía trước để được giống như các bạn cùng lớp, khi không cúi xuống được thì người thầy thường "giúp đỡ" thêm bằng cách là đè lưng người học viên này xuống thêm nữa để cho đúng tư thế và kết quả là người học viên này sẽ bị đau.


Bạn đang thực hiện một asana, mà cảm thấy chóng mặt, buồn nôn, nhịp tim rối loạn, hơi thở mất bình thường, bạn phải NGƯNG TẬP NGAY và báo với người Thầy nên chọn cho mình những động tác khác cho phù hợp với thể trạng của mình. Nếu chọn các tư thế dễ tập hơn, nhẹ nhàng hơn mà vẫn không giải quyết được tình trạng trên thì tốt nhất là bạn nên đi khám bác sĩ. Và một điều rất quan trọng đó là; trước khi  vào tập Yoga, "SỨC KHOẺ" của bạn phải hoàn toàn không có vấn đề gì, nghĩa là phải hoàn toàn khoẻ mạnh, như vậy tập Yoga mới có hiệu quả, còn nếu như có một số bệnh nào đó như là chấn thương cột sống sau một tai nạn, mổ cột sống đang trong thời gian phục hồi, bệnh cao huyết áp, tim mạch, thiếu máu não v.v... bạn nên nhờ bác sĩ tư vấn. Nếu như bạn có những chứng bệnh trên, tôi khuyên bạn là đừng nên tập những động tác Yoga quá nặng, mà hãy tập những bài vật lý trị liệu, những bài này cũng rút ra từ Yoga, nhưng phương cách tập thì nhẹ nhàng hơn.


CÁC HIỆN TƯỢNG VÀ TRIỆU CHỨNG BẤT THƯỜNG TRONG LÚC TẬP YOGA


Sau một thời gian tập Yoga, trong người sẽ có những thay đổi nên cần phải thận trọng và luôn luôn quan sát để xem những thay đổi đó tốt hay xấu. Hãy xem dấu hiệu của sự thay đổi, ta sẽ biết ngay mình đang tập đúng hay không đúng.


HIỆU QUẢ.
  • Cảm nhận trong người khỏe mạnh hơn, ít bị những bệnh lặt vặt, ban đêm ngủ ngon giấc, da mặt mịn màng hơn mà không nhờ vào kem dưỡng da. [SỨC KHOẺ].
  • Càng ngày càng trầm tĩnh hơn, dễ kiểm soát được những cơn giận, dễ thông cảm những nỗi đau của người khác và tha thứ những lỗi lầm của người khác. [CẢM XÚC].
  • Càng ngày càng thông minh hơn, hiểu được những điều mà trước nay mình không hiểu, thông được những điều mà trước nay mình chưa thông... mà không phải thông qua kinh sách. [TRÍ TUỆ].
Với những hiện tượng tốt vừa kể trên, người tập Yoga sẽ có tinh thần vững vàng hơn để tiến bước trên đường tu tập.


KHÔNG HIỆU QUẢ


Nếu tập Yoga mà thấy trong người khác thường, như thường hay mỏi mệt, giấc ngủ chập chờn, ngủ không ngon giấc, trở nên gắt gỏng vô cớ, hay hồi hộp. Trên mặt xuất hiện ra những mụn độc mà trước nay mình không hề có, thì phải xem lại cách tập của mình, có thể là do tập quá nhiều những động tác nặng hay là tập quá sức. Nếu tập ít trở lại và những triệu chứng đó bớt đi, thì rõ ràng là có sự khuyết điểm trong tập luyện. Trong khi chưa tìm ra được nguyên nhân để bổ khuyết thì nên ngưng tập và tìm những người nào có nhiều kinh nghiệm trong Yoga để chỉ dẫn.
Bài tập luyện về mắt, nhìn chăm chú vào một điểm [trataka] và bài tập trồng chuối, là hai bài tập thường gây nên một vài biến chứng không tốt, như là mọc mụn độc ở mặt, hay là mắt bị kéo màng. Vì vậy khi tập Yoga phải rất thận trọng và luôn luôn xem xét lại mình, kiểm tra lại những kết quả để quyết định là nên tập hay nên ngưng.


KHÔNG KIÊN TRÌ, THƯỜNG CHÁN NẢN


Những mục đích tốt đẹp của cuộc đời, những ý định tốt cho tương lai, thường là không khó, nhưng bao giờ cũng cần phải có một thời gian dài để thực hiện. Nó khó là ở chỗ chúng ta làm thế nào giữ được sự kiên trì, kiên nhẫn để theo đuổi tới cùng phương pháp mà mình đã chọn.
Thường là khi bắt đầu làm một việc gì đó, lúc đầu thì rất hăng say và chăm chỉ, nhưng chỉ đến một lúc nào đó sẽ tự nhiên bỏ cuộc. Bản tính con người thường là như vậy, vì vậy khi tập Yoga ta cần phải biết cách chế ngự tính chán nản. Mỗi ngày tập vào giờ nào thì nhất định phải tập đúng giờ đó, không vì thấy chưa có kết quả mà bỏ dở sự tập. Tập Yoga thời gian phải tính bằng năm, hoặc nhiều hơn nữa. Sự kiên nhẫn sẽ giúp cho ta thành công trong cuộc đời, và sự thành công ấy đối với người kiên nhẫn không có gì là khó khăn lắm. Thời gian đối với chúng ta thật là quý báo, thời gian "không đứng đợi", nhìn qua nhìn lại chẳng mấy chốc thấy mình đã già, mà sự nghiệp để lại chỉ là con số không, rốt cuộc ta thấy ta không bằng một giọt nước, ta đã thất bại vì ta không chọn được mục đích để theo đuổi, hay là khi chọn được mục đích rồi lại không đủ kiên nhẫn để theo tới cùng, ta thường hay thay đổi ý định, hôm nay chọn mục đích này, ngày mai chọn mục đích khác. Các vĩ nhân là những người đã biết chọn một mục đích và theo đuổi mục đích đó cho đến lúc thành công. 


SỰ AN TOÀN TRONG KHI TẬP YOGA


Yoga không phải là đứng bằng đầu [động tác trồng chuối] hay vắt chân trên cổ [động tác bào thai]. Yoga không phải là uốn dẻo mà một người có thể thực hiện được tất cả các tư thế. Yoga không có phô trương, không phải là nơi để ta thể hiện bản lĩnh để được thầy khen hay được bạn bè ngưởng mộ, thán phục. Hãy lấy nguyên tắc hàng đầu trong việc tập luỵện Yoga, đó là "SỰ AN TOÀN". Điều quan trọng là bạn không nên có ý ganh đua với bạn cùng lớp [nếu tập chung với nhau], chỉ nên tập trong phạm vi cho phép của chính mình, cố gắng từ từ mở rộng giới hạn của cơ thể nhưng không vượt quá mức, và nhớ rằng trong chúng ta mỗi người đều có điểm mạnh và điểm yếu, có những động tác rất dễ dàng với mình nhưng rất khó với người khác, và ngược lại có những động tác mình thực hiện rất khó nhưng đối với người khác rất dễ dàng [BẤT TOÀN].


Ngay cái điểm bất toàn này, tôi cũng rút ra một quan điểm sống. "NGƯỜI TRÍ CŨNG CÓ LÚC NGU, VÀ NGƯỜI NGU CÓ LÚC CŨNG CÓ TRÍ". Ngu và trí cũng là nhị nguyên, là đối đãi, nương tựa vào nhau mà xác lập, chẳng có gì là quan trọng. Không tôn sùng cái trí mà cũng chẳng khinh rẽ cái ngu.


KHÔNG TRANH ĐUA


Đừng bao giờ gắng sức thực hiện động tác giống như người khác hay như hình minh họa trong sách khi cơ thể chưa mềm dẻo. Trong lúc thực hiện động tác, không nên có sự tranh đua. Cũng nên biết rằng môi trường tập YOGA không phải là nơi để ta thể hiện khả năng hay bản lĩnh. Yoga không phải là môn thể dục thành tích hay huy chương, vì vậy không nên có sự hơn thua hay là so sánh mình với người khác. Hãy loại bỏ mọi sự "quyết tâm", quyết tâm phải hơn người khác, quyết tâm phải thành đạt được kết quả. Ở Yoga không có sự cạnh tranh, không có tranh đua. Không tranh đua với mình [tập quá sức] hay tranh đua với người khác [tranh hơn thua]. Yoga là một trường học thật tuyệt vời của đức tính kiên nhẫn và lòng tự chủ. Nó giúp cho ta từ bỏ mọi sự hơn, thua và thái độ thù địch, ngạo mạn với người khác.
Ở Mỹ hay ở nhiều nước trên thế giới, kể cả Việt Nam... Tập Yoga mà bị chấn thương cũng là do sự tranh đua này mà ra. Theo hiệp hội an toàn sản phẩm người tiêu dùng ở Mỹ, đã có hơn 5.000 người phải đi khám bác sĩ vì các chấn thương do tập Yoga trong năm 2007 và đã tiêu tốn gần 108 triệu đôla để điều trị.


ĐỘNG TÁC PHẢI CÂN BẰNG HAI BÊN


Khi tập Yoga, [asana] bạn nên nhớ là phải tập cân bằng hai bên. Có nghĩa là: khi tập một động tác cúi xuống phía trước thì phải có động tác đối xứng trở lại ngửa người ra phía sau, hoặc nghiêng lườn qua trái, sau đó là nghiêng lườn qua phải, hoặc vặn mình qua trái, sau đó là vặn mình qua phải, hoặc đứng một chân trái, sau đó đứng một chân phải v.v... Luôn luôn thực hành tư thế phải đồng đều cả hai bên. Tuy nhiên đây chỉ là bước đầu cơ bản của Yoga, về sau này ta có thể nâng lên thêm một bước nữa. Đó là những động tác liên hoàn kết thành một xâu chuỗi đi theo hệ thống kinh mạch, nó cũng giống như 12 động tác bài tập CHÀO MẶT TRỜI mà rất nhiều môn phái Yoga nào cũng có tập và xem đó như là bài của tổ nghiệp Yoga.
Theo sách vở ghi lại, Yoga có hơn 50.000 động tác, một con số thật nhiều... ấy vậy mà khi tập luyện thì chẳng có bao nhiêu. Những động tác đơn độc, hoàn toàn đơn điệu một cách nhàm chán, thiếu tính cách nghệ thuật. Phải đưa Yoga lên một tầm cao mới hơn hởi các vị thầy Yoga, trong âm nhạc chỉ có 7 nốt, mà các nhạc sĩ sáng tác hết bài này đến bài khác, thật là vô cùng... còn Yoga thì sao? Có hơn 50.000 động tác, mà mãi đến bây giờ chưa có một bài tập liên hoàn nào mới cả. Hãy động não lên đi các bậc thầy YOGA.


CĂNG CƠ BẤT ĐỘNG


Người tập luyện Yoga cần phải hiểu rằng "PHONG CÁCH TẬP YOGA RẤT QUAN TRỌNG". Phong cách đó là phải giữ sự chuyển động không được vội vàng, hối hả, không có những động tác lấy đà hoặc lấy trớn. Mà phải thật thong thả trong một trạng thái tinh thần ung dung, tự tại. Phải biết hoàn thành một cách chậm rãi, mềm mại, dịu dàng. Liên tục tạo ra sự căng giãn của cơ bắp, tiếp cận với giới hạn của khả năng, vốn là yêu cầu của việc thực hiện mỗi ASANA. Điểm quan trọng của Yoga đó là sự quan sát, cảm nhận, tập trung và cùng với hơi thở... Người ta thường nghĩ rằng các tư thế [ASANA] là đặc trưng của Yoga, đó là một sự sai lầm thật đáng tiếc. Nhiều người thường hay phô trương rằng mình tập được những động tác khó, các tư thế đặc biệt, để người khác thán phục. "ĐÓ KHÔNG PHẢI LÀ YOGA ĐÍCH THỰC".


Một người tập Yoga, trong khi giữ tư thế bất động, mà đầu óc của anh ta luôn bị phân tán bởi sự cần phải giữ thăng bằng của thân [động tác khó] như động tác ốc sên, con sếu, con bò cạp, con quạ, con công, trồng chuối v.v...Tiếp đến là gân cổ nổi lên, cặp mắt mở to và gương mặt không có được sự an lạc. Trong khi đó, một người ý thức từng cử chỉ và hành động từ lúc bắt đầu thực hiện động tác [tư thế chuẩn bị] rồi đến lộ trình chuyển động anh ta cũng ý thức, cho đến khi kết thúc giử yên tư thế bất động. Lúc giữ yên tư thế bất động, anh ta chú tâm vào hơi thở. Thở ra dài anh ta biết đang thở ra dài, hít vào ngắn anh ta biết đang hít vào ngắn. Thở ra thóp bụng vào, anh ta biết đang thóp bụng vào. Hít vào phình bụng ra, anh ta biết đang phình bụng ra. Anh ta ý thức được mình đang làm gì, và luôn giữ cho tâm và thân luôn an lạc "ĐÓ MỚI LÀ YOGA ĐÍCH THỰC".


Trong các buổi tập Yoga hãy luôn luôn CÓ MẶT TRONG [tâm, thân hợp nhất], hãy chú tâm vào mọi động tác, trong đó có [động và bất động]. Làm được như vậy là ta đã tạo được điều kiện, được thói quen, được khả năng, được bản lĩnh, để dể dàng đi vào thực hành phương pháp Thiền sau này, một phương pháp rất quan trọng ở đỉnh cao của YOGA.


ỨNG DỤNG "TỨ NIỆM XỨ" TRONG YOGA 


Trong kinh TỨ NIỆM XỨ [thân, thọ, tâm, pháp] Bốn lĩnh vực quan sát là phương pháp hành trì dùng trực giác để ghi nhận về các sự kiện xảy ra liên quan đến THÂN gồm có: Cảm nhận về hơi thở, các cử động của thân [chuyển động] các tư thế của thân [bất động] và các bộ phận ở trong thân. Đưa tâm hợp nhất với thân thông qua các chuyển động và bất động, nhằm giúp ta kiểm soát hoạt động của thân bằng sự tỉnh giác trong cuộc sống đời thường, đưa ta trở về với lối sống hiện tại. Thông thường khi ta làm một việc gì đó "THÂN TA CÓ MẶT, MÀ TÂM TA KHÔNG CÓ MẶT". Thí dụ như là ta cầm một món đồ vật đặt vào một chỗ nào đó, lúc đó tâm ta không có mặt, và điều gì sẽ xảy ra? Khi cần tìm lại món đồ vật đó, ta sẽ tìm kiếm một cách khổ sở và đầy căng thẳng. Còn như lúc đó tâm ta có mặt [tâm ghi nhận], ta sẽ tìm lại món đồ đó dễ dàng hơn.
Trong cuộc sống sinh hoạt của đời thường, trong lúc làm việc, có những lúc tâm trạng ta không được thoải mái với công việc, chúng ta thường hay bực bội và căng thẳng với công việc mình đang làm, đây là điều thường xảy ra mà chúng ta không biết phải khắc phục bằng cách nào. Vì vậy khi tập YOGA, biết hợp nhất giữa "tâm và thân", dần dần sẽ giúp cho ta ý thức từng cử chỉ, từng hành động của chính mình, và có được sự bình an trong mọi hoạt động. Khi chúng ta chú ý hay cảm nhận vào mỗi động tác của thân trong mọi hoạt động như đi, đứng, nằm, ngồi... thì sự định tâm của ta sẽ trở nên liên tục, đây là phương pháp rất có hiệu quả để phát triển khả năng sự tập trung, định tâm và trí tuệ, và cũng là bước đầu cơ bản để chuẩn bị cho việc Thiền định sau này. Người tập YOGA nên nhớ rằng, tư thế cũng rất cần thiết cho sức khỏe thể chất. Nhưng biết kết hợp với sự chú tâm, sẽ có hiệu quả hơn về mặt tinh thần.


CÓ SỰ TƯƠNG QUAN NÀO GIỮA YOGA VÀ THIỀN


Để tìm hiểu vấn đề này, ta cần phải hiểu YOGA là gì? và THIỀN là gì?
YOGA có nghĩa là ràng buộc các vật vào với nhau. Từ này có nguồn gốc từ tiếng PHẠN. Chữ "jujir" có nghĩa là chấp lại, nối lại. Nhưng sau đó có một ý nghĩa khác được gắn vào thuật ngữ này, cũng bắt nguồn từ gốc PHẠN. Chữ "juj" có nghĩa là kiểm soát ý thức.


Và một ý nghĩa khác nữa. Yoga có nghĩa là tương ứng, khế hợp, hòa hợp, hợp nhất... và cũng hàm chứa ý nghĩa là dung hợp, mặc tưởng, quy nhập, tương ứng, tập trung ý chí... hoặc là tâm và thân tương ứng với nhau đều có thể gọi là YOGA.


Thiền được hiểu một cách đơn giản là cảm nhận, biết rõ, quan sát đối tượng v.v... có rất nhiều phương pháp Thiền khác nhau, nhưng tựu trung vẫn là giúp cho người tập luyện có thể tập trung chú ý vào một điểm nào đó ở trong hoặc ở ngoài cơ thể, tập trung vào một đề tài, một hình ảnh, một câu chú nhất định nào đó... nhằm đưa con người tiến dần vào trạng thái nhập tĩnh khi tâm không còn bất cứ một ý niệm nào.


Trở lại vấn đề "có sự tương quan nào giữa yoga và thiền". Việc này còn tùy thuộc vào giáo trình của một vị thầy, và phong cách thực hiện mỗi một ASANA. Khi thực hiện một ASANA ta phải thể hiện phong cách như thế nào? Trong lúc thực hiện một động tác có hợp nhất được giữa tâm với thân không? "Nếu hợp nhất được giữa tâm và thân thì Yoga chính là Thiền, và Thiền cũng là Yoga". Còn như không hợp nhất được, thì Yoga cũng giống như môn thể dục thông thường, chỉ có giá trị ở mặt sức khoẻ mà thôi.

YOGA... QUYỀN NĂNG VÀ PHÉP LẠ

Tập Yoga một thời gian dài, tự nhiên sẽ có những khả năng đặc biệt, dĩ nhiên là cần phải kiên trì Tập thiền định [SAMADHI]. Nếu chỉ tập riêng các ASANA thì không bao giờ có quyền năng hay phép lạ được. Nhưng mục đích của Yoga không phải là tìm quyền năng hay phép lạ, mà là giải thoát con người khỏi vòng sinh tử, luân hồi. Các phép lạ nhiều khi lại là một trở ngại cho người tập Yoga. Nếu họ chưa thoát khỏi bản ngã thích được người ta tôn sùng hoặc kính trọng, thì những quyền năng và phép lạ sẽ là những cám dỗ đưa họ đến các cuộc trình diễn và phô trương để tạo ra thanh danh hoặc danh tiếng... rồi từ đó có nhiều người trọng dụng, có tiếng tăm, nhiều tiền bạc... và nó sẽ đưa đến sa ngã cũng không xa lắm. Vì việc mãi mê chạy theo danh vọng sẽ làm mất nhiều thời giờ đáng lẽ dành vào việc tu thân. Vì vậy khi tập Yoga mà có những kinh nghiệm lạ thì nên coi chừng... để tránh sa ngã.


Khi tập Yoga đến độ làm chủ được thân xác, hơi thở, giác quan, cảm xúc và ý nghĩ, thì tự nhiên sẽ có phép lạ. Nhưng lòng ham muốn có phép lạ cũng giống như ngọn đèn treo trước gió. Ngọn đèn sáng nhờ tập Yoga mà có, nhưng có thể sẽ bị gió thổi tắt, làm cho người tập Yoga dễ sa ngã vào vực thẳm của sự ngu tối, và không thể đứng dậy để đi tiếp được nữa. Vậy nếu có phép lạ, người tập Yoga không nên dùng các phép ấy vào những mục đích ích kỷ hoặc làm giàu, tạo thanh danh, tạo thêm sự tín nhiệm để được tôn sùng chủ nghĩa cá nhân, cũng cố địa vị. Cần cảnh giác, đừng để các phép lạ đó cám dỗ.


Các phép lạ thực ra chẳng có gì lạ cả, nó vẫn có trong mỗi con người chúng ta. Nó trở nên lạ là vì con người ta chạy theo văn minh vật chất, bị tiền bạc lôi cuốn, cám dỗ, nên chỉ biết có tiền mà không biết đến bản chất quý báu đang có sẳn ở trong mỗi con người.


Chúng ta hiện nay đang đứng trước hai ngã đường: Một bên là vật chất, với những danh vọng, tiền bạc, địa vị, uy quyền và hậu quả là sự tranh giành đấu đá lẫn nhau. Một bên là tinh thần với danh dự, liêm sỉ, hy sinh... và kết quả dĩ nhiên của nó là hạnh phúc lâu dài chung cho nhân loại. Con người sẽ tiến theo ngã nào, tùy thuộc vào vấn đề văn minh mà người ta ưa chuộng. VĂN MINH KHOA HỌC HAY VĂN MINH TÔN GIÁO?


Về vấn đề tâm linh, người châu Á chúng ta thường tự phụ có một đời sống tình cảm dồi dào, và tinh thần sâu sắc... nhưng tiếc thay chúng ta chưa khai thác đúng mức đời sống tinh thần ấy. Ước mong rằng văn minh tôn giáo tiến triển kịp thời với đà tiến triển của văn minh khoa học, và con người không còn tranh giành, giết chóc lẫn nhau vì những tham vọng, mà hãy đến với nhau như anh em, không phân biệt màu da, quốc gia, sắc tộc, tôn giáo... Thật mong lắm thay...mong lắm thay.


THIỀN CỦA YOGA


Đạo Phật xuất phát từ minh triết của Ấn độ. Thiền trong đạo Phật cũng bắt nguồn từ Yoga, đây là một sự thật hiển nhiên không cần phải mất nhiều thời giờ để tranh luận. Thời đó Yoga là một trong 6 trường phái Triết học nổi tiếng của Ấn độ. Yoga có những tông phái thực hành Thiền để đạt đến cứu cánh giải thoát. PATANJALI là người có công biên tập tất cả các tài liệu về Yoga trong giai đoạn từ thế kỷ thứ 5 đến thế kỷ thứ 3 trước công nguyên. Bây giờ khi nói đến Thiền, cũng có rất nhiều người liên tưởng đến Yoga. Ngoài Yoga rèn luyện khí lực và cơ thể vật chất là HATHA YOGA, còn có loại Yoga chuyên về luyện tâm, đó là RAJA YOGA. RAJA YOGA quan niệm rằng: Vật chất không tách rời ý thức, và ngược lại. Tâm và Vật là một thực tại thống nhất không thể tách rời. Theo quan điểm của PATANJALI thì: "SỰ TIẾN HOÁ CỦA TÂM, PHẢI BẮT ĐẦU BẰNG SỰ CHUYỂN HOÁ KHÍ LỰC CỦA CƠ THỂ," đây là giai đoạn thứ tư trong RAJA YOGA tức là PRANAYAMA. PRANAYAMA có nghĩa là kiểm soát dòng năng lượng hay là dòng khí đang lưu chuyển. Ở đây tôi cũng nói rõ thêm về PRANAYAMA. Hiện nay trên sách vỡ và trên mạng đều hiểu sai và viết sai hoàn toàn về PRANAYAMA, họ giải thích PRANAYAMA là cách tập luyện hô hấp hoặc luyện thở. Vui lòng xem bài TỔNG HỢP CÁC HIỆN TƯỢNG VÀ CẢM NHẬN KHI TẬP THIỀN NĂNG LƯỢNG [tức PRANAYAMA] và bài THIỀN NĂNG LƯỢNG [PRANAYAMA]. Từ PRANAYAMA sẽ phát sinh ra nhiều kỷ thuật Yoga khác như là: KUNDALINI YOGA, MANTRA YOGA, KRIYA YOGA, TANTRA YOGA, v.v...


Ngày xưa cách đây hơn 5000 năm, các đạo sư khi thiết lập một môn phái mới đều phải tập luyện PRANAYAMA một cách tinh thông nhất. Ngày nay các đạo sư chỉ tập hợp một vài ASANA của các trường phái Yoga mà đã vội lập ra môn phái mới, vì vậy sẽ không còn những bài tập chính thống mang truyền thống của Yoga. Ngày xưa học Yoga thì phải tầm sư học đạo, lạy thầy sói trán mà không biết thầy có nhận làm học trò hay không nhận. Ngày nay học YOGA mà cũng giống như học vi tính, học anh văn. Đóng tiền mới được học, còn không tiền thì đừng mong được học. Các thầy dạy YOGA mục đích là lợi nhuận, là kinh doanh, vì vậy làm sao có những phương pháp tối thượng để truyền lại cho đời sau. Người thầy dạy Yoga mà chỉ với mục đích kinh doanh và lợi nhuận như vậy, thì làm sao có được những phương pháp hay để ta theo học. Chưa nói đến là họ thổi phồng lên quá mức những cái mà họ làm chưa được hoặc không được, chẳng hạn như là làm giảm cân cấp tốc trong vòng một tuần lễ, hoặc là làm giảm căng thẳng trong một tháng v.v...


BƯỚC KHỞI ĐẦU HỌC ĐẠO CỦA ĐỨC PHẬT


Ngay từ thuở nhỏ, lúc 7 tuổi ngài đã theo học các đạo sĩ phái Bà La Môn, chẳng hạn như ông Tỳ xa mật đa la [VISVAMITRA] và ông tướng vỏ Sằn đề đề bà [KSAUTIDIVA]. Dần dần ngài thông hiểu khoa nghị luận và triết lý. Khi lớn lên ngài theo các học giả phái SỐ LUẬN để tu học, nên vô hình trung ngài cũng đã hấp thu hệ thống giáo lý này. Đây là một sự thật, không cần phải mất nhiều thời giờ để tranh cãi. Chẳng hạn như tư tưởng vô ngã hoặc phi tưởng phi phi tưởng xứ ở cõi vô sắc được Phật giáo nói đến đều thuộc giáo nghĩa của phái SỐ LUẬN. Trong kinh cũng đã nói rõ, đức Phật thuyết tứ thiền, tứ định v.v... đều thuộc giáo pháp YOGA. Đức Phật theo tiên nhân alalacalan đã nói đến vô sở hữu sứ định trong bốn định của cõi vô sắc. Theo uất-đà-la-la-ma-tử đã thuyết phi phi tưởng xứ. Nhưng đến đây ngài thấy vẫn chưa phải là cứu cánh, nên tìm cho mình một hướng đi riêng. Cuối cùng cái mà ngài đạt được là cã NGÃ và PHÁP đều diệt, chứng đắc rốt ráo CHÂN VÔ NGÃ và PHÁP VÔ NGÃ. Đến đây thì ta cũng đã biết rằng đạo Phật xuất phát từ đâu và do đâu mà có.


NGUỒN GỐC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN THIỀN CỦA PHẬT GIÁO


Để trả lời vấn đề này, ta quay ngược thời gian trở về thời Ấn độ cổ. Ấn độ là một cổ quốc của nền văn hoá thế giới, dân tộc này mang rất nhiều tư tưởng thần bí, đặc biệt là ý nghĩa tôn giáo trong tư tưởng thần bí này. Nếu mở trang sử tôn giáo Ấn độ ra xem, chúng ta sẽ thấy hệ thống tôn giáo của nhân loại hầu như chi chít trong đó. Hoặc thành kính sùng bái thiên nhiên, hoặc mang tư tưởng sâu sắc, hoặc khổ hạnh nghiêm khắc để tìm cầu giải thoát, hoặc ham thích khoái lạc ở cõi trời v.v... tất cả đều thuộc tư tưởng mang tính tôn giáo. Trầm tư mặc tưởng là đặc tính của dân tộc nhả lợi an, người ta lúc nào cũng ưa thích trầm tư, tĩnh lự để tìm cầu niềm vui tối thượng. Trong quá trình phát triển, dân tộc này đã tiềm tàng một suối nguồn vô tận bởi tư tưởng THIỀN. Chính đức Phật Thích Ca là một phần của dân tộc nhả lợi an, đương nhiên là ngài cũng hấp thụ được đặc tính chất đặc biệt của dân tộc này.


Ấn độ là một đất nước không có THIỀN TÔNG, vì Ấn độ vốn không có một tông phái Thiền mang tính độc lập, nên không thể thiết lập được một danh từ nào trong lịch sử Thiền tông, mà chỉ có thể nói về nguồn gốc của THIỀN [tức DHYANA] một cách chung chung trong lịch sử Phật giáo Ấn độ. Ấn độ đã lấy từ DHYANA [tức thiền na] làm căn nguyên tư tưởng này để phát triển. DHYANA có nghĩa là "dòng chảy tâm trí vào một đối tượng" hoặc "chế ngự tâm tại một chỗ".


Trong tư tưởng triết học của người Ấn độ cổ đại, nhiều học phái ra đời và phát huy mạnh mẽ. Khảo cứu về niên đại ra đời của 6 phái đại triết học này thì mỗi phái đều có mỗi thuyết khác nhau, nhưng tư tưởng của chúng đều bắt nguồn từ triết học ưu ba ni sao thổ [UPANISHAD]. Vì thời đại triết học UPANISHAD rất xem trọng phép THIỀN QUÁN, nhưng thời đại tư tưởng trung kỳ của triết học UPANISHAD thì Thiền na lại bao quát cả phái DU GIÀ [YOGA]. DU GIÀ có nghĩa là tương ứng, hợp nhất, hoà hợp, khế hợp... cũng có nghĩa là THIỀN ĐỊNH. Trong 6 phái đại triết học này, thì phái DU GIÀ tức Yoga sau này được Đức Phật triển khai. Thiền của Đức Phật thông qua sự an toạ, tu duy mà ngài hoát nhiên đại ngộ. Nói về căn nguyên của Phật giáo thì Đức Phật chứng được tam muội [SAMADHI] cũng nhờ vào Thiền na [tức DHYANA].


CẢM NHẬN VỀ THIỀN


Thiền là một trạng thái tâm thức không thể định nghĩa, không thể miêu tả, mà phải do tự mỗi người thực nghiệm. Trong nghĩa này Thiền không nhất thiết phải liên hệ với bất cứ tôn giáo nào, kể cả Phật giáo. Trạng thái tâm thức vừa nói trên đã được các vị thánh nhân xưa nay của mọi nơi trên thế giới, mọi thời đại và văn hóa khác nhau trực nhận và miêu tả bằng nhiều cách.


Thiền giúp con người khám phá bản thể thật sự của mình đang mỗi lúc hiện diện. Người học Thiền không cần phải tin theo bất cứ một tôn giáo nào, hoặc là phải theo một tôn giáo nào. Mà thông qua sự tập luyện, phát triển tâm linh của chính mình để cảm nhận được sự thay đổi của bản thân, và từ đó sẽ trở thành con người hoàn toàn đổi mới từ tinh thần đến thể xác.


Thiền không phải là những lý luận được chỉ dạy hoặc dựa vào tín ngưởng của một tôn giáo nào để đắc quả. Thiền vượt trên cả lý tính và tín ngưởng, hướng vào những thực nghiệm, trải nghiệm và đại giác tâm linh của chính mình mà phát sinh trí tuệ, giác ngộ, giải thoát.


Thiền là sống, là sáng tạo, luôn luôn mới mẻ tinh khôi, không nằm trong một khuôn khổ chết hay một ước lệ nào. Thiền là mình tự thể nghiệm, đọc luận giải của người khác thường làm cho ta khó hiểu. Vào Thiền phải buông bỏ những kiến thức vay mượn ở bên ngoài để phát triển trí vô sư, trí tự nhiên nơi mỗi con người. Đây là con đường thể nghiệm chân lý trực tiếp nơi chính mình, không qua trung gian của ý thức, suy luận. 


HỌC THIỀN CÓ CẦN PHẢI ĐỌC THÊM SÁCH VỠ KHÔNG?


Trả lời rằng: KHÔNG CẦN và CẦN
. Học thiền là học một "PHƯƠNG PHÁP ĐỂ HÀNH THIỀN", chứ không phải là học "NHỮNG CÁI CHỨNG ĐẮC CỦA VỊ THẦY", dù những chứng đắc ấy là của một vị Phật, hoặc của những vị Tổ sau này. Điều sai lầm của những người "tu Thiền" ngày nay là họ thường đem kinh sách THIỀN ra để mà bàn luận và giảng giải xuyên qua sự hiểu biết của mình, ở trong Phật giáo gọi đó là hý luận, hay là sở tri chướng.
. Việc đọc sách sẽ giúp cho ta có thêm kiến thức, chứ không thể giúp cho ta có thêm kinh nghiệm. Khi kiến thức quá nhiều sẽ làm cho ta tưởng là đã có kinh nghiệm. Chính cái kiến thức này sẽ làm lu mờ cái trí vô sư của người tu Thiền. Nói chuyện về Thiền mà cứ mượn của người khác để nói... ở trong văn học gọi là đạo văn, ở trong âm nhạc gọi là đạo nhạc.
. Những thiên tài văn học, họ không bao giờ đọc một tác phẩm của bất kỳ một nhà văn nào, những thiên tài về âm nhạc, họ không cần nghe bất cứ một đoạn nhạc nào của bất kỳ một nhạc sĩ nổi tiếng nào. "Và cần đọc sách là khi ta đã giác ngộ, khi ấy sách chỉ là chứng minh, hoặc ấn chứng cho sự giác ngộ của ta mà thôi.", 
NHƯ VẬY MỚI LÀ NGƯỜI GIÁC NGỘ.

CHÂN DUNG MỘT ĐẠO SƯ ĐẮC ĐẠO

Đối với những ai mới bắt đầu học: Yoga, Thiền, Năng lượng, Cảm xạ, Khí công, Nhân điện, v.v... và rất nhiều phương pháp khác, họ thường không thể nào phân biệt được một đạo sư đắc đạo hay chưa đắc đạo. Khi được học với người đắc đạo thì sự thành công là điều dễ hiểu. Còn nếu gặp phải người chưa đắc đạo hướng dẫn, có khi cả thầy và trò đều rơi xuống vực sâu, bởi vì ngay cả chính thầy cũng còn đang mày mò [đi mà chưa đến]. Dạng thầy như vậy rất nhiều. Vậy thì " CÓ TIÊU CHUẨN NÀO ĐỂ ĐÁNH GIÁ ĐƯỢC THẦY ĐẮC ĐẠO HOẶC CHƯA ĐẮC ĐẠO"? 


  NGƯỜI CHƯA ĐẮC ĐẠO LÀ NGƯỜI CÒN TRONG VÒNG "TRANH CHẤP NHỊ NGUYÊN," CÒN KẸT TRONG SO SÁNH, ĐỐI ĐÃI


- Khi bạn nghe một vị thầy nào đó nói rằng phương pháp của mình rất hay, hoặc tôn giáo của mình rất hay, thường chê bai phương pháp của người khác hoặc tôn giáo của người khác, thì phải hiểu ngay là người này chưa đắc đạo.


Thí dụ, họ nói "thiền của mình là chính pháp," còn thiền của các phương pháp khác hay tôn giáo khác là tà pháp, tà ma, ngoại đạo. Ngay ý này đã nói lên sự chê bai, khinh rẻ... Người này không xứng đáng làm thầy để cho ta theo học, dù đang được nhiều người kính trọng.


- Nguời chưa đắc đạo là người rất sợ học trò hoặc tín đồ của mình theo phương pháp khác hay tôn giáo khác. Họ không dám khuyến khích học trò của mình tìm hiểu thêm những cái hay của người khác mà ngược lại họ khuyến khích đệ tử phát triển ra nhiều thêm phương pháp của mình.


- Ngày nay có rất nhiều thầy, có nhiều môn phái hoặc có nhiều phương pháp Thiền. Phần đông còn đang ở dạng tu luyện chứ chưa có đắc quả vị của Phật, họ chỉ dừng lại ở mức độ phát triển trí tuệ hoặc văn tuệ mà đã vội ra thuyết pháp, thu phục những tín đồ, thay vì hãy dành thời gian cho việc tu tập có lẽ hay hơn, dạng thầy như vậy hiện nay rất nhiều. Đời người quá ngắn ngủi, sao họ không dành thời gian tu luyện ở một kiếp này để đắc quả, nếu chờ qua kiếp sau nữa để tiếp tục tu luyện thì không biết là có được không? Hay là mãi mê trôi theo dòng sanh tử, luân hồi.


- Đem câu chuyện trên, trao đổi với một vài người, thì họ lại nói rằng "nếu không thuyết pháp, thì ai là người hướng dẫn Phật pháp cho chúng sinh". Chuyện đó anh khỏi phải lo cho con bò trắng răng. Anh không thuyết pháp thì vẫn có người khác thay cho anh, còn riêng anh, hãy lo tu tập để có kết quả ngay ở một kiếp này. Ngày xưa đức Phật đã giác ngộ rồi sau đó mới đi thuyết pháp, ngày nay tu Thiền mới sáng sáng một chút là đã đi thuyết pháp rồi.


- Người thầy đắc đạo là người thầy nhìn rõ được căn cơ của từng người và đề xuất ra một phương pháp tu tập thích hợp với người đó, giúp cho người đó được tiến bộ nhanh hơn, giống như một thầy thuốc giỏi, tuỳ theo bệnh mà cho thuốc. Chứ không phải như các quý thầy ngày nay, cứ Phật tử nào họ cũng dạy niệm Phật, hay là tập sổ tức hoặc theo dõi hơi thở.

Thursday, February 9, 2012

ĐÔI ĐIỀU VIẾT VỀ SỰ THÀNH CÔNG KỲ DIỆU CỦA NHÀ NGOẠI CẢM PHẠM THỊ PHÚ “CHỮA BỆNH CHO THAI NHI”

BS Đỗ Thị Hải
ĐT:0982003912

Tôi là bác sỹ Đỗ thị Hải – Chuyên khoa cấp II nhi khoa. Hiện nay tôi đang làm việc tại Hà Nội. Gia đình tôi hiện đang cư trú tại số nhà 82/B3 Đô thị Đại Kim, Quận Hoàng Mai, Hà Nội. Tôi rất quan tâm đến các thông tin về các nhà ngoại cảm có khả năng chữa bệnh. Tôi biết hiện nay có nhiều người tự xưng là NHÀ NGOẠI CẢM và tự quảng cáo khả năng chữa bệnh của mình. Tôi cũng biết có rất nhiều ý kiến thuận và trái chiều. Song với lòng tự trọng, sự chứng kiến và kiểm nghiệm của mình tôi xin khẳng định: Trường hợp chữa bệnh của cô Phú có hiệu quả là sự thật! Bởi tôi chính là người trong cuộc, tôi đã từng chứng kiến cô Phú chữa bệnh bằng phương pháp này từ năm 2007 đến nay. Riêng trường hợp của con - cháu tôi, tôi biết rõ hiện nay ở các bệnh viện lớn cũng chưa làm được. Tôi cho rằng đây là sự thành công kỳ diệu.
         
Số là: Con gái tôi mang thai khi được 16 tuần tuổi thì siêu âm cho kết quả là: hai thận của thai nhi bị giãn đài bể thận. Các bác sỹ không thể can thiệp gì. Tôi đã tham khảo ý kiến của nhiều đồng nghiệp chuyên sâu ngành này nhưng tất cả đều khuyên tôi bình tĩnh, theo dõi, làm các xét nghiệm…nếu cần thì phá bỏ thai!...

Khi thai nhi được 18 tuần thì mức độ giãn của thận càng to hơn. Trong giới chuyên môn chúng tôi biết rất rõ là: Nếu thai trên 28 tuần mà thận giãn > 15mmthì khả năng suy thận, vỡ thận trong thời gian bào thai rất cao, việc can thiệp ngoại khoa ngay sau khi ra đời cũng thường không có hy vọng! Vậy mà cháu tôi lúc được 24 tuần thai thì 2 thận đã giãn từ 14 – 18mm. Điều đó có nghĩa là chờ đến khi bé ra đời để phẫu thuật là điều không tưởng. Hiện nay chỉ có một vài nước tiến tiến trên thế giới mới được khả năng mổ trong bào thai thì mới có khả năng cứu được bé thôi. Mà với khả năng kinh tế của mẹ con tôi thì làm sao có thể đưa con ra nước ngoài để chữa?.

Là một bác sỹ, tôi hình dung được kết quả sẽ đáng buồn như thế nào? Là một người mẹ, người bà mà biết được kết quả sẽ không tốt đẹp gì thì tôi càng khổ tâm biết bao nhiêu? Lúc đó tôi chỉ biết mong chờ một sự kỳ diệu từ thế lực siêu nhiên nào đó và tôi đã hy vọng đó là cô Phạm thị Phú ở thị trấn Sông Công Thái Nguyên.

Tôi đã từng chứng kiến những thành công mà cô Phú đã làm được từ nhiều  năm nay. Nhiều ca bệnh hiểm nghèo mà giới chuyên môn chúng tôi mặc dù chuẩn đoán được nhưng điều trị thì còn đang lúng túng bởi vì chưa tìm được căn nguyên đích thực và nền y học trong nước cũng như trên thế giới chưa làm được. Nhưng với những ca thai nhi như thế này thì tôi chưa từng thấy cô Phú làm cho ai. Vì vậy tôi đưa con tôi đến nhờ cô Phú trong lòng chỉ hy vọng cầu may. Những ngày đầu được cô Phú giúp tôi đã phải chịu một áp lực vô cùng căng thẳng. Bởi trong mắt mọi người mình là người có chuyên môn y học khá sâu mà lại đem đứa con bụng mang dạ chửa đến nhờ một người chỉ biết dẫm chân, xoa nắn bên ngoài cái bụng to. Liệu rồi đây kết quả sẽ thế nào? Nhỡ chỉ cần một sự đụng chạm quá tay, một bước dẫm chân hơi mạnh hay trượt đà, ngã va đụng mạnh, hoặc sơ xuất, bất cẩn nào đó…thì tôi biết ăn nói làm sao trước, dư luận, đồng nghiệp, gia đình, họ hàng, con rể, thông gia…và ân hận cả đời!

Vậy mà: Sau 13 lần tác động của cô Phú và khi siêu âm lại tôi thực sự như cất được gánh nặng ngàn cân! Kết quả siêu âm hai thận của thai nhi đã đỡ giãn còn cỡ 10 – 14mm. Mặc dù vậy tôi vẫn chưa dám tin vì nhỡ có sai số trong khi đo trên máy siêu âm nhưng tôi rất mừng vì tốc độ giãn của thận không còn tăng nhanh như trước đó. Vì con gái tôi bụng to hơn nhiều, cần hạn chế đi xa nên cô Phú không thể tác động thường xuyên được. Khi thai nhi được 32 tuần thì kết quả cho thấy hai thận chỉ còn giãn từ 8 – 14mmvà cô Phú nhận sẽ tác động cho thai nhi qua điện thoại đi động. Lúc thai nhi được 36 tuần thì siêu âm cho thấy rau bị quấn cổ 3 vòng, cân nặng thấp, một bên thận còn giãn 8 – 10mm, còn bên kia 8 – 12mm. Gia đình rất băn khăn và lo lắng nhưng cô Phú đã khẳng định rằng thai nhi sẽ ra đời bình thường, nhất định không phải mổ lấy thai. Quả nhiên đến ngày cháu chuyển dạ sinh con sự việc cứ diễn ra theo thứ tự như lời cô Phú khẳng định. Kết quả là: Cháu bé ra đời bình thường vào ngày 09/9/2011, nặng 2700g, chỉ số áp ga và chức năng sống khác bình thường. Vì các bác sỹ hẹn sau khi cháu đầy tháng sẽ kiểm tra thận và có hướng điều trị tiếp theo nên tôi cho mẹ con cháu về nhà theo dõi thêm.

Ngày 16/10/2011 vừa qua, khi cháu được 35 ngày tuổi tôi đã cho cháu đi kiểm tra và kết quả là một bên thận hầu như là bình thường, thận bên kia chỉ còn giãn nhẹ (8mm) và tương lai sẽ tiến triển bình thường. Hiện tại cháu hoàn toàn bình thường, ăn ngủ tốt, nặng 4000g, đã biết hóng chuyện, được bố mẹ đặt tên là Nguyễn Đỗ Phương Nhi. Tôi thực sự cảm phục, hạnh phúc và mãn nguyện.

Tôi biết cô Phú đã chữa bệnh cho rất nhiều người, cũng có người khỏi hoàn toàn, có người đang tiến triển tốt nhưng cháu tôi khi còn là một thai nhi do bị dị tật khó có thể ra đời bình thường. Vậy mà cháu bé đã được chữa hết dị tật và ra đời bình thường hoàn hảo.  Tôi vô cùng cảm phục.

Tôi cho rằng Đây là một sự thành công kỳ diệu! Một sự tuyệt vời hơn cả tuyệt vời!

Một điều mà tôi đã chứng kiến nhiều năm nay là cô Phú chữa bệnh cho rất nhiều người hoàn toàn bằng sự sẻ chia đồng cảm với một chữ TÂM sáng ngời. Không đặt ra bất cứ một yêu cầu nào về vật chất đối với tất cả những bệnh nhân đến với cô, thậm chí cô còn cưu mang những bệnh nhân có hoàn cảnh quá nghèo khổ, éo le. Trong khi hiện nay còn có một số người tự xưng là “nhà ngoại cảm” để lừa bịp, khảo tiền và có cả những thầy thuốc lợi dụng nghề nghiệp để moi tiền của con bệnh!... Nhiều hôm chứng kiến cô Phú chữa bệnh từ sáng cho đến 21h đêm hoặc muộn hơn, (bởi vì cô không nỡ từ chối với bất cứ người bệnh nào), tôi rất thương và cảm phục!

Tôi nghĩ: Một người như cô Phú bây giờ là tài sản Quốc gia, là phúc lộc của đất nước, là vị cứu tinh của những người bệnh hiểm nghèo.

Tôi hy vọng các công trình nghiên cứu về khả năng kỳ diệu của cô Phú sớm được công bố cho công chúng, để nhiều người bệnh khó nhăn và hiểm nghèo có thêm cơ hội và hy vọng sống. Những ai đã và đang được cô Phú chữa bệnh thực sự là quá may mắn!.

Tôi thực sự biết ơn cô Phú rất nhiều mà không thể nói thành lời, bởi không có lời nào có thể mô tả được sự biết ơn của tôi với cô ấy. Tôi chỉ biết cầu mong cho cô Phú luôn mạnh khoẻ, tấm lòng của cô Phú vẫn nhân ái bao dung và cái tâm của cô Phú được mọi người biết đến.

Wednesday, February 8, 2012

ĐI LỄ CHÙA, NHIỀU NGƯỜI CHƯA HIỂU GÌ VỀ ĐẠO PHẬT

Ngày nay, do nhiều tác động của cuộc sống vật chất đặc biệt là sự kém hiểu biết một bộ phận người dân do chỉ đến với Phật Giáo theo tư cách những người không nghiên cứu hay tu hành, cộng thêm tâm lí đám đông mới dẫn sự lệch lạc như vậy về quan niệm về Phật Giáo. Chính vì hiểu sai nên dẫn đến những hành động chưa đúng thậm chí là sai lệch gay ra nhiều sự biến tướng, sai lệch trong các hoạt động văn hóa tâm linh.

Đến chùa cầu tiền tài địa vị, thậm chí còn phân biệt Đức Phật ở chùa nào thiêng hơn…

Trước những hiện tượng xảy ra phổ biến như hoang phí vung tiền lẻ tràn ngập khắp nơi, mê muội cầu tài lộc, chen lấn xô đẩy… tạo nên những hình ảnh xấu trong các mùa lễ hội. Vietnamnet có cuộc trao đổi với Thạc sĩ Trần Văn Phương (Giảng viên Khoa Văn hóa – Phát triển, HV Báo chí và tuyên truyền) để làm rõ nguyên nhân và các yếu tố gây nên các hiện tượng xấu đáng báo động trong các mùa du lịch văn hóa tâm linh.

 
Đức Phật là một nhà tư tưởng chứ không phải là một vị thần!

- Phật Giáo tại Việt Nam đang được người Việt nhận thức thế nào thưa ông?

- Phật Giáo không phải là tôn giáo bản địa của người Việt, đó là một tôn giáo ngoại lai có nguồn gốc từ Ấn Độ. Phật Giáo được du nhập vào Việt Nam không hoàn toàn trực tiếp mà có thêm từ một vài nước thứ ba. Vì vậy Phật Giáo tại Việt Nam đã có nhiều bị thay đổi đi một phần và không còn nguyên bản như chính nơi xuất phát của nó. Vì vậy Phật Giáo ở Việt Nam có rất nhiều dòng khác nhau. Nhưng nguy hại, trong một số bộ phận người dân, Phật Giáo đã bị nhận thức không đúng so với giá trị nguyên bản.

- Vậy Phật Giáo ở Việt Nam bị hiểu sai như thế nào?

Đó là ở sự nhật thức đúng đắn về Đức Phật. Lối tiếp nhận đơn giản kiểu quan niệm của nhiều người Việt cho rằng Đức Phật trở thành một vị thần thánh có nhiều phép thần thông. Họ cho rằng Đức Phật càng gần gũi với họ càng tốt để dễ dàng ban phát, phù hộ cho mình. Điều này dẫn đến tình trạng họ tìm đến Đức Phật để cầu xin cho mình những giá trị thực tiễn như tiền tài, may mắn, địa vị… trong cuộc sống mà quên đi rằng Đức Phật chỉ là là một nhà tư tưởng và họ mới chính là chủ thể quyết định chính cuộc sống của mình.

- Người đến cửa Phật mới chính là người quyết định cuộc sống cho mình, xin ông làm rõ ý này ?

Phật Giáo là một tư tưởng triết học lớn, do đức Thích Ca Mâu Ni là người khởi xướng. Chính vì vậy hình tượng Đức Phật là đại diện Phật Giáo chính là đại diện cho những tư tưởng triết học và giáo lý mà bản thân Phật Giáo muốn đem đến cho người dân. Đó là những khuyên răn về việc hướng thiện, về luật nhân quả tức là tự mình làm việc thiện sẽ nhận lại cho mình những điều tốt đẹp.

Chính vì vậy người đến với Phật không phải để cầu xin ban phát những điều tốt cho mình mà để tìm đến những giáo lý của Phật Giáo để phải tự xuất phát từ bản thân mình làm những việc thiện thì mới mong tự nhận lại cho mình những điều tốt đẹp. Vì vậy Đức Phật ở đây chỉ mang ý nghĩa như một nhà tư tưởng chứ không phải là một vị thần thánh.

- Nguyên nhân do đâu khiến nhiều người Việt Nam lại có sự nhận thức sai về Phật Giáo như vậy, theo ông?

Xưa kia, vì Việt Nam là một nước nông nghiệp nên trong quá trình tồn tại và phát triển đã phải chịu sự chi phối rất nhiều của tự nhiên, trong đó có những yếu tố ảnh hưởng tích cực và tiêu cực. Thời đó với trình độ nhận thức hạn hẹp đã cho rằng “Vạn vật hữu linh” tức là mọi sự việc xảy ra đều có sự ảnh hưởng của một vị thần nào đó. Chính vì vậy khi du nhập vào Việt Nam với sự dung dị và hòa bình, dẫn đến Phật Giáo đã giảm bớt tính hàn lâm và tự biện vốn có của nó.

Đến Chùa để cầu xin may mắn và tài lộc liệu có đúng với tinh thần Phật Giáo?

Ngày nay, do nhiều tác động của cuộc sống vật chất đặc biệt là sự kém hiểu biết một bộ phận người dân do chỉ đến với Phật Giáo theo tư cách những người không nghiên cứu hay tu hành, cộng thêm tâm lí đám đông mới dẫn sự lệch lạc như vậy về quan niệm về Phật Giáo. Chính vì hiểu sai nên dẫn đến những hành động chưa đúng thậm chí là sai lệch gay ra nhiều sự biến tướng, sai lệch trong các hoạt động văn hóa tâm linh.

Cùng thờ một đức phật, có chùa lại thiêng hơn?

-Ông giải thích sao về hiện tượng một vài ngôi chùa cứ đến mùng 1 hoặc ngày rằm ùn ùn người dân đổ về cúng lễ?

Đó cũng là sự hiểu sai về Đức Phật như một vị thánh thần đã nói ở trên. Không có chuyện Đức Phật ở chùa Hà lại thiêng hơn ở chùa Thánh Chúa trong đại học Sư phạm Hà Nội gần đó. Bản chất đều là cùng thờ một Đức Phật tư bi hỉ xả, phổ độ chúng sinh. Người đến thờ Phật để tu bản thân mình chứ không phải coi Đức Phật như một vị thánh đem đi điều không may mang đến điều tốt lành mà coi thánh nơi này thiêng hơn thánh nơi khác.

- Là một người nghiên cứu, ông còn thấy những biểu hiện sai lệch nào khác về việc thờ Đức Phật của người dân?

Có rất nhiều, ví dụ như việc dân dã hóa Đức Phật nay đã biểu hiện rất rõ. Ví dụ như việc thờ cúng tổ tiên không phải là một tôn giáo nhưng khi bắt đầu khấn nhiều người lại khấn câu đầu tiên là “Nam mô a di đà phật”. Tín ngưỡng thờ mẫu không phải là phật giáo, nhưng khi nhiều người đến phủ Tây Hồ, phủ Dầy câu đầu tiên khấn cũng lại là “Nam mô a di đà phật”.

Biểu hiện về mặt vật chất như: Chùa là thánh đường thờ Phật thì nhiều nơi lại đưa cả thờ Mẫu là một tín ngưỡng nguyên thủy của người Việt  thế kỉ 16 để đưa vào trong chùa. Thậm chí ngay cả đức thánh Trần Hưng Đạo cũng được vào trong ngồi chùa thờ cùng với Phật.

Cùng là thờ Phật, có chùa lại thiêng hơn...?

Hay là chuyện đi chùa thì lại cúng mặn, đốt vàng mã, thắp hương, công đức tiền lẻ bừa bãi…  tất cả cũng đều bắt nguồn từ nhận thức sai lệch hoặc thiếu hiểu biết của người dân khi đến cửa Phật…

CHÚNG TA CÓ ĐUA NHAU "HỐI LỘ" THÁNH THẦN?

Hiện nay việc dâng, đưa tiền lẻ khắp mọi nơi, đốt vàng mã tràn lan, hoang phí trong chùa với mục đích và suy nghĩ thực dụng rằng cúng, dâng càng nhiều tiền sẽ được hưởng càng nhiều lộc là hành động “Hối lộ thánh thần”, hiểu sai hoàn toàn tinh thần của Phật Giáo.

Sau khi đăng tải bài "Đi lễ chùa, nhiều người chưa hiểu gì về đạo Phật", VietNamNet đã nhận được rất nhiều phản hồi và email của độc giả về vấn đề này. Để làm rõ thêm, VietNamNet tiếp tục cuộc trao đổi với ông Trần Văn Phương – Thạc sĩ, giảng viên Văn hóa – Phát triển, HV Báo chí và tuyên tuyền.

- Khi đến chùa, thắp hương như thế nào là đúng, thưa ông?

- Đến chùa có 3 nơi chính cần thắp hương đó là Ban Đức Ông, Ban Tam Bảo và Ban Đức Thánh Tăng. Ban Tam Bảo là nới Đức Phật ngự, như một vị giáo chủ. Ban Đức Thánh Tăng là các vị tăng lữ, có thể tạm hiểu là những người trung gian kết nối giữa chúng ta với Đức Phật như một vị trợ giáo, ví dụ như Đường Tăng Tạng, Quan Âm Thị Kính như ở một số nơi thờ. Ban Đức Ông tượng trưng từ truyền thuyết trong Phật Giáo liên quan đến nhân vật được cho là người trông coi cai quản vùng đất nơi chùa được đặt.

Mỗi ban chỉ nên thắp một nén hương, mỗi nén hương được gọi là Tâm hương. Chỉ thắp 3 nén hương chỉ khi đến chùa trước khi có sự thay đổi lớn trong cuộc đời.

- Tại sao chỉ nên thắp một nén hương mỗi ban và gọi là Tâm hương?

- Bởi một nén hay nhiều nén thì ý nghĩa của việc thắp hương cũng hội tụ trong 5 yếu tố của của một Tâm hương đó là: Giới hương, Định hương, Tuệ hương, Giải thoát hương và Giải thoát trì kiến hương.

Tình trạng thắp một lúc nhiều nén hương và thắp bắt kì nơi đâu diễn ra phổ biến ở nhiều nơi trong chùa (Ảnh: Báo Thanh Niên)

Giới hương là khi cầm nén hương lên phải giữ được giới luật cho trong sạch. Giới pháp của nhà Phật, cũng như luật tục trần thế. Không thể đến với Phật mà mang tâm của một người bất chính, phá hoại giới luật ( bao gồm phật luật cũng như thế luật ). Định hương là giữ cho cái tâm ấy trong sạch, các đam mê trần tục, bạc tiền, danh vọng phải bị loại ra khỏi đầu óc.

Tuệ hương là phải giữ cho tinh thần minh mẫn, sáng suốt. Vì trong phật giáo có câu: “Tâm không tĩnh thì tuệ không thông, mà tuệ không thông tức là ngu dốt, mà ngu dốt là nguồn gốc của mọi điều tội lỗi”. Không thể có khi đứng thắp một nén hương trong phật điện hay trước bất cứ một ban thờ nào lại trong tâm thế của kẻ tâm thân hay trí tuệ ngu muội.

Giải thoát hương là khi có được 3 yếu tố trên thì lúc đó người thắp hương sẽ có được sự thanh thản như được giải thoát, không nệ vào những lo phiền trần thế, như sinh, lão, bệnh , tử... Những điều thị phi phàm tục ở đời, dễ dàng hài lòng và tha thứ.

Giải thoát trì kiến hương là yếu tố thể hiện sau khi đã có được cái tâm trong sạch, thoát khỏi ham muốn, đạt được sự thanh thản thì  cần phải giữ vững (trì) để sau khi bước ra khỏi cổng chùa từ suy nghĩ biến thành hành động đúng đắn và hướng thiện, chứ không phải là khi tâm thế đã được giải thoát rồi, nhưng khi ra khỏi cổng chùa thì lòng ác lại khởi phát, phải giữ vững (trì kiến) quan điểm của mình, sao cho tâm thanh, lòng tĩnh, trí tuệ uyên bác, giới luật nghiêm minh...Đó mới thực là tâm hương vậy.

Dâng càng nhiều tiền sẽ được hưởng càng nhiều lộc?

- Ngoài việc thắp hương đi chùa nên cúng đồ lễ gì cho đúng, thưa ông?

- Trong Phật Giáo không có cúng tiền vàng và đặc biệt là không cúng đồ mặn. Tiền vàng và đồ mặn chỉ dùng khi cúng thờ Mẫu hoặc là các vị thánh thần mà thôi. Đến với Phật chỉ cần nén hương và hoa quả. Việc cúng đồ mặn và tiền vàng khi đến chùa hiện nay là do có thể nhiều người khi đến chùa có những nơi có thánh thần hoặc thờ mẫu thì có thể họ cho rằng Phật ở cao hơn thánh thần nên cũng cúng mặn cho Phật, đó là việc làm hoàn toàn sai lệch khi đến với Đạo Phật. Vì vậy hiện nay một số ngôi chùa đã ghi rõ "không mang vàng  vào chùa."

Dâng mâm lễ vàng mã, đồ mặn vào chùa là hoàn toàn không đúng khi đến với cửa Phật.

- Ý kiến của ông về hiện tượng rất nhiều chùa hiện nay người dân dâng tiền lẻ hay đốt vàng mã tràn lan khắp mọi nơi?

- Khi tiền tệ xuất hiện, người đến chùa cúng đồng tiền đó là để đóng góp cho nhà chùa xây dựng, sửa sang đúc chuông tô tượng, nó mang ý  nghĩa như phương tiện vật chất để truyền tải cái tâm, cái  ý đồ muốn  đến với đức Phật, nhằm góp phần tôn vinh và cụ thể hóa cái tâm của con người với tinh thần Phật giáo  mà thôi. Còn hiện nay khi đi chùa việc dâng, đưa lẻ khắp mọi nơi, đốt vàng mã tràn lan, hoang phí trong chùa với mục đích và suy nghĩ  thực dụng rằng cúng, dâng càng nhiều tiền sẽ được hưởng càng nhiều lộc. Đó được coi như là hành động “Hối lộ thánh thần”, hiểu sai lệch hoàn toàn tinh thần của Phật Giáo. và đức Phật cũng sẽ không ủng hộ những hành động này.

- Xin cám ơn ông !

CÚNG SAO GIẢI HẠN: TAI NẠN VẪN TỚI. VÌ SAO?

Tỳ Khưu Thích Chân Tuệ

(TG&DT) - Tóm lại xưa nay, cuộc đời đổi thay, vui buồn sướng khổ, cũng tại con người, tạo phước cũng có, tạo nghiệp cũng có, tạo phước hưởng phước, hưởng phước báo lành, tạo nhân lãnh quả, nhân thiện quả hiền, nghiệp ác quả dữ. Đúng luật nhân quả, áp dụng ba đời: quá khứ hiện tại, và cả vị lai, chẳng hề sai chạy, chẳng vị nể ai...

Dâng sớ cầu an. Tiền mất tật mang. Cúng sao giải hạn. Tai nạn vẫn tới.

Hỏi: Hằng năm sau Tết Nguyên Đán, khoảng mùng 8 Tết đến rằm Tháng Giêng, một số chùa kêu gọi biên tên cả gia đình để nhà chùa làm sớ dâng lên cầu bình an từ đầu năm chí những cuối năm. Và nhà chùa còn kêu gọi cúng sao để giải hạn tam tai, hạn Nam sao La Hầu, Nữ sao Kế Đô, sẽ được tai qua nạn khỏi. Kính xin Thầy từ bi giải thích: - Đây có phải là Phật sự không? Có phải là chánh pháp không? Có phải chánh kiến và chánh tín theo Phật giáo không?
 
Đáp:
Con người phải học hiểu chánh pháp để có chánh kiến chánh tín, và đem áp dụng vào thực tế đời sống hàng ngày, để được an tâm, an vui.

Nghĩa là: con người phải thực hành tâm hạnh từ (ban vui),  tâm hạnh bi (cứu khổ), tâm hạnh hỷ (không gây phiền não, vui theo cái phước cái hay của người) và tâm hạnh xả (buông bỏ những ân oán cõi đời).

Nhà chùa cũng đầy phiền não làm sao ban bình an cho ai được? Nhà sư cũng bị chướng nạn, bệnh hoạn, thường bất an, làm sao cầu an, cầu hết bệnh cho ai được? Nếu nhà chùa và nhà sư đem bình an, cầu tai qua nạn khỏi và tiêu hết các bệnh được, thì bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ, y tá, bệnh viện đều nên giải nghệ, giải nghiệp cả rồi.

Trong các chùa hiện nay, chánh pháp khó tìm, đầy rẫy những tà pháp, ma sự mê tín dị đoan, các nhà sư không quan tâm đến truyền bá chánh pháp, lại tiếp tay kết bè, hè nhau phổ biến các hình thức cúng kiến lễ hội cầu nguyện mê tín dị đoan, tà pháp - chính là bọn tà sư, đang mê hoặc, gạt gẫm, dụ dẫn bá tánh đi vào tà đạo trong thế kỷ 21.

Người Phật tử chân chánh ngày nay nhờ tìm học chánh pháp, suy ngẫm, nên đã giác ngộ chân lý, hiễu rõ sự thật, không còn tin tưởng bọn tà sư, giảng tà pháp, hành tà đạo.

* * *
Dâng sớ cầu an
Tiền mất tật mang
Cúng sao giải hạn
Tai nạn vẫn tới
Thiền môn chân chánh
Dạy người thực hành
Tu tâm dưỡng tánh
Theo bát chánh đạo
Việc ác không làm
Nên làm việc thiện
Giữ tâm thanh tịnh
Như chư Phật dạy

* * *

Trong đời sống này, dù đông hay tây, Việt Tàu Phi Ấn, Anh Pháp Mỹ Nga, hễ là người ta, không hề phân biệt, dù nam hay nữ, biết chữ hoặc không, tông môn giáo phái, tín đồ tu sĩ, bác sĩ luật sư, xuất xứ ngành nghề, trẻ già bé lớn, thường dân quan chức, học thức ít nhiều, không điều riêng tư, da trắng da đen, da vàng da đỏ, không bỏ một ai, thảy đều thường gặp: những chuyện may rũi, chuyện được chuyện mất, chuyện hên chuyện xui, chuyện vui chuyện buồn, luôn luôn thay đổi, trong mỗi phút giây, lúc được tán thán, khi bị phỉ báng, nhiều khi chán ngán, cái cảnh tình đời, lúc được lên voi, khi bị xuống chó, không ai thèm ngó, vợ bỏ con chê, lúc được lên hương, khi bị lọt mương, hết đường chạy chọt, lúc được hiển vinh, khi bị tủi nhục, ở tù rục xương, lúc được sung sướng, khi bị khổ đau, không sao kể xiết.

Những lúc vui sướng, cuộc đời lên hương, chỉ biết thụ hưởng, phủ phê hỉ hả, không nhớ gì cả. Nhưng khi quá khổ, chịu đựng không thấu, tranh đấu đảo điên, khổ nạn liên miên, bấy giờ mới nhớ, đến chuyện cầu nguyện, khấn vái thần linh, van xin bồ tát, khẩn cầu thượng đế, ban cho phép lành, dành cho phép lạ, hy vọng cầu may, đổi thay vận mệnh.

Bởi vậy cho nên, mỗi dịp đầu năm, sau tết nguyên đán, mùng tám tháng giêng, người ta thường hay, chạy ngay vào chùa, nhân mùa thượng ngươn, dâng sớ cầu an, cúng sao giải hạn, cầu cho nạn khỏi, cầu cho tai qua, cầu cho toàn gia, bình an vô sự, kể từ đầu năm, chí những cuối năm. Sẵn dịp trăng rằm, cầu luôn đủ thứ: nào được buôn may, gặp hên bán đắt, một vốn bốn lời, nhất bổn vạn lợi, không đợi kiếp sau, kiếp này trúng số, con cháu đỗ đạt, tiền bạc như nước, sắm xe tậu nhà, tha hồ sung sướng. Các chuyện cầu nguyện, van xin cầu khẩn, khấn vái như vậy, có thực hay không, có được gì không?

Người thì nói có, hễ cầu thì được, linh ứng vô cùng, nên tin là có, mất mát gì đâu. Kẻ lại nói không, trông chi chuyện đó, nằm mơ thì có, mở mắt tay không, không vẫn hoàn không, uổng công dâng sớ, mất tiền cúng sao, mau mau tỉnh thức! Tại sao như vậy? Bởi vì, thử hỏi: Sớ kia ai đọc? đọc cho ai nghe? chấp nhận hay không? thực không ai biết! Sao nọ ở đâu? ảnh hưởng thế nào? thực không ai biết! Hãy nhân dịp này, chúng ta cùng nhau, xét thử xem sao, cái chuyện đầu năm, dâng sớ cầu an, cúng sao giải hạn, có đúng chánh pháp, có ích lợi gì, thực tế hay không?

Thực ra nếu như, người ta tu nhân, tích phước nhiều đời, từ trước đến nay, thì được gặp may, không cần cầu nguyện, chẳng cần van vái, dâng sớ cầu an, cúng sao giải hạn. Những người đạo khác, đâu có bận tâm, dâng sớ cầu an, cúng sao giải hạn, nhưng họ có phước, họ vẫn gặp may, tiêu tai khỏi nạn, tam tai đại hạn, chẳng nghĩa lý gì, chẳng cần cúng sao, tào lao quá xá! Hãy thử suy nghĩ: Tại sao như vậy?

Bởi theo thông lệ, từ xưa tới nay, nhiều người thường hay, vào chùa đầu năm, dâng sớ cầu an, cúng sao giải hạn, nhưng mà tai nạn, vẫn tới ào ào, làm sao giải thích? Theo đúng chánh pháp, chúng ta phát tâm, giúp đời giúp người, gặp chuyện khó khăn, khốn khó khổ đau, cùng nhau tu tập, hạnh nguyện bố thí, tài thí pháp thí, cùng vô úy thí, cứu nhân độ thế, giúp đỡ tiền của, giúp công giúp sức, giúp lời chỉ dẫn, khuyên lơn an ủi, cho người bớt lo, cho đời bớt khổ, bớt cơn sợ hãi, thấy đâu là phải, việc đúng thì làm, đúng với chánh đạo. Làm được như vậy, chúng ta được phước, dù không mong cầu, chắc chắn không nghi. Khi tích được phước, dù ít hay nhiều, phước báo lai đáo, nghiệp báo tiêu trừ, chúng ta gặp may, tai qua nạn khỏi, gặp thầy gặp thuốc, tưởng như phép lạ.

Thử xét thí dụ: trên chuyến phi cơ, xe hơi xe lửa, xe đò tàu thủy, chỉ khi gặp nạn, mới biết người nào, có phước bao nhiêu. Người nào phước nhiều, thoát nạn hiểm nguy, đường tơ kẻ tóc, một cách lạ lùng, hoàn toàn an ổn, người đời cho là: phép lạ hiển linh, thần linh cứu độ, người đó số hên, cho nên mạng lớn. Người nào kém phước, cũng được người cứu, chậm hơn một chút, xây xát ít nhiều, người đời cho là: người đó cũng hên, nên còn cứu kịp. Người nào vô phước, rước họa vào thân, các kẻ ác nhân, làm việc thất đức, không chịu tích phước, chẳng chịu tu nhân, thân không giữ được, người đời cho là: tới số mạng vong, không ai cứu nổi!

Lúc gặp hiểm nguy, người cầu Đức Mẹ, kẻ khấn Quán Âm, lâm râm cầu nguyện. Nếu như cả hai, cùng được thoát hiểm, vị nào cứu họ? Còn nếu cả hai, đều bị thảm tai, chúng ta thử hỏi: Hai ngài ở đâu, chẳng nghe kêu cứu? Bác ái từ bi, sao nghe chẳng cứu?  Thực ra đó là: chẳng có vị nào, cứu hay không cứu, các người gặp nạn. Chúng ta nên biết, sự thực chính là: chỉ có phước báu, do ở thiện tâm, cứu giúp con người, khi gặp tai biến, dù ở nơi đâu, trên đất trên không, trên sông trên biển. Còn phước thì sống, hết phước mạng vong, đừng mong cầu khẩn, hãy mau giác ngộ.

Trong Kinh A Hàm, Đức Phật có dạy: Chỉ có phước báo, mới có thể làm, giảm thiểu nghiệp báo. Phước báo là do, việc làm phước thiện, chính mình tạo ra, chứ không phải do, thượng đế ban cho, hay do cầu nguyện. Nếu cầu nguyện được, tại sao nhiều người, cùng cầu cùng nguyện, kẻ chết người sống? kẻ qua người vướng?

Chúng ta nên biết, sự thực chính là: người nào tích phước, từ trước đến nay, không cần cầu nguyện, cuộc đời cũng an, ít gặp nguy nan, ít có sóng gió, ít có trắc trở, đở bớt phiền muộn, tai qua nạn khỏi, chuyện lớn hóa nhỏ, chuyện nhỏ hóa không, chuyện khó hoá dễ. Khi tích phước đức, dù ít hay nhiều, đều được hưởng phước, rước được điều may, không hay thất bại, tại thế an vui, tai qua nạn khỏi, gặp thầy gặp thuốc, không chuốc ưu phiền, người hiền thường gặp, bệnh tật tiêu trừ, tưởng như phép lạ. Còn như cầu nguyện, mà không tích phước, thì cũng như không, chẳng nên trông mong, phép lạ xảy đến! Nghiệp báo cũng do, chính mình tạo ra, chứ không phải do, thượng đế thần linh, hay bất cứ ai, xúi bảo mình làm.

Chính do tâm tham, xui khiến người ta, nổi lên tâm ma, cầu xin tiền tài, giàu sang sung sướng, một chút phẩm vật, nhỏ nhoi chút xíu, dâng cúng cho chùa, nhà thờ đền miếu, cầu xin bạc triệu, liệu còn chưa đủ, ngủ nghỉ ăn uống, muốn danh muốn lợi, tài sắc phù du, muốn tu nên bỏ. Chính do tâm sân, xui khiến người ta, nổi lên tâm ma, cầu xin thắng kiện, tàn hại kẻ thù, triệt hạ đối thủ, người họ không ưa, vui mừng khi thấy, kẻ thù thê thảm, sống trong khổ nhục, chết cũng không xong, họ mới hài lòng. Chính do tâm si, xui khiến người ta, nổi lên tâm ma, cầu nguyện vãng sanh, tây phương cực lạc, mà không cần tu, không gìn giữ giới, ngay trong hiện đời, đợi lúc hấp hối, nói với người nhà, rước nhiều ông bà, đến nhà hộ niệm, chỉ niệm mười tiếng, liền khiến được lên, cảnh giới Di Đà: thiệt là vô minh!

Trong Kinh A Hàm, Đức Phật có dạy, thí dụ như sau: Nếu một người nào, phải bị trừng phạt, nuốt một nắm muối, thì sẽ đau khổ, biết là dường nào. Nếu bỏ nắm muối, vào một tô nước, rồi mới phải uống, thì sẽ dễ chịu, hơn một chút xíu. Nếu bỏ nắm muối, vào một lu nước, rồi mới phải uống, thì sẽ dễ chịu, nhiều hơn chút nữa. Nếu bỏ nắm muối, vào một hồ nước, rồi mới uống vào, thì dễ như không, không còn lớn chuyện.

Nắm muối tượng trưng, cho các nghiệp nhân, bất thiện chẳng lành, con người đã tạo, từ trước đến nay, bây giờ phải lãnh, nghiệp quả nghiệp báo, nói chung đó là: quả báo khổ đau, không sao tránh khỏi.

Chỉ có phước báo, ít hay là nhiều, tượng trưng tô nước, lu nước hồ nước, mới có thể giúp, con người vượt qua, sóng gió ba đào, nạn tai đau khổ, như vậy mà thôi. Đó mới thực là: chí công vô tư. Mình làm mình hưởng. Mình làm mình chịu.

Con người nên lo, dừng nghiệp chuyển nghiệp, tự mình suy xét, chính bản thân mình, đừng nhìn người khác, tu sửa ba nghiệp: thân khẩu và ý, đừng làm bậy bạ, đừng nói tốt xấu, đừng nghĩ vẫn vơ, ngay từ bây giờ, đừng đợi đến khi, nghiệp báo xảy ra, dù có rên la, không còn kịp nữa, nghiệp báo vay trả, chẳng ai thoát cả, van xin cầu khẩn, thì cũng muộn màng! Cầu nguyện van xin, dù tin hay không, thực sự chẳng giúp, chẳng ích gì đâu. Hãy thử suy nghĩ: Tại sao như vậy?

Bởi vì các vị, giáo chủ giáo phẩm, giáo quyền cao cấp, giáo hội trung ương, giáo sĩ địa phương, một khi tai ương, đến lúc xảy ra, là ai cũng vậy, cũng phải trả nghiệp, đã tạo trước kia, nhiều đời nhiều kiếp, hoặc trong kiếp này, cũng bị nguyền rủa, vu khống cáo gian, xử án khổ nạn, bắt bớ giam cầm, ám sát giết hại, dù là người thân, cũng không thay được.

Trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật có dạy: Dù cho lên non, xuống biển vào hang, nghiệp báo đã mang, vẫn theo con người, như hình với bóng, không ai có thể, tránh được thoát được.

Tóm lại xưa nay, cuộc đời đổi thay, vui buồn sướng khổ, cũng tại con người, tạo phước cũng có, tạo nghiệp cũng có, tạo phước hưởng phước, hưởng phước báo lành, tạo nhân lãnh quả, nhân thiện quả hiền, nghiệp ác quả dữ. Đúng luật nhân quả, áp dụng ba đời: quá khứ hiện tại, và cả vị lai, chẳng hề sai chạy, chẳng vị nể ai, bất cứ người nào, dù tin hay không, nếu đã gieo nhân, cũng đều gặt quả. Trong sách có câu, cổ nhân thường dạy: Lưới trời tuy thưa, mà chưa ai thoát. Chữ “trời” có nghĩa: nghiệp báo đã mang, đến giờ phải trả, chưa ai thoát được.

Thượng đế thần linh, ơn trên thiêng liêng, chí công vô tư, không bao giờ làm, theo lời cầu nguyện, van xin khấn vái, của những con người, chẳng tích phước đức, lại gây ác nhân, thất đức vô cùng. Chẳng hạn như là: nay đâm bị thóc, mai thọc bị gạo, vu khống cáo gian, khai man lý lịch, lợi dụng pháp luật, xúi người kiện tụng, lợi dụng thần thánh, kiếm tiền bất chánh, giựt hụi quịt nợ, sang đoạt tài sản, chiếm hữu tác quyền, làm tiền trắng trợn, hung tợn hiếp người, bần cùng cô thế, bất kể khổ đau, của bao người khác.

Ngày xưa chư Tổ, có lòng dạy dỗ, con người phát tâm, làm lành lánh dữ, tạo nên phương tiện, dâng sớ cầu an, cúng sao giải hạn. Mục đích khuyến dụ, mọi người về chùa, cúng kiến lễ lạy, mong cầu an tâm, gia đạo hòa bình, tánh tình hướng thiện, rồi nhân dịp đó, truyền bá chánh pháp, thuyết giảng giáo lý, chỉ bát chánh đạo, đó là: chánh kiến, và chánh tư duy, chánh ngữ chánh nghiệp, cùng là chánh mạng, và chánh tinh tấn, chánh niệm chánh định, giảng luật nhân quả, giải lý vô thường, phước đức công đức, phước báo quả báo, đọc tụng kinh điển, chí tâm tu tập, dạy các pháp môn, niệm Phật ngồi thiền, hiền lành tạo phước, việc thiện làm trước, từ khước ác nhân, tu tâm dưỡng tánh, giúp đỡ con người, giác ngộ chân lý, thấy được sự thực, giải thoát khổ đau, xây dựng cuộc sống, an lạc hạnh phúc.

Ngày nay chúng ta, tâm Phật tâm ma, lẫn lộn khó phân, cho nên tạm dùng, phương tiện thiện xảo, cúng sao giải hạn, dâng sớ cầu an, khi còn hoang mang, tâm thường bất an, gian nan khốn khổ, không chỗ nương tựa, vì chưa hiểu đạo, chẳng biết làm sao, thực hành thế nào, cho đúng chánh pháp.

Giờ đây thấu hiểu, rõ ràng không nghi, đâu là chánh pháp, chúng ta phát nguyện: dừng nghiệp chuyển nghiệp, quay đầu hướng thiện, quyết tâm trì chí, ý hướng tu hành, tu tâm dưỡng tánh, tránh làm điều ác, chỉ làm điều thiện, giữ tâm thanh tịnh, tích cực chuyển hóa, cuộc sống tâm linh, của bản thân mình, ngày được tốt hơn, tâm được an hơn, cuộc sống tốt hơn, an lạc hạnh phúc. Như vậy thực tế, những người xung quanh, cùng chung phúc lạc, cho đến một ngày, ngộ được chánh đạo, đạt được đỉnh cao: niết bàn giải thoát.