Thạc sĩ Vũ Đức Huynh
Thiện và ác là hai từ của dân gian dành chỉ hai hiện tượng luôn hiện hữu trong cuộc sống, luôn xảy ra trong xử thế. Thiện và ác được biểu tả dưới nhiều hình thức như: ông thiện, ông ác ở một số nơi thờ cúng công cộng của một vài đạo, giáo.
Người dân thường căn cứ vào cách hành xử của con người trong cuộc sống hàng ngày hay trong xử lý một việc mà xếp người này vào loại người thiện, người kia vào loại người ác; việc này là việc thiện, việc kia là việc ác.
Quan niệm và cách phân loại thiện, ác trong dân gian chỉ nhìn thấy một cách đơn giản những hành vi bộc lộ, đặc trưng, rõ ràng về cái thiện và cái ác. Việc xếp loại của dân chúng về thiện và ác biểu hiện trong việc làm, của hành động, cách xử sự mới chỉ nhìn vào những hậu quả “nhãn tiền”, hậu quả trông thấy ngay trước mắt, mà chưa nhận thức được đầy đủ cái nghĩa của từ thiện và từ ác mà bản thân hai từ ấy quy nạp từ hai phạm trù đối lập trong cuộc sống.
Để nhận thức rõ thêm về thiện và ác, tôi xin đề cập trong nội dung tham luận 5 vấn đề cụ thể sau đây:
1. Khái niệm thiện và ác
2. Các biểu hiện của thiện và ác trong cuộc sống
3. Hiệu ứng của thiện và ác
4. Các tính chất của thiện và ác
5. Thiện ác dưới các góc nhìn khác nhau
1. Khái niệm thiện và ác
Khái niệm “thiện” (good, virtue)1
Thiện là một phạm trù không những về ngữ nghĩa từ vựng “thiện” mà còn là một phạm trù thực tế trong hành động, trong hành vi, hành xử, trong việc làm, trong lời nói, cử chỉ được con người biểu hiện về cái thiện.
Về ngữ nghĩa “tính từ thiện chỉ phẩm chất, hành vi của con người tốt, lành, hợp với đạo đức”2.
Trong phạm vi ngữ nghĩa có cả một loạt các từ ghép: thiện cảm, thiện ý, thiện chí, thiện tình, thiện nhân, thiện tâm...
“- Thiện cảm chỉ tình cảm tốt, sự ưa thích đối với ai đó, bó hẹp nghĩa cảm tình trong quan hệ người với người.
- Thiện ý chỉ ý định tốt lành trong hành xử quan hệ với người khác (một ai đó có thiện ý giúp đỡ, tỏ rõ thiện ý).
- Thiện chí là suy nghĩ tốt và luôn mong muốn đi đến một kết quả tốt đẹp khi giải quyết một việc gì.
- Thiện nhân, một con người luôn có cử chỉ, hành động, việc làm tốt đối với mọi người trong cuộc sống, ...” 2
Qua một số ví dụ nêu trên, nhờ sự kết hợp với một từ khác thành một từ ghép tạo ra một nghĩa khu biệt biểu hiện “thiện”. Về mặt ngữ nghĩa, “thiện” là một phạm trù về tính tốt, lòng lành, người thảo thể hiện ra của một con người trong cuộc sống...
Về khía cạnh thực tế “thiện” là một phạm trù bao hàm hành động đa dạng, đa cách thức, đa kết quả; phạm vi hành xử rộng như: lời nói, cử chỉ muôn màu, muôn vẻ mà đôi khi con người không nghĩ rằng những điều đó cũng thuộc phạm trù “thiện”. Hành động giúp tiền cho người nghèo của các nhà hảo tâm, của các doanh nghiệp thường làm gọi là “công tác từ thiện” mới biểu hiện khái niệm “thiện”. Song ngay một lời động viên an ủi từ đáy lòng đối với một ai đó cũng là biểu hiện của “thiện”, vv...
Khái niệm Thiện là một phạm trù chẳng những trong khía cạnh ngữ nghĩa mà còn là một phạm trù thực tế ở khía cạnh hành động với đa dạng cách thức, việc làm, cử chỉ, lời nói... biểu hiện sự tốt lành, có tâm có đức, mang đầy đủ tính nhân bản của con người đối với con người, và xã hội này đối với xã hội khác, dân tộc này đối với dân tộc khác, đất nước này đối với đất nước khác, vv...
“Thiện” ở mỗi người và trong mọi người vừa ở phạm vi bản năng, vừa ở phạm vi bản ngã của từ “Người” ở cõi trần với muôn loài sinh vật cộng sinh trên trái đất.
Khái niệm “Ác” (evil; the spirit of evil)1
Cũng như khái niệm “Thiện”, khái niệm “Ác” là một phạm trù trong cả ngữ nghĩa của từ này và cả trong thực tế biểu hiện cái “ác”.
Về khía cạnh ngữ nghĩa, “ác là một tính từ chỉ chung về tính cách của người hoặc một việc làm có những biểu hiện tỏ ra sẵn sàng gây hoặc thích gây đau khổ, tai hoạ cho người khác; có tác dụng xấu dẫn đến hậu quả không hay hoặc là ở mức độ khác thường gây ấn tượng mạnh”3.
Để biểu hiện ngữ nghĩa, từ ác được ghép với một từ khác cho một loạt từ: ác độc, ác cảm, ác bá, ác khẩu, ác hiểm, ác liệt, ác chiến, các thú, ác tính, ác mộng...
“- Ác cảm để chỉ một cảm giác không ưa giữa một người với người khác.
- Ác nghiệt là cách cư xử tàn tệ, khắt khe quá mức đến không thể chịu đựng nổi, không thể chấp nhận.
- Ác bá chỉ kẻ thường dựa vào quyền thế ức hiếp, đàn áp hành hạ con người.
- Ác độc cũng như độc ác, chỉ về một hành động thâm hiểm mà còn biểu hiện sự thích thú khi gây đau khổ cho người khác.
- Ác hiểm là một mưu mô nguy hiểm đáng sợ được sắp đặt trước để cố tình làm hại đối tượng”3.
Những thí dụ các biến thái từ vựng ở trên, ta thấy được ngữ nghĩa đa dạng, lột tả mọi thứ “ác” được biểu hiện không chỉ con người đối với con người mà còn là một chế độ đối với một chế độ, một đất nước đối với một đất nước, một khối nước đối với một nước v.v. Những kiểu “ác” này nằm trong cụm từ “Ác chiến” hay “cuộc chiến tranh ác liệt”, thậm chí “ác” ẩn dấu trong một hành động đầy tàn ác bi thương như “cuộc thánh chiến”, “khủng bố”, “đàn áp”, “dập tắt”, đôi khi lại là một ngữ bóng “làm cỏ”!
Ngữ nghĩa về cái “Ác” không những chỉ ở một hành động thực mà còn thuộc khía cạnh tâm linh: “Thần ác”, “ ác ma”, “ác quỷ”...!
Đôi khi cái ác ở trong nghĩa từ ảo huyền hư vô “ác mộng”. Một thứ ác vô hình vẫn làm con người hoảng sợ, lo buồn, tác hại dữ dội tới thần kinh, tâm trạng từ một giấc mơ dữ, thấy những điều kinh khiếp, rùng rợn tồn tại trong ký ức khi tỉnh giấc. Biểu tượng cái ác chỉ tai hoạ đã phải trải qua: “Cơn ác mộng” vân. vân.
Khái niệm “ác” trong hành động cũng là một phạm trù bao hàm mọi động thái, việc làm, cách hành xử... trong cuộc sống thực và cả trong đời sống tâm linh.
Khái niệm “ác” không thuần tuý được nhận biết qua các hành động giết bỏ, bức hại, triệt hạ đối với con người, đối với các sinh vật mà nhiều hành vi, cách cư xử, lời nói tưởng trừng như vô hại chìm lặn khó nhận biết tạo thành “nghiệp ác”. Về khía cạnh này phải bằng nhận thức tâm linh mới thấu hiểu hết khái niệm ác.
Khái niệm ác ở loài người tàng chứa trong các dục vọng thuộc bản ngã: tham của, tham quyền, tham chơi. Ba phạm trù chính trong bản ngã của con người tạo ra bao “thứ ác” và “nghiệp ác” cho đồng loại, cho muôn loài sinh vật ở cõi trần.
Thiện khơi mầm ác, song ác có tính của thiện. Đây không chỉ là cái nhìn biện chứng mà cũng là cách nhìn của khoa học tâm linh.
Ác là một khái niệm bao gồm không chỉ sự biểu thị ngữ nghĩa mà còn vạch rõ bản chất của hành động, một việc làm, một hành vi, một cử chỉ, một lời nói, biểu hiện thực và ảo bộc lộ tính tàn bạo, nham hiểm, độc địa, cay nghiệt, mê hoặc... trong phạm vi nhân bản của loài người và sinh bản của muôn loài sinh vật.
Thiện, Ác là một cặp phạm trù luôn cùng tồn tại thúc đẩy sự tiến hoá tự thân và duy trì sự sống giống như mọi cặp phạm trù đối lập: lành dữ, phải trái, sấu đẹp, trắng đen, âm dương vân vân. Đó là sự vận động tất yếu của cuộc sống muôn hình vạn trạng, nhưng có chung một biểu hiện của bản năng và bản ngã của loài người, của mọi sinh vật sống trên Trái đất.
2. Biểu hiện của Thiện và Ác (Expression of good and Evil)Như đã nói ở phần khái niệm, Thiện và Ác là một cặp phạm trù bao hàm nhiều dạng thức. Từ những dạng thức đó soi vào thực tiễn để thấy được phần nào các biểu hiện Thiện và Ác. Trong nội dung có hạn, tôi chỉ đơn cử mang tính điển hình và đại diện cho từng khái niệm riêng biệt Thiện và Ác dưới đây.
Biểu hiện của Thiện.
Biểu hiện “Thiện” trong thực tế cuộc sống là vô cùng phong phú và đa dạng “Thiện” trong hành động, cái Thiện trong việc làm, cái Thiện trong suy nghĩ - ý định, trong hành vi - ý thức, trong cử chỉ, cái Thiện trong thái độ, trong phẩm cách và quan niệm. Cái Thiện còn được thể hiện trong văn học, nghệ thuật, phim ảnh và trò chơi, một hình thái mới của cái thiện trong thời đại Computer - thời đại @.
Thiện biểu hiện trong hành động được nhận thấy rõ ràng cụ thể. Đó là các hoạt động từ thiện; “Ủng hộ người nghèo”, “Trái tim cho em”, “Khuyến học, khuyến tài”, “trợ giúp người khuyết tật”, “đền ơn đáp nghĩa”, “uống nước nhớ nguồn” và biết bao phong trào phát động khác.
Thiện trong việc làm như: bỏ tiền vào hòm quyên góp mỗi khi có thiên tai để giúp các nạn nhân, là những nhà hảo tâm, những mạnh thường quân tham gia các phong trào xây “nhà tình thương”, “nhà tình nghĩa”; là cung cấp các phương tiện sinh hoạt, lương thực, thực phẩm cho “trại trẻ mồ côi”, cho “nhà dưỡng lão”, “trường con em liệt sỹ” vân vân.
Thiện trong hành đông, việc làm... dễ thấy, dễ biết hơn cái Thiện ẩn trong hành vi, ý định, ý thức, suy nghĩ... Những biểu hiện cái Thiện ẩn đôi khi không được con người để ý, lưu tâm và khó nhận thức được. Ví dụ khi thấy một tai nạn giao thông nghiêm trọng “nghĩ đến cần dừng lại đưa người bị nạn đi cấp cứu”. Như thế đã biểu hiện Thiện từ ý nghĩ dẫn đến hành động Thiện. Một lời cầu nguyện mong cho mọi việc tốt đẹp đối với một ai đó cũng chính là một biểu hiện của tấm lòng Thiện. Ngày nay phong trào “các tình nguyện viên” phát triển với nhiều mô hình phong phú mang đậm tính Thiện. Đó là các tình nguyện viên chăm sóc “Người già cô đơn”, “trẻ mồ côi tàn tật”, “góp sức kỳ thi” vân vân. Đó là những hành động Thiện trong tâm, trong suy nghĩ trong ý định Thiện. Chăm sóc một “người dưng nước lã” như người thân, như cha mẹ mình, con cái mình nếu không xuất phát từ “phẩm cách Thiện”, “quan niệm Thiện” làm sao có thể có hành vi và thái độ Thiện.
Cái Thiện tiềm ẩn trong quan niệm là thật khó nhận thức. Đó là không pha các hoá chất đã cấm vào thực phẩm, không làm thuốc giả.v.v. vì quan niệm rằng các thứ có thể dẫn đến chết người.
Trong văn học, nghệ thuật, phim ảnh... tác giả, đạo diễn, nghệ sỹ biểu hiện cái “tâm Thiện” được thể hiện qua các tác phẩm, qua cách diễn xuất khiến độc giả, khán thính giả hướng Thiện. Xuất phát từ cái “đức Thiện”, “tâm thiện” của chính họ, họ sáng tác các câu chuyện ngợi ca cái Thiện, các bài thơ, bài hát, vở kịch nêu cao cái Thiện.
Khó nhận biết nhất là cái “Thiện” thể hiện trong các giáo lý, luật pháp hướng dẫn dân chúng vào con đường chính, con đường Thiện, con đường đúng, xây dựng một xã hội công bằng, bác ái, ấm no hạnh phúc.
Để thực hiện được cái đích đó các nhà hoạch định chính sách, luật pháp, giáo lý đã mang “bản tính Thiện”, “ý thức Thiện”. Cái Thiện biểu hiện trong xã hội trong thế giới thời hội nhập: “Xóa bỏ quá khứ, hướng tới tương lai” giải quyết vấn đề “bằng thương lượng hoà bình”, bằng thoả hiệp... Đó là cách “hành xử Thiện”. Song ít người nhận thức thấy. Có vô vàn biểu hiện cái Thiện. Trước tiên “Thiện” xuất phát từ cái Thiện vô hình thuộc lĩnh vực tâm linh duy thức. Cái thiện hữu hình thuộc lĩnh vực thực hành duy thực. Mọi biểu hiện của cái Thiện đều có gốc tâm linh. Bởi con người thường tâm niệm trước khi làm một việc thiện là được thâm, tâm bình an, thư thái là làm phúc ở đời, là để phúc đức lại cho con cháu mai sau.
Việc hình thành thói quen hành Thiện là tương đối khó. Bởi vì nếu một giây trước khi hành thiện mà thoáng nghĩ đến bản thân, đến tình huống, đến hiệu quả v.v. là sẽ cản trở cái ý định của bản thân.
Tính chân thực của cái Thiện là lòng trắc ẩn thường tạo ra cái Thiện, súi dục con người ta hành Thiện!
Trong quan niệm: “trau dồi tâm tư nơi y hành trong thuyết lý của Đạo Phật, Đức Phật dạy phải tư duy rằng: Thân tất cả chúng sinh cũng như thân ta thường đau khổ đói khát. Ta hãy thương yêu và chăm sóc chúng như chăm sóc con ta vậy”4 và “... hãy thương người đang bị bệnh khổ; hãy thương người đang buồn khổ; hãy thương người có tai nạn...”5. Tất cả phải xuất phát từ lòng trắc ẩn.
Khơi dậy lòng trắc ẩn của con người sẽ tạo ra biết bao hành động Thiện, việc làm Thiện, hành vi Thiện, ý thức Thiện, lời nói Thiện.v.v
Xã hội, con người đều hành Thiện sẽ làm cho cái Thiện lấn át cái Ác.
Cái Thiện là một phần gốc của sự tồn tại.
Cái Ác là một phần gốc của sự huỷ diệt! Thiện thì sinh, Ác thì diệt một cặp phạm trù đối lập mang tính thực tiễn hơn là tính thuyết lý.
Để hiểu sâu hơn sự đối lập này ta cần xét thêm những biểu hiện của cái “Ác” trong con người, trong cuộc sống và trong xã hội một cách cụ thể sau đây:
Biểu hiện của Ác (expression of evil)
Biểu hiện cái “ác” cũng có quá nhiều dạng thức, quá nhiều tình cảnh và quá nhiều hiện trạng. Có thể phân thành hai loại biểu hiện về Ác:
- Cái ác lộ liễu
- Cái ác ảo ẩn
Ác lộ liễu là cái ác dễ thấy, dễ nhận biết. Nó rõ ràng như giữa “thanh thiên bạch nhật”. Đó là cái ác trong hành động, một việc làm, trong hành vi, cách làm, cách xử sự... Người dân thường gọi rõ tên từng kiểu ác như: “một hành động ác”, “một việc làm ác”, “một mưu đồ ác”, “một lời nói ác”, v.v...
Hành động giết người bằng nhiều kiểu, dù là kiểu gì thì việc tước đi mạng sống của đồng loại là một “hành động ác”. Nhận thức về cái ác kiểu này thường trái chiều. Cụ thể trước một án tử hình có quan niệm là “nợ máu phải trả bằng máu” hay “giết người đền mạng” “chết là đáng”. Ngược lại có quan điểm: “oan oan tương báo đến bao giờ mới dứt” hay “mở cho một con đường sống”, “lấy công chuộc tội”, “rộng lượng hải hà” và “ai cũng có quyền được sống, quyền mưu cầu hạnh phúc”. Trước một cách xử “ác” thường có hai quan niệm trái chiều xẩy ra.
Lấy cái ác trị cái ác và lấy cái thiện để lui cái ác là hai quan điểm đã và đang còn tồn tại. Thực tế nhiều nước trên thế giới ngày nay đã không có án tử hình hoặc đã bỏ án tử hình để giảm bớt một hành động ác.
“Việc làm ác” biểu hiện nhiều kiểu tồn tại trong đời sống xã hội. Biểu hiện ác giữa con người với một con người hay với một gia đình; thậm trí với cả một cộng đồng: như tạt axit, chặn cống thoát nước, phá vườn cây, bịt lối đi hay xả nước thải công nghiệp vào kênh, ngòi, sông, rạch v.v...!
“Hành vi ác” là khó tưởng tượng, khó lý giải. Nó vừa là hành vi vô thức vừa có ý thức, ví dụ bọn trẻ ném đá đất vào tầu khách, tháo các thiết bị đường sắt, cắt cáp quang, giây điện thoại v.v... Hành vi ác của những kẻ buôn ma tuý, dụ dỗ hút chích, buôn bán xác thịt phụ nữ bằng nghề bán dâm, cave, bắt ép trẻ vị thành niên lao động khổ sai, đánh đập, ngược đãi; buôn bán các chất độc hại đem dùng cho thực phẩm; làm thuốc chữa bệnh giả vân vân và vân vân. Có kiểu ác ít được phanh phui lên án đó là những kiểu ác thuộc loại ảo ẩn.
Một Điển hình là “ác ngôn” (lời nói ác) như: phao tin đồn thất thiệt, tin đồn nhảm; bịa đặt nặc danh để làm “thân bại danh liệt”, chửi bới, nguyền rủa một người, che dấu một mưu đồ nguy hiểm gây bao tai họa... là kiểu “cái ác” khó nhìn thấy. Ngay trong thời đại văn minh, những cái ác khốc hại nhất vẫn diễn ra nơi này, nơi kia. Đó là các cuộc chiến tranh, khủng bố, tranh chấp lãnh thổ, đàn áp, can thiệp bạo lực, lật đổ, bạo loạn gây ra chết chóc, tàn phá, ly tán, tàn tật, đói khát cho hàng triệu sinh linh ở nhiều đất nước!
Ở thời computer, kẻ sản xuất các game độc hại, bạo lực đã ngầm tạo ra cái ác từ tâm địa ác độc của chúng... Suy nghĩ ác dẫn tới hành động ác, cách làm ác... Mọi biểu hiện của cái ác do vô thức hay có ý thức dù thuộc loại lộ liễu hay thuộc loại ảo ẩn khó nhận biết, khó ý thức đều gây ra bị thương!
Tham vọng thường là nguyên nhân gây ra cái ác dưới nhiều hình thức.
Một vấn đề cần được làm rõ khi bàn đến biểu hiện Thiện và Ác. Đó là tính biện chứng của cặp phạm trù này. Tính biện chứng thể hiện: trong cái ác lại tàng chứa cái thiện; cũng như vậy, trong cái thiện vẫn luôn có mầm cho cái ác.
Để làm rõ cái ác lại ẩn chứa cái thiện ta xem xét một ví dụ thực tiễn là sử dụng con người, động vật làm vật thí nghiệm, thử nghiệm, kiểm nghiệm (những việc làm ác) nhằm tìm hiểu nguyên nhân gây ra một bệnh, một ổ dịch, qua đó để sản xuất thuốc chữa hữu hiệu hay chế một loại vacxin phòng bệnh. Một “việc làm ác” thật sự đấy, song nó đã tạo ra một hậu quả thiện. Đó là cứu được người bệnh, dập tắt một trận dịch, một ổ bệnh, cứu sống hàng trăm, hàng nghìn người hay làm cho hàng triệu người bình tâm, không phải lo sợ trước một bệnh hiểm nghèo, trước một trận dịch đe dọa. Đó là việc ác có thiện. Việc tạo ra bệnh, tạo ra cái chết cho một vật trong thí nghiệm (làm ác) để nghiên cứu một thứ thuốc, một loại vacxin để cứu sống một số đông đồng loại là một việc làm thiện, là rất cần có, là thực tiễn khoa học, là việc đặt lợi ích của đa số lên trên cái bất lợi của một thiểu số.
Tính khoa học tất nhiên không tránh khỏi đối lập với quan niệm tâm linh về thiện và ác.
Trong cái thiện có chứa mầm tạo ra cái ác, có rất nhiều hiện tượng, sự việc cho phép nhận biết được phần trái của hành động thiện, việc làm thiện, quan niệm thiện, hành vi thiện.
Quan niệm thiện như: “lấy đức để trị dân” với việc áp dụng các chính sách mềm mỏng, luật pháp khoan dung, xử lý thiện tình, kỷ cương lỏng lẻo, đó là cách hành xử thiện sẽ dần dà dẫn đến trật tự xã hội rối loạn dần dần, pháp luật sẽ từng bước bị coi nhẹ. Nó khơi nguồn cho nhiều tật xấu xuất phát từ dục bản ngã vốn có của loài người do không bị kìm chế mà sinh ra tội ác.
Về tu từ học: trong từ “con người” có chứa 2 ngữ “con” và “người”. “Con” ẩn chứa cả bản năng và bản ngã của động vật nằm trong “thất tình lục dục” của người. “Con” ngầm chỉ sự chủ đạo của tính ác, cái ác vẫn luôn còn trong loài người. “Người” là đại thể của “thiện” trong bản chất. Cái thiện chỉ đạo mọi hành động thiện, ý nghĩ thiện của loài người. “Người” có mọi đức tính cao quý, trí tuệ anh minh, hành xử nhân hậu đưa loài người đến vị thế độc tôn, độc trị đối với muôn loài sinh vật trên trái đất...
Thiện và ác đối lập mà xen kẽ, tách biệt mà giao hòa như Thuyết Âm Dương: trong Âm có Dương và trong Dương có Âm để luôn giữ thế cân bằng cho sự phát triển. Thực tế, loài người luôn bất bình và phản đối các biểu hiện của cái Ác, đồng thời luôn cổ vũ, hoan nghênh, ngưỡng vọng những điều Thiện. Thiện luôn là tính nhân bản trước tiên, cần phát triển, cần cổ suý. Cái “thiện” có trước cái “ác” có sau.
3. Hiệu ứng của cái thiện và cái ác
Nhận thức về cái thiện, cái ác nói chung không khó. Thiện và ác luôn có hậu quả để lại. Nó hiện hữu và có thể có hiệu ứng tức thì trong khoảng thời gian ngắn hay hiệu ứng của nó diễn ra chậm chạm, âm ỉ mãi về sau rất nhiều. Người dân thường gọi “quả báo” hay được “hưởng âm phúc của ông bà” là những hiệu ứng thiện ác, biểu hiện cả quan điểm tâm linh, cả quan điểm xã hội. Hiệu ứng thiện, ác đã từ lâu được Đạo Phật đề cập và xác nhận. Hiệu ứng thiện, ác đã trở thành một phần của giáo lý dăn dạy các đệ tử, tín đồ của Đạo Phật.
“... Sau khi Mục Kiều Liên trở về thuật lại cảnh khổ của mẹ, ngài đã cầu Phật dùng phương tiện để giải cứu. Phật dạy:
- Mẹ ngươi nghiệp ác quá nặng, sức ngươi không thể cứu được. Ngươi phải làm lễ Vu Lan thiết đãi chư tăng:
Sơn lâm thiền định
Thọ hạ kinh hành
Lục thông La Hán...6
Mục đích của việc này là để giải hiệu ứng nghiệp ác mà mẹ Mục Kiều Liên đã tạo ở cõi Trần hay là:
“... trong Kinh Phật có dạy: Nếu nói tạo nghiệp thiện sẽ được phúc báo lành, tạo nghiệp ác bị quả báo khổ, thì Phật chấp nhận... tại sao nói làm ác chịu quả báo ác, làm thiện được hưởng quả báo thiện, thì Phật chấp nhận. Nói tạo nghiệp ác sau khi chết đọa địa ngục; làm lành sau khi chết sinh về cõi Trời thì Phật không chấp nhận. Phật có nói “Cận tử nghiệp và tích luỹ nghiệp”. Tích luỹ nghiệp là nghiệp chứa nhiều kíp đến giờ. Cận tử nghiệp là nghiệp tạo ra lúc sắp chết”7. Đó là sự chân chuyển của hiệu ứng. Qua hai trích dẫn từ giải thích của Đức Phật ở trên cho thấy rằng Đạo Phật rất thông định về luật nhân quả với những hiệu ứng rạch ròi, chi tiết. Hiệu ứng thiện, ác không chỉ tức thời “... vừa làm ác là thọ quả báo ác liền, hoặc vừa làm thiện thì thọ báo lành liền”8 mà còn hậu báo mãi đời sau cho con cháu...!
Đó là cách biện giải của Đạo Phật. Quan điểm khoa học về hiệu ứng thiện ác cũng nhất quán như vậy. Song có điểm khác biệt thiện ác về cách lý giải thực tiễn mang tính luật pháp và mang tính tâm lý, ý niệm của con người.
Tính thực tiễn luật pháp nghĩa là kẻ gây những trọng tội, ngay lập tức sẽ bị xử án tù, thậm chí tử hình! Người làm việc thiện, hành động thiện dù đó là ai, già hay trẻ, trai hay gái đều được: biểu dương, khen thưởng, tôn vinh, phong tặng tức thì dù người đó còn sống hay đã chết.
Với ý niệm và tâm lý dân gian, hiệu ứng xảy ra sau cho dù kẻ làm ác đã chết vẫn bị người đời nhắc tới, con cháu họ còn mặc cảm, bị mang ấn tượng xấu của mọi người, của chính quyền. Sự lưu tâm về việc làm ác, việc làm thiện của đời trước có thể để tiếng đến nhiều đời sau. Đó là ý niệm của hiệu ứng.
Hiệu ứng tâm lý tức thời của việc làm ác sẽ là tâm thần bất an, lo sợ... Làm thiện thì lương tâm sẽ thanh tịnh, phấn chấn, vui khỏe, hạnh phúc.
Hiệu ứng thiện, ác là rõ ràng dễ thấy. Những hiệu ứng “nhãn tiền” về thiện, ác có vô vàn ví dụ thực tế trong cuộc sống thời nào cũng có, đời nào cũng có, nước nào cũng có và dân tộc nào cũng có.
Những hiệu ứng chậm của thiện, ác không chỉ mang sắc thái tâm linh mà ngay cả tính thực tiễn duy thực, duy thức của con người, của xã hội.
Hiệu ứng thiện, ác theo quan niệm tâm linh về luật nhân quả là rõ ràng như đã trình bày. Song thiện, ác còn mang hiệu ứng lây nhiễm, lan truyền. Một việc thiện, một hành động thiện khi được phát hiện, được cổ suý tôn vinh, được các phương tiện thông tin đại chúng tuyên truyền rộng tạo thành phong trào, noi gương làm theo, bắt chước nhau: “người người làm việc tiện, nhà nhà làm việc thiện”, phong trào “hiến máu nhân đạo” thu hút hàng vạn thanh niên, sinh viên trong các trường học, trong lực lượng vũ trang và trong dân chúng. Có gia đình, con cháu noi gương ông bà, cha mẹ cùng tham gia “hiến máu nhân đạo, hiến máu cứu người” nhiều lần và có “Hội những người thuộc nhóm máu hiếm” sẵn sàng tình nguyện hiến máu khi cần cho một bệnh nhân, một người bị tai nạn thuộc nhóm máu hiếm phải tiếp máu.
Hành động thiện, làm việc thiện của cá nhân tạo ra phong trào là một hiệu ứng tích cực, một hiệu ứng lan truyền, trong đời sống, trong xã hội.
Một hành vi ác, một mưu đồ ác, một cử chỉ ác, lời nói ác độc có khi có hiệu ứng lây nhiễm nếu bản thân không tự kiềm chế, không có nghị lực trước nhiều cám dỗ.
Các biểu hiện ác bị lây nhiễm có khi chỉ là từ vô thức đến có ý thức, từ đua đòi đến tự nguyện. Thậm trí nhà khoa học, bác sỹ đã cố tình phạm “việc làm ác” khi thấy người này thí nghiệm này, người kia thực hiện thí nghiệm kia, hầu hết những thí nghiệm độc ác xuất phát từ sự ganh đua điên rồ bởi các hoang tưởng phát minh của mình!
Một số bác sĩ Mỹ đã sử dụng tù nhân, gái mại dâm để cho nhiễm si đa. Năm 1951, CIA từng trộn thuốc gây ảo giác vào bột làm bánh mỳ cho một số người ăn để thí nghiệm. Thí nghiệm giả định người tù và cai ngục để tạo ra kẻ tâm thần luôn hoảng sợ và kẻ có hành động độc ác, nhằm xem xét quá trình biến đổi tâm lý diễn biến trong não bộ ở hai con người từ bình thường đến kẻ bạo tàn, đến người luôn sợ hãi. Năm 1952 có những thí nghiệm về vũ khí sinh học đối với con người. Kinh hoàng hơn năm 1920 có nhà khoa học còn dùng cả trẻ 9 tháng tuổi để thí nghiệm về sự nhận thức nỗi sợ hãi, diễn ra trong não trẻ như thế nào. (Những ví dụ vừa nêu trên lấy từ buổi phát thanh của đài Hà Nội phát hồi 16g15 ngày 29/9/2011 mà tôi tình cờ nghe được khi đang viết bài này vào đúng phần này!).
Hiệu ứng ác lây nhiễm từ các game-on-line mang tính bạo lực; từ buôn bán ma tuý, từ cách giết người trong phim ảnh, từ cách đầu độc trong truyện, tiểu thuyết bày vẽ cho!
“Ác ngôn” là thứ có hiệu ứng lây nhiễm rất vô tình, vô tư ít khi để ý: mẹ chửi rủa con, con chửi rủa cháu... Họ coi những điều chửi rủa là vô hại, là chẳng sao. Khi nóng giận, họ sẵn sàng rủa “mày đâm đầu vào xe mà chết đi” hay “hãy ra sông mà chết cho rảnh mắt tao, cho tiệt nòi tiệt giống vô tình bạc nghĩa nhà mày” v.v...
Theo quan điểm của khoa học tâm linh “ác ngôn” như vừa nói trên có hiệu ứng tâm linh nặng nề. Thật sự vô cùng tai hại, khi các câu chửi rủa như vậy đã tác động đến tâm lý. Và đôi khi còn dẫn đến việc tự vẫn của trẻ vì một câu nói trách móc chỉ vì con thi không đỗ; không được học sinh giỏi; thua bạn thua bè!
“Ngoa ngôn”, “ác ngôn” không kém gì các “việc làm ác”, “hành vi ác” nhưng lại thường ít được lưu tâm, ít được xem xét tính nghiêm trọng của nó!
Hiệu ứng của thiện và ác là đa dạng trong cuộc sống, trong gia đình, trong một cộng đồng và trong xã hội, đất nước.
4. Tính chất của thiện, ác.
Xem xét về tính chất của thiện, ác để hiểu thêm về nguồn gốc thiện ác và cách nhìn nó dưới góc độ tâm linh.
Thiện ác có 6 tính đặc trưng:
- Tính nguyên có.
- Tính phổ biến.
- Tính đa dạng.
- Tính lan truyền.
- Tính tự phát.
- Tính chịu giáo dục.
* Tính nguyên có
Loài người có 6 dục vọng, đặc trưng, tiêu biểu mang tính phạm trù. Nó gồm 3 dục bản năng là: ăn uống, ngủ nghỉ và tình dục và 3 dục thuộc bản ngã là ham vui chơi; tham của cải; háo danh vị, quyền thế. Đi sâu vào từng dục vọng dù là dục vọng thuộc phạm trù bản năng hay thuộc phạm trù bản ngã của loài người khi được xem xét dưới góc độ thực tế hay tâm linh đều cho thấy đó là nguồn gốc của Thiện, Ác. Bất cứ người nào cũng có một số lớn các dục cơ bản trong 6 dục cơ bản nêu trên. Chính các dục ấy tạo nên các biểu hiện thiện và các biểu hiện ác ở mỗi con người.
Như vậy thiện, ác là tính nguyên có của loài người. Ác có trong “con”; thiện có trong “người” (đã đề cập ở phần hai).
* Tính phổ biến
Tính phổ biến chính là thiện và ác đều có ở mọi người thuộc mọi lứa tuổi, mọi giai tầng, mọi dân tộc, mọi đất nước. Tuy nhiên, những biểu hiện ở mỗi người, mỗi lứa tuổi... là khác nhau: “thiện nhiều thì ác ít và ác nhiều thì thiện ít”, “trẻ em tính bổn (bản) thiện”. Con người ta khi tuổi càng lớn càng có thêm biểu hiện của ác và thiện. Khi con người về già tính thiện lại tăng nhiều, tính ác triệt kiết dần. Đó hầu như là một quy luật tự nhiên vậy.
* Tính đa dạng
Trong phần biểu hiện của thiện, ác đã có rất nhiều ví dụ minh chứng. Từ những ví dụ đó đã nói lên tính đa dạng của thiện, ác. Thiện, ác thể hiện từng hành động, việc làm, hành vi, ý nghĩ, ý định, lời nói vân vân.
Tính đa dạng của thiện, ác là một thực tế trong bất kỳ một xã hội nào, một đất nước nào.
* Tính lan truyền
Thiện, ác có tính chất lan truyền, lây nhiễm; lan truyền thì thường thiên về thiện; lây nhiễm thì thường thiên về ác.
Lan truyền tính thiện không chỉ trong phạm vi gia đình mà còn thành một phong trào rộng lớn trong phạm vi cả nước v.v...
Ác lây nhiễm từ người này sang người khác (ngoa ngôn, ác ngôn) từ kẻ này sang kẻ khác (hành động ác, việc làm ác, hành vi ác...).
Tuy cái ác có lây nhiễm, song không bao giờ cái ác thành phong trào. Nó luôn bị lên án, bị pháp luật kìm chế, răn đe, ngăn cấm và chính con người cũng tự răn mình và luôn được dạy bảo, giáo dục tránh xa.
Tính lan truyền, lây nhiễm không phải là phổ biến, thường xuyên.
* Tính tự phát của thiện, ác
Khởi đầu của mọi biểu hiện thiện, ác đều là tự phát, bột phát trong con người.
Biểu hiện thiện do tự phát hay bột phát đầu tiên của một cá nhân hay một nhóm người có thể trở thành một phong trào tự giác làm, tự giác tham gia.
Biểu hiện ác cũng là tự phát của một cá nhân nào đó và có thể lây nhiễm đến người khác hay đến một nhóm.
* Tính chịu giáo dục
Tuy nhiên thiện, ác biểu hiện ở nhiều dạng thức do nhiều nguyên nhân vẫn bị ảnh hưởng của sự giáo dục. Nói cách khác mọi hình thức, mọi phương thức giáo dục có thể làm tăng thêm tính thiện và cải hóa cái ác. Các hình thức giáo dục có tác động rất lớn có hiệu quả và là công cụ làm cái thiện phát huy, phải từ bỏ cái ác; làm kẻ ác có thể hoàn lương.
5. Nhận thức về thiện, ác dưới các góc nhìn khác nhau
- Nhận thức qua góc nhìn tâm linh
Nhiều đền, phủ tín ngưỡng có đắp hình hoặc có tượng về hai ông: ông Thiện và ông Ác đặt hai bên cửa nơi thờ cúng.
Về khía cạnh tâm linh, ông Thiện và ông Ác ở đây mang ý nghĩa hiểu dụ và nhân bản, hoàn toàn khác quan niệm của con người về cái thiện và cái ác xảy ra hàng ngày trong đời sống xã hội.
Ông Thiện là rất thiện, đại diện cho mọi cái thiện của loài người, mặt khác, ông cũng là đại diện cho mảng hành thiện trong cuộc sống con người trong xã hội, đất nước. Ông Thiện ngâm khuyến con người nhận thức cái thiện và hành thiện.
Ông Ác không phải là biểu tượng của kẻ ác. Ông Ác lại chính là con người thiện, đại diện cho cái thiện để trừng trị cái ác, dăn đe cái ác, ngăn cặn cái ác. Đó là hình ảnh “Bao Công” ở đời thường.
Hình thức tâm linh được lộ tả qua hình hài, dáng điệu nét mặt dữ dằn để hình tượng hóa cái nghiêm mà không ác. Tính dăn đe hàm chứa trong hình tượng ông Ác ngầm giúp mọi người hướng thiện mỗi khi ai đó nhìn ông. Cái tâm linh thấm vào lòng người vào tâm khảm đầy sức giáo dục: đừng làm điều xấu, ông Ác sẽ coi chừng!
Ai đã từng nhìn ông Ác cũng tự ngẫm suy, dè dặt trong hành xử của bản thân.
Ông Ác trong đời thường như cán bộ công an, bộ đội. Thấy họ là thấy cần phải hướng thiện. Ý nghĩa tâm linh là vậy.
Quan niệm tôn giáo, bất cứ một ai trong đời đều đã có một lần phạm ác. Đạo Phật coi mọi sinh linh ở cõi Trần cần được sống, được bảo vệ. Không nên sát hại từ con kiến đến con người! Mọi động thái, hành vi lạm sát hay làm phương hại đến đời sống của các sinh linh đều được xem như đã “phạm ác”. Với quan niệm tâm linh khái niệm ác còn mở rộng đến những hành vi nhỏ nhặt nhất. Họ xem việc làm cho một người phải khóc, hay phải buồn khổ hoặc giả nói ra những lời bạc bẽo với người thân, với người hàng xóm láng giềng cũng đã phạm ác! “Kinh Phật dạy: Chúng sinh làm chủ tạo nghiệp (chữ Phan là Karma - động tác dấy khởi thiện, ác...) và thừa kế các cách nghiệp mà mình đã tạo...”9
Cũng theo góc độ tâm linh, người tự tạo nghiệp, là từ các dục vọng sui khiến: tham của có thể giết người cướp của, trộm cắp; tham danh có thể bất chấp luân thường; tham quyền dùng mưu mô độc địa hành động bạo tàn v.v...
“... Hãy nhìn đàn gà đang nô đùa, khi được ném cho nắm thóc liền xô xát ngay; bầy chó cùng mẹ âu yếm liếm láp cho nhau, nhưng chủ ném cho khúc xương là cắn nhau tức thì. Loài người thông minh hơn loài vật nhưng của cải, danh vọng, vật chất đã làm họ bất hòa...”10. Và cái ác nảy sinh từ đó.
- Nhận thức thiện, ác dưới cách nhìn nhân thế.
Nhân thế xem thiện, ác là tính của từng người. Có người suốt đời chỉ làm các việc thiện. Họ chăm chú làm sao tránh xa cái ác, làm nhiều điều thiện để được an lành, hạnh phúc.
Có người coi việc ác, làm việc ác là đương nhiên, ít bận tâm vì tính bạo tàn độc ác vốn có trong con người họ, ý nghĩ của họ. Quan niệm “nhân xát vật” là đương nhiên, Thánh đã nói vậy, nên họ dương cao búa đập vào đầu con trâu cho quỵ chết, chọc tiết một con lợn, con chó là bình thường, thậm chí dùng dao phay chặt người thành nhiều khúc bỏ vào bao tải không ghê tay! v.v...
Nhân thế cho rằng là con người đương nhiên có người tính hiền lành, có người tính cục cằn thô bạo, có người tính tình ác độc, có người keo kiệt, có người dễ dãi... Mỗi người mỗi tính là “Trời” sinh ra vậy. Nhận thức thiện, ác theo “quan niệm nhân thế” đơn giản là như thế từ biểu hiện đến nguyên nhân, hết thảy đổ tại “Ông Trời”; Trời sinh ra, Trời sui khiến, Trời bắt tội, Trời cho vân vân và vân vân.
- Nhận thức thiện, ác dưới cái nhìn mang tính khoa học.
Dưới góc độ khoa học, mọi hành động hành vi thiện, ác là xuất phát từ tâm lý và sự biến thái của tâm lý. Tâm lý là của con người trong con người. Với tâm lý cân bằng ổn định, con người sẽ thiện (thiện tâm) sẽ luôn nghĩ làm việc thiện, điều thiện, ít khi có ý nghĩ về cái ác.
Tâm lý biến thái sẽ coi việc làm ác là bình thường, là tất yếu, thậm trí còn thích thú khi làm các điều ác độc! Người biến thái tâm sinh lý không nghĩ đến thiện; nguy hại hơn, nó còn lôi kéo cả một cộng đồng một đất nước làm ác, tạo ra một chế độ tàn bạo khát máu! Đặc trưng thể hiện rõ ở thời chiếm hữu nô lệ tạo ra cảnh “buôn bán nô lệ”, “săn đầu người” vô cùng ác độc suốt những thế kỷ 14-15, phân ra người chủ, kẻ nô với bao tội ác.
Thảm thượng hơn, cuối nửa đầu thế kỷ 20, Hitller và bọn Quốc xã đã tạo ra chủ nghĩa phát xít bạo tàn, phân ra đẳng cấp giống người. Giống người thuộc loại “thượng đẳng” có quyền thống trị và lập lại trật tự thế giới! Giống người “hạ đẳng” là “loài ong thợ” ngu dốt phải bị trị và chịu sự sắp đặt.
Nhận thức thiện, ác dù dưới góc độ tâm linh, nhân thế hay khoa học đều phản ánh cái căn gốc của từ “con” và “người” mà loài người ở cõi Trần mặc nhiên đã chấp nhận “Con” biểu lộ tính ác. “Người” biểu lộ tính thiện. Con đặt trước là hình tượng của bản năng đặc trưng của mọi sinh linh. “Người” là hình tượng của bản ngã có phân hóa kẻ có, người không cái này cái kia, tạo ra thiện, ác ở cấp độ cao hơn, đa dạng, đa cách, đa hành vi v.v...
Thiện, ác là cặp phạm trù cả về ngữ nghĩa từ vựng, cả về biểu hiện thực tế thực tại.
Thiện nhiều hơn ác. Thiện thắng thì ác lui, nhưng sự tồn sinh thiện, ác dường như là một quy luật sinh tồn ở cõi Trần vậy./.
________________________________________
1 Viện ngôn ngữ: từ điển Anh Việt, NXB TP.HCM 1994, trang 710-544
2 Hoàng Phè: từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, 2009, tr766
3 Hoàng Phê: TĐ Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng 2009, tr 766
4 Thích Thông Lạc: Hành Thập Thiện và tứ vô Lượng tâm; NXB tôn giáo 2005, tr 68
5 Thích Thông Lạc: Hành Thập Thiện và tứ vô Lượng tâm; NXB tôn giáo 2005, tr 71
6 Thích Thanh Từ: Tu là chuyển nghiệp, Thành hội Phật giáo VN 1993, tr155
7 Thích Thanh Từ: Tu là chuyển nghiệp, Thành hội Phật giáo VN 1993, tr33
8 Thích Thanh Từ: Tu là chuyển nghiệp, Thành hội Phật giáo VN 1993, tr33
9 Thích Thanh Từ: Tu là chuyển nghiệp, Thành hội Phật giáo VN 1993, tr21
10 Spalding - Đinh Lai Thuý: Hành trình về Phương Đông, NXB thế giới 2009, tr.161.
Monday, January 2, 2012
NHỮNG CĂN BỆNH LẠ LÙNG VÀ CÁCH CHỮA ĐẶC BIỆT
PGS. TS Nguyễn Thị Ngọc Quyên - CVCC Nguyễn Quang Thịnh- Nguyễn Thị Lượng - Nguyễn Thị Minh Huyền - Lưu Thị Kim Chi - Vũ Kim Anh
Năm 2005 Trung tâm đã có sự khảo sát bước đầu về những người có khả năng đặc biệt. Chị Nguyễn Thị Nghi là một trong những nhà ngoại cảm được khảo sát lần đó. Chị trở thành cộng tác viên của Trung tâm NCTNCN. Năm 2010 Trung tâm đi sâu nghiên cứu về khả năng chữa bệnh của chị Nghi và bước đầu lý giải nguyên nhân. Bài viết dưới đây nhằm giới thiệu một phần kết quả nghiên cứu đó. Chị Nguyễn Thị Nghi hiện là cán bộ triển khai ứng dụng của Trung tâm NCTNCN
1. Đôi điều giới thiệu về chị Nguyễn Thị Nghi
Chị xuất thân là cô giáo nuôi dạy trẻ, ở thôn Phương Quất, xà Lạc Long, huyện Kinh Môn Hải Dương.
Năm 1986 chị bị một trận ốm nặng, bệnh viện đã trả về. Chị không ăn được gì ngoài ít nước cháo. Đến tháng thứ tư bị nôn, chỉ còn uống được nước dừa, nước trà và nước gừng. Người gày yếu không tự ngồi dạy được, phải có người đỡ. Đến tháng thứ 5 đang nằm ở giường, như có sức mạnh vô hình tiếp vào người, chị bật dậy và nhảy lên xà nhà trên đầu giường, cao chừng 2m và ngồi trên đó. Chị nói với hai người em đang có mặt ở nhà mời bố mẹ sang. Chị yêu cầu bố mẹ tìm một thầy cao tay nhất vùng lập bàn thờ để chị cúng Trời Phật, nếu không chị sẽ chết. Bố mẹ chị lo sợ, đồng ý ngay vì nét mặt chị khác lạ, không giống ngày thường. Sau khi bố mẹ hứa sẽ mời thày lập bàn thờ, chị lại tự mình nhẩy xuống nền nhà, không hề xây sát gì và tiếp tục nằm liệt giường.
Sau khi lập bàn thờ chị cảm thấy rất dễ chịu và bình phục như không còn bệnh gì. Hàng ngày chị tụng kinh niệm Phật vào buổi tối. Sau hai mươi ngày chị nằm mơ thấy một cụ già râu tóc bạc trắng đến bảo chị đọc ”Thiên thần tạo hóa, Bạch thổ thiên tai”, và dạy chị học chữ Thiên (chữ viết sớ ngày nay), học chữa bệnh, cho chị chiếc đĩa và hai đồng xu. Cứ đến 12 giờ đêm là chị bị đánh thức dậy để học. Lúc đầu chị tưởng mình nằm mơ nên không dậy thì bị như ai đánh, véo không chịu nổi, phải dậy. Sau vài phút tĩnh tâm chị thấy các chữ lạ hiện trên tường nhà, bên dưới là chữ quốc ngữ. Chị học như thế từ 12 giờ đến 2-3 giờ sáng và học trong thời gian 3 tháng 10 ngày. Chị chỉ ăn ba muỗng cơm với nước trắng, muối hột và 5 trái ớt. Bên tai chị có lời dạy “ Ăn thế mới biết thương người nghèo. Phải giúp đời, nếu không sẽ bị thui chết”. Sau đó chị biết chữa bệnh. Ban đầu chị chỉ chữa cho người thân trong gia đình, trong làng. Tiếng lành đồn xa, nhiều người tìm đến chị. Trong gần 30 năm qua chị đã cứu được nhiều người và làm được rất nhiều việc có ích cho dân cho nước.
Chị Nghi là một nhà ngoại cảm hội tụ nhiều khả năng đặc biệt. Trung tâm Nghiên cứu tiềm năng của con người đã có đợt khảo sát về những khả năng đặc biệt của chị. Trong hơn một năm khảo sát theo dõi, nhóm thực hiện đề tài đã chứng kiến những khả năng trong các lĩnh vực sau của chị Nghi:
Chẩn đoán bệnh, chữa bệnh,
Tìm mộ, tìm xương thất lạc,
Phong thủy,
Đặt bàn thờ, hướng dẫn thờ cúng, soi mộ, hướng dần bốc mộ…
Dự báo một số vấn đề liên quan đến tập thể, gia đình, dòng họ, cá nhân,
Tiếp xúc với các vong linh, mời vong linh về để chụp ảnh cho con cháu có ảnh thờ,
Hóa giải,…
Khác với nhiều nhà ngoại cảm khác, chị Nghi có khả năng dự báo nhưng đồng thời cũng có khả năng hóa giải nhiều sự việc. Đó là một điều hết sức quý, do vậy mọi người đến với chị rất đông.
Chị đã chữa cho hàng vạn người, trong đó có nhiều ca bệnh đặc biệt như huyền thoại.
Chị đã tìm được hàng ngàn mộ liệt sĩ, giúp cho việc hàn gắn những vết thương chiến tranh, đền ơn đáp nghĩa những người đã hy sinh cho Tổ quốc. Chị đã giúp tìm được rất nhiều ngôi mộ tổ của các dòng họ, trong đó có những ngôi mộ hàng vài trăm năm, mang lại sự bình yên, hạnh phúc cho nhiều dòng tộc.
Chị đã giúp xây dựng, tôn tạo nhiều đình, chùa, miếu mạo, tôn tạo lại những di tích lịch sử linh thiêng, tìm lại những giá trị lịch sử, văn hóa đã bị thời gian và con người tàn phá. Gần đây nhất chị đã giúp khảo sát, xây dựng lại đền thờ Ngài Lý Nhật Quang, con trai Lý Thái Tổ. Trong quá trình khảo sát, khởi công, xây dựng đã có những hiện tượng tâm linh kỳ bí mà nhóm thực hiên đề tài được chứng kiến. Chị đã được Bộ Văn hóa tặng Bằng khen về thành tích xây dựng tôn tạo các công trình văn hóa lịch sử. Chị được Bộ Lao động Thương binh và Xã hội tặng Bằng khen vì tìm được nhiều mộ liệt sĩ. Chị được Chính phủ tặng Bằng khen vì công lao đóng góp cho xã hội và cộng đồng.
Chị đã dự báo được nhiều việc quan trọng, liên quan đến an ninh, sự sống của nhiều người. Gần đây nhất khi xây dựng ngôi nhà cao tầng, trường Đại học Kiến trúc Hà Nội đã nhờ chị khảo sát. Chị đã phát hiện có chất nổ trong lòng đất. Nhà trường đã phối hợp với các cơ quan chức năng đưa được quả đạn ra khỏi khu vực dự kiến xây dựng. Chị đã giúp được nhiều cơ quan, trường học giải quyết những khó khăn do liên quan đến tâm linh.
Phương châm sống của chị là cứu người. Qua các việc làm, không phải chị chỉ cứu phần “xác” mà đã mang đến cho họ những giá trị tinh thần, đạo đức, nhân văn mà lâu nay lãng quên. Cội nguồn là rất quan trọng với mỗi người, mỗi gia đình, mỗi dòng tộc và mỗi dân tộc. Việc liên kết được thông tin với người thân đã mất giúp con người sống có đạo lý, biết ơn tổ tiên. Tổ tiên luôn ở bên cạnh, phù hộ độ trì cho con cháu, song cũng phạt con cháu nếu làm điều sai trái hại nhà, hại dân. Hiểu biết về tâm linh giúp mọi người sống tốt hơn, chị Nghi đã giúp những người đến với chị điều đó.
Mỗi nhà ngoại cảm đều có một người thày chỉ dẫn hoặc có các vong linh độ cho làm việc giúp đời. Chị Nghi ghi nhận không có một Đấng cụ thể nào độ cho chị làm việc. Thày của chị là Vô hình, chị hay gọi là Trên hoặc Trời. Khi được dậy học chữ Thiên và chữa bệnh, chị được mách bảo đi tìm một chiếc đĩa và hai đồng xu. Chị kiếm được chiếc đĩa cũ sứt một góc và hai đồng xu. Từ đó chị giữ dìn rất cẩn thận những báu vật này. Chỉ khi nào cẩn hỏi và giải quyết những việc quan trọng chị mới dùng chiếc đĩa ban đầu được ban tặng đó.
Trong điện thờ của chị có bàn thờ Bác Hồ, Đức vua Cha Ngọc Hoàng Thượng Đế, Đức Thánh Trần Liễu, Trần Hưng Đạo. Bên cạnh ở phía trong có bàn thờ Sơn trang và bàn thờ Phật ở phòng ngoài.
Mỗi sáng chị sửa lễ thắp hương các ban thờ rất thành kính và cẩn thận rồi mới làm việc
Khi làm việc chi gieo liên tục hai đồng xu xuống đĩa. Theo chị đây không phải là gieo quẻ xin âm dương mà khi gieo hai đồng xu xuống đĩa chị nhận được thông tin từ Trên: Có tiếng nói bên tai chị và hình ảnh hiện rõ trên đĩa như màn hình TV. Chị hỏi và tiếp nhận những câu trả lời rồi nói lại cho mọi người biết như người phiên dịch. Khi cần truyền đạt các thông điệp cho “Thế giới bên kia”, chị cũng gieo hai đồng xu. Chị như cầu nối giữa âm và dương, giữa những người đang sống và những người thân đã mất của họ. Có lúc các vong linh nhập vào chị, cho chị biết các thông tin. Nếu trước khi mất họ bị bệnh gì thì chị sẽ bị hành như thế. Thí dụ chị bị đau, bụng to lên căng cứng khi gặp những vong khi còn sống bị sơ gan cổ trướng hoặc có thai mà bị chết. Vong báo bị mất xương thì chị cảm nhận đau ở những xương tương ứng trên người chị.
Có lúc chị nhận thông tin không cần gieo đồng xu mà như có người mách bảo ngầm, không phải sang tai mà tự chị nói ra và chiêm nghiệm lại rất đúng.
2. Khả năng chữa bệnh của chị Nguyễn Thị Nghi
Để có thể bước đầu lý giải về khả năng đặc biệt của chị Nguyền Thị Nghi, nhất là lý giải việc giữ được khả năng lâu dài (đã trên 25 năm) của chị, nhóm cán bộ khoa học đã phối hợp với một số chuyên gia trong lĩnh vực đo đạc năng lượng đến khảo sát trực tiếp về phong thủy, môi trường sống của chị. Kết quả cho thấy nơi chị sống và làm việc có năng lượng rất cao. Đặc biệt trong điện thờ chỉ số năng lượng đạt đến độ linh thiêng. Tại trước ban thờ Phật, các nhà khoa học đã xác định được một điểm tụ khí, năng lượng rất mạnh. Chị Nghi cho biết chị hay ngồi ở đấy để chứng thuốc cho mọi người. Nhiều người đến vô tình ngồi đúng chỗ đó thì không chịu nổi, bị đau đầu, nôn…Nhóm khảo sát đã kiểm nghiệm thì thấy chỉ có một số người có đủ năng lượng mới ngồi được ở đấy. Chuyên gia từng tìm hiểu về khả năng của chị đã đo năng lượng của chị 3 năm trước và thực hiện đo lần này cho biết so với 3 năm trước, năng lượng của chị Nghi tuy vẫn cao song cũng bị giảm và có một vấn đề về phong thủy cần kiểm chứng lại. Điều này cũng cần chú ý để giúp nhà ngoại cảm điều chỉnh chế độ làm việc nhằm duy trì được năng lượng, giúp ích được lâu dài cho cộng đồng.
Kết quả đo đạc từ xa của một nhà khoa học khác cũng cho kết quả tương tự về năng lượng của chị. Ngoài ra ông cũng cho biết khả năng tâm linh của chị Nghi rất cao và có khả năng tìm mộ tốt.
Nhóm thực hiện đề tài cũng đã phối hợp với các nhà nghiên cứu Tử vi giải lá số tử vi của chị Nghi. Theo lá số, chị là người rất vất vả, sinh ra gặp nhiều gian truân, bão tố. Là người có tâm thiện, đức độ cao, có khả năng tâm linh, có trách nhiệm và hết lòng với công việc. Chị là người thông minh, có uy quyền, ngay thẳng, biết nhường nhịn, bao giờ cũng nhận phần thua thiệt về mình, liêm khiết, không màng danh lợi. Anh em đông nhưng không được nhờ vả, có lộc nhưng không được hưởng. Rất vất vả về đường hạnh phúc gia đình. Con cái tốt, thông minh, học giỏi, sống xa nhà. Chị bị trận ốm rất nặng trong đại vận từ 22 đến 31 tuổi nhưng được “song long” cứu giải (khỏi bệnh nhờ nước hoặc thuốc nước). Chị làm công việc giúp đời từ 30 tuổi, có người âm phù hộ. Hiện đang trong giai đoạn làm việc về tâm linh tốt. Năm Canh Dần, 55 tuổi có đại tang.
So sánh với những gì đã xẩy ra, nhóm thực hiện đề tài thấy chính xác gần như tuyệt đối. Chị như đã có số phận sinh ra để làm việc về tâm linh giúp đời và chị cũng có đủ khả năng, tư cách, phẩm chất để giúp ích cho cộng đồng, xã hội.
Không ít nhà ngoại cảm có khả năng rất tốt, song nhiều khi đã không giữ được lâu dài. Một trong những nguyên nhân làm thui chột khả năng là do chính bản thân nhà ngoại cảm đã không giữ được mình trước sức mạnh của đồng tiền và sự hào nhoáng của cái danh, quên đi trọng trách mà bề trên đã tin tưởng trao cho để giúp đời. Chị Nghi như một tấm gương sáng về chữ Tâm để mọi người noi theo, đặc biệt là những người làm việc về tâm linh. Phải chăng cũng vì luôn đặt chữ Tâm lên trên tất cả nên chị đã giữ được khả năng lâu và giúp đời được nhiều đến như vậy.
Là người có nhiều khả năng nên việc chữa bệnh chỉ là một trong các việc làm của chị. Thường chị nhận giúp các bệnh nhân vào ngày mồng một âm hàng tháng. Khi giải quyết các việc khác có liên quan đến bệnh tật chị cũng giúp cách hóa giải, giúp người khỏi bệnh một cách hiệu quả nhất.
Qua theo dõi những buổi chị Nghi soi và chữa bệnh, nhóm thực hiện đề tài đã thống kê các nhóm bệnh nhân mà chị Nghi đã chữa:
Những người bệnh nặng mà bệnh viện đã trả về
Những người bệnh không còn khả năng chữa tây y vì không có tiền hoặc chữa tây y lâu mà không khỏi.
Những người bệnh mà khi soi chị thấy có vấn đề liên quan đến phần âm của họ như mồ mả, bàn thờ,… đến môi trường sống như đứt thượng tầng long mạch…
Những bệnh do bị âm ám,
Những bệnh do bùa chài…
Những bệnh không thuộc những nhóm trên, chị yêu cầu đi chữa ở bệnh viện.
Các bệnh mà chị giúp bao gồm:
Tâm thần, điên, trầm cảm
Một số bệnh ung thư do ảnh hưởng về phần âm.
Chậm nói, câm ở trẻ em
Nghiện hút
Và nhiều ca bệnh khác.
Những người đến nhờ chị giúp phần lớn là người nghèo, trình độ văn hóa không cao. Nhưng cũng có rất nhiều người là kỹ sư, nhà giáo, nhà báo, nhà doanh nghiệp, công chức nhà nước, sinh viên. Hầu hết mọi người đều tin tưởng, có mối liên hệ chặt chẽ lâu dài với chị. Có gia đình từ ông bà, con cái, cháu chắt đều đến nhờ chị. Nhóm đề tài đã có lúc gặp gỡ gia đình có 3 thế hệ đến nhờ chị giúp.
Phương pháp chẩn đoán bệnh
Người bệnh hoặc người nhà bệnh nhân chỉ cần cho thông tin về tên, tuổi (âm lịch), chỗ ở của bệnh nhân là chị có thể soi bệnh bằng cách gieo hai đồng xu xuống đĩa và nói bệnh gì, nguyên nhân mắc và cách hóa giải. Do rất đông bệnh nhân, chị không thể tiếp được tất cả nên yêu cầu họ để lại thông tin bằng cách ghi giấy. Căn cứ trên những thông tin về tên, tuổi, nơi ở, ban đêm khi mọi người về hết chị soi cho từng người, tìm nguyên nhân và chỉ dẫn hóa giải cho họ. Chị ưu tiên chữa bệnh cho trẻ em, người tâm thần, người đang có vấn đề khẩn cấp cần cứu ngay. Gặp những trường hợp như vậy chị không kể ngày đêm, không kể đã làm việc liên tục đền 3 giờ chiều chưa được ăn mà nhận cứu giải luôn.
Điều đặc biệt nhất trong cách chẩn đoán bệnh của chị là tìm ra được những nguyên nhân gây bệnh. Nếu nguyên nhân là do phần âm tác động thì việc hóa giải sẽ đơn giản và dễ thành công. Những bệnh này theo dân gian thường được gọi là”bệnh âm”. Có rất nhiều nguyên nhân gây bệnh âm như mất mộ, bốc mộ thiếu xương, động mộ, tổ tiên gây nghiệp, âm ám, đứt thượng tầng long mạch, xâm phạm đình chùa miếu mạo, bị bùa chài…
Phương pháp chữa bệnh
- Dùng nước tinh khiết đã được chị chứng phép. Trong nhà chị có một bể nước, đề là nước thuốc, dùng phải tiết kiệm. Bệnh nhân hoặc người nhà bệnh nhân hứng nước vào các chai hoặc can, mang lên điện để chứng phép. Chứng xong phải đậy lại ngay. Khi chứng chị đọc các thông tin về tên tuổi bệnh nhân, căn bệnh và làm phép chứng bằng nhang và vỗ tay. Có thể giả thiết rằng khi chứng là chị đưa năng lượng vào. Có bệnh nhân đã kiểm chứng bằng cách nhờ nhà cảm xạ dùng con lắc đo và hỏi thì được trả lời là nước đó có khả năng chữa bệnh. Thực tế đã có nhiều người chỉ dùng nước mà khỏi bệnh (trong thư cảm ơn nhiều người đã khẳng định điều này).
- Dùng sớ. Sớ chị viết bằng chữ rất đặc biệt. Chị gọi là chữ Thiên. Trong sớ chị đã ghi hết các nội dung cần truyền đạt. Chị dặn chỉ cần đốt, không cần mời thầy cúng cho tốn tiền. Khi đốt sớ cần để mở lá sớ, đốt từ trên xuống. Khoa học chính thống không thể xác định bằng cách cân đo đong đếm tác dụng của lá sớ. Song nhiều người đã tin một cách tuyệt đối, đã yên tâm vì trình báo được những điều cần thiết với các Đấng tối cao, với Tổ tiên và công việc của họ hanh thông.
- Dùng bùa uống và bùa đeo. Nhóm thực hiện đề tài đã dẫn một bệnh nhân là nữ doanh nhân thành đạt ở Tp Hồ Chí Minh đến để chị Nghi chữa bệnh. Chị bị đau đầu, choáng váng, tức ngực, khó thở, người suy sụp, khám ở các bệnh viện đều không tìm ra nguyên nhân. Chi bay từ thành phố Hồ Chí Minh ra nhờ Trung tâm giới thiệu đến chị Nghi. Chị Nghi soi và kết luận chị bị bùa chài do một người cộng sự muốn làm hại chị để dành quyền lãnh đạo. Chị đã được uống nước thuốc, uống bùa. Rất nhiều độc tố được thải ra như khi bị hành kinh. Hết ngày thứ ba thì dừng và chị đã khỏi, sức khỏe đã bình phục. Chị cũng vị tha bỏ qua những việc làm sai trái của đồng sự. Sau ba tháng gặp lại chúng tôi nhận thấy chị đã bình phục hoàn toàn, tiếp tục sự nghiệp kinh doanh của mình.
- Dùng rượu đã chứng xoa bóp cho bệnh nhân.
- Hướng dẫn các thủ tục bồi hoàn long mạch. Thủ tục bồi hoàn long mạch của chị rất đơn giản và không tốn kém
- Hướng dẫn tìm mộ, tìm xương thất lạc, khắc phục động mộ để chữa những bệnh có nguyên nhân từ mồ mả người thân. Việc chữa bệnh bằng tìm xương thất lạc là một trong những điều đặc sắc nhất mà nhóm nghiên cứu cảm nhận được.
- Hướng dẫn và bốc bát nhang.
Nhóm cán bộ thực hiện đề tài đã đến khảo sát việc chữa bệnh của chị Nghi từ tháng 9 nam 2009, mỗi tháng một đến hai lần. Các anh chị đã tiếp xúc trực tiếp với các bệnh nhân hoặc người nhà bệnh nhân, đã phỏng vấn, xin các tài liệu về bệnh và đề nghị họ điền vào phiếu theo rõi kết quả chữa bệnh. Qua các tài liệu và kết quả phỏng vấn, nhóm nghiên cứu đã tổng hợp được và phân tích đưa ra các ý kiến sau:
Có mối quan hệ chặt chẽ giữa mồ mả của tổ tiên và những người thân đang sống. Mộ động ảnh hưởng trực tiếp đến con cháu, có khi đến hàng chục đời sau. Phải chăng khi mất đi hài cốt của các cụ sinh ra năng lượng truyền cho con cháu. Khi động mộ (vỡ tiểu, cây đâm rễ vào xương, kiến làm tổ trong mộ…), trường năng lượng bị ảnh hưởng do đó ảnh hưởng tới con cháu. Có nhiều trường hợp kiến vào làm tổ khiến người đang sống bị ngứa. Một gia đình ở Hải Dương có 5 con trai mắc bệnh ngứa không chữa khỏi, chị Nghi soi thấy có tổ kiến trong mộ ông nội của họ, cho thuốc diệt kiến. Kiến bị diệt, cả 5 người cùng khỏi ngứa.
Phương pháp tìm xương bị mất để chữa bệnh là rất đặc biệt. Không biết có ai khác làm được như chị Nghi: soi biết được xương nào thiếu, tìm ở đâu và lúc nào đi tìm. Anh Nguyễn Văn Mừng bị u não, đầu rất đau, đã mổ nội soi, được chỉ định mổ lần 2 để cắt bỏ khối u. Nhà không đủ tiền chữa, anh đến nhờ chị soi, chị cho biết khi cải táng mộ của người chú đã bị sót 3 mảnh xương, trong đó có mảnh xương sọ khiến anh bị u não. Chị hướng dẫn tìm được tất cả xương thiếu và anh không phải mổ nữa, chỉ uống nước thuốc và xoa bóp. Đến nay đã khỏi, chỉ còn mệt và đau đầu một chút.
Hầu hết các ca chữa bệnh đều dùng nước thuốc, tức là nước đã được chứng phép. Rất nhiều nhà ngoại cảm đã dùng phương pháp này để chữa bệnh. Nước cỏ thể là vật dẫn năng lượng tốt nhất? Nhà ngoại cảm PTP khi tác động lên người bệnh có đổ nước lên chỗ tác động sẽ có hiệu quả hơn, hoặc khi chữa bệnh cho cháu bé, chị ngâm cháu vào chậu nước rồi xoa bóp thì cháu chóng khỏi hơn. Một cháu bé 15 tuổi đi chữa răng, nha sĩ tuột tay đánh rơi kim chữa răng dài khoảng 5-6cm vào họng. Việc mổ - phương pháp duy nhất của tây y, sẽ rất khó thực hiện vì kim di động. Chị Nghi soi và nói không cần mổ mà chỉ cần uống nước thuốc, kim sẽ ra. Sau khi cháu uống được hai chai rưỡi nước, kim đã ra theo phân. Phải chăng nước mà cháu uống vào đã mang theo năng lượng của của Trên, điều khiển tài tình chiếc kim đi theo quãng đường cong phức tạp trong ruột để ra ngoài?
Rất nhiều trẻ em chậm nói được cha mẹ đưa đến chữa, nhiều cháu đã nói được. Nhóm thực hiện đề tài đã chứng kiến trong một buổi chữa bênh có đến 7-8 cháu bị câm, chậm nói đến chữa. Có cháu biết nói sau một lần chữa, có cháu phải lâu hơn, có cháu không khỏi do gia đình thiếu kiên trì. Chị thường dùng tay xoa cho các cháu vào họng, dùng tay không hoặc một ít rượu thuốc. Bàn tay của chị chắc chắn có năng lượng cao. Nhóm thực hiện đề tài đã mời kỹ sư Bùi Gia Long đo năng lượng lúc chị Nghi làm việc. Khi chị viết sớ hay gieo đồng xu năng lượng rất cao và như có một đấng vô hình nhập vào chị: máy quay về phía chị rất nhanh và khi chị viết thì đầu máy chạy theo hướng tay chị. Chị dừng viết thì máy quay lên bàn thờ Thánh phía trong. Khi chị gieo đồng xu máy chỉ ngay vào chị. Như vậy khi chị làm việc thì như có một trường năng lượng được sinh ra, tác động lên máy và người quan sát có thể “nhìn được” qua sự chuyển động của máy. Máy này phòng trắc nghiệm đã dùng khi khảo sát các nhà ngoại cảm khi vong nhập, khi chữa bệnh. Phòng cũng đã thử dùng để khảo sát độ linh của ban thờ. Với chiếc máy này, KS Bùi Gia Long đã tìm được nguồn nước, tìm được đá quý và đã ứng dụng thành công trong việc tìm mộ.
Rất nhiều bệnh nhân tâm thần đã được chữa khỏi. Phân tích số liệu trong các Bảng thống kê, nhóm thực hiện đề tài nhận thấy nguyên nhân gây bệnh rất đa dạng, có khi nhiều nguyên nhân cùng tác động và phải giải quyết một cách tổng thể. Hầu như các trường hợp tâm thần mà nhóm làm đề tài thu thập được là do bị âm ám. Thời gian chữa khỏi tùy từng trường hợp, có khi rất nhanh, có khi kéo dài 5-7 năm.
Bùa chài đóng vai trò không nhỏ trong việc gây bệnh và chữa bệnh. Khi bị bùa chài thì có thể bị tâm thần, bị sa sút sức khỏe, giảm cân, đau đầu tức ngực, choáng váng mệt mỏi. Khi đã bị bùa chài thì phải dùng bùa để hóa giải. Bùa chị Nghi làm mang một năng lượng siêu hình có tác dụng hóa giải rất lớn.
Với thời gian ngắn, kinh phí khiêm tốn, không đủ cho đi lại, cả nhóm đã cố gắng thu được một số kết quả. Cả nhóm làm việc với tấm lòng tri ân chị Nguyễn Thị Nghi, người đã quên bản thân nhiệt tình, xả thân cứu người và có một tình yêu vô bờ bến với mọi người.
Nhóm thực hiện đề tài xin chân thành cảm ơn Trung tâm Nghiên cứu tiềm năng của con người đã tạo điều kiện cho nhóm được tiếp cận với một đề tài rất hay và tiếp cận gần gũi với nhà ngoại cảm Nguyễn Thị Nghi. Trong quá trình làm việc nhóm nghiên cứu đã nhận được sự giúp đỡ chân thành từ chị. Xin chân thành cảm ơn chị.
Nhóm nghiên cứu đã nhận được sự giúp đỡ chân thành vô tư của các nhà nghiên cứu Bùi Gia Long, Nguyễn Việt Triều, TS Đặng Văn Phú, chị Phương Nga. Xin chân thành cảm ơn các anh chị.
Nhóm nghiên cứu
Saturday, December 24, 2011
THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG CHỮA BỆNH CỦA NHỮNG NGƯỜI CÓ KHẢ NĂNG ĐẶC BIỆT TRONG QUÁ KHỨ & HIỆN TẠI, Ở TRONG NƯỚC & NƯỚC NGOÀI
Bác sĩ Nguyễn Thế Dân
MỞ ĐẦU
Sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội và không phải chỉ bao gồm có tình trạng không có bệnh hay thương tật (theo Tổ chức Y tế thế giới).
Mong muốn có một sức khỏe tốt nhất là một nhu cầu tự nhiên và là một trong những quyền cơ bản của con người dù thuộc bất kỳ chủng tộc, tôn giáo, thể chế chính trị hay điều kiện kinh tế - xã hội nào.
Y học là khoa học và nghệ thuật chữa bệnh, bao gồm nhiều phương pháp chăm sóc sức khỏe nhằm duy trì, phục hồi cơ thể bằng cách nâng cao sức khỏe, phòng bệnh và chữa bệnh, phục hồi chức năng. Có lẽ ngay từ khi xuất hiện loài người thì y học đã có sự đồng hành bởi nó đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho con người. Tổ tiên chúng ta trong quá trình lao động, sản xuất, đấu tranh với thiên nhiên, đã phải tự tìm thức ăn, thức uống để sống và duy trì sức khỏe.Trong quá trình đó con người đã tìm thấy những cây cỏ có chất độc, hoặc cây cỏ có tính giải độc, hoặc ăn vào thấy khoẻ, bệnh tật hoặc thương tật mau lành. Dần dần những kinh nghiệm đó được tích lũy và vận dụng vào việc nghiên cứu, thực hành chữa bệnh và tăng cường sức khỏe. Cũng từ đây xuất hiện một số người có khả năng tổng hợp và phân tích thành hệ thống lý luận, họ được coi là những thầy thuốc. Xã hội càng phát triển thì nhận thức của con người cũng được nâng cao và riêng với y học cũng theo đó mà phát triển cả về lý luận lẫn kinh nghiệm thực tế.
Theo truyền thuyết, Hoàng đế Thần Nông (Viêm Đế) trị vì ở Trung Hoa từ năm 2838 đến 2698 Tr.CN thường được xem như là người sáng lập nền Y học phương đông. Ông được coi là người đã soạn ra cuốn sách “Thần Nông bản thảo” , trong đó có ghi chép tất cả 365 vị thuốc và là Bộ sách cổ nhất của Trung y. Ông cũng là người đặt nền móng cho học thuyết âm dương tồn tại đến ngày nay như là một học thuyết chi phối nhiều lĩnh vực của văn hóa phương đông. (Tuy nhiên, theo các nhà nghiên cứu thì cuốn Thần Nông bản thảo không phải là do một người viết ra, mà là kinh nghiệm của nhiều người tích luỹ lại viết thành sách. Người ta đã đặt truyền thuyết về Vua Thần Nông để gây tin tưởng trong việc truyền bá, vì thực tế bộ sách này chỉ xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ II-SCN ).
Dựa trên quan điểm lý luận coi thân thể người như một hệ thống tích hợp và sử dụng các kiến thức truyền thống đã được kết tinh thành các học thuyết như học thuyết kinh mạch, thuyết âm dương, và thuyết ngũ hành, thiên nhân đồng nhất thể … trải qua hàng nghìn năm nền Y học phương đông vẫn tồn tại và phát triển ngày càng mạnh cho đến nay, thậm chí ở ngay cả những quốc gia phát triển như Mỹ, Pháp, Úc … nhiều phương cách chữa bệnh của Y học phương đông cũng được áp dụng.
Hippocrates (460-337 TCN) được xem là tổ sư của ngành y mà kế thừa ngày nay là Y học phương Tây, còn được gọi là Y học hiện đại (Tây y). Một trong những quan điểm quan trọng của ông là bác bỏ những quan niệm cho rằng bệnh gây nên do các sức mạnh siêu nhiên và do người ta có những ý nghĩ tội lỗi hay báng bổ thần thánh. Ông cũng là người đã soạn thảo "Lời thề Đạo đức Y khoa" (còn gọi là "Lời thề Hippocrates" thường được các sinh viên ngành y đọc trong lễ tốt nghiệp như 1 lời tuyên thệ) Khởi đầu của Tây y người ta cũng dùng thảo mộc, thể tạng động vật hay khoáng chất để chữa bệnh. Y học hiện đại phát triển trên cơ sở các thành tựu khoa học của nhiều lĩnh vực như giải phẫu học, vật lý, hóa học, sinh học, di truyền học, điện tử học … với hai chuyên ngành chính là Y khoa và Dược khoa thực sự đã mang lại hiệu quả to lớn trong khám chữa bệnh và bảo vệ sức khỏe cho con người. Tây y thực hiện theo nguyên tắc khoa học thực chứng, người thầy thuốc làm việc tuân thủ các lý thuyết lâm sàng và các phác đồ điều trị đã được hệ thống hóa theo các chương trình đào tạo chính quy của hệ thống các trường Y với nhiều cấp học từ sơ học đến đại học và sau đại học. Tây y áp dụng các biện pháp điều trị như tiêm, uống thuốc, phẫu thuật và xạ trị…Với đội ngũ thầy thuốc được đào tạo bài bản và hệ thống trang thiết bị y học hiện đại, ngày nay Tây y được coi là Y học chính thống ở hầu hết các nước trên thế giới.
Bên cạnh 2 nền y học lớn là Trung y và Tây y thì tại nhiều quốc gia, dân tộc khác nhau, trong lịch sử phát triển của mình cũng có những hệ thống chăm sóc sức khỏe và chữa trị bệnh tật mang nét riêng biệt và độc đáo còn tồn tại đến nay. Những phương cách chữa bệnh này nếu có cơ sở lý luận và thực tiễn hiệu quả thì được công nhận và được coi như một ngành Y học bổ xung. Nhiều phương cách khác tuy không được hoặc chưa được các nhà quản lý thừa nhận và cho phép hoạt động nhưng vẫn tồn tại trong cộng đồng.
Ở Việt Nam hiện nay cũng đã và đang tồn tại rất nhiều các hình thức chữa bệnh theo lối kinh nghiệm truyền thống (dân gian, gia truyền …) hoặc được thực hiện do một số người có khả năng đặc biệt, có thể dùng thuốc hay không dùng thuốc. Trong những năm gần đây, những hình thức chữa bệnh này vẫn có nhiều người, thậm chí rất đông người bệnh tin theo. Thực tế đó đòi hỏi các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu và hệ thống quản lý đặt vấn đề nghiên cứu, phân tích và lý giải nhằm mục đích bác bỏ hay duy trì và phát triển nó, mang lại lợi ích cho cộng đồng.
Cùng với mục đích nêu trên, tháng 11/2011 Trung tâm Nghiên cứu tiềm năng của con người trực thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam triển khai đề tài "Nghiên cứu, phân loại và cơ sở khoa học của các phương pháp chữa bệnh của những người có khả năng đặc biệt".
Bài viết này có tính chất liệt kê một số trường hợp chữa bệnh không theo các phương pháp truyền thống nêu trên, được thực hiện bởi những người có khả năng đặc biệt, đã được biết đến từ nhiều nguồn thông tin truyền thông khác nhau. Do khuôn khổ bài viết, mỗi phương pháp chỉ liệt kê một số trường hợp điển hình hoặc có ảnh hưởng lớn ở Việt Nam và một số quốc gia khác.
I. CHỮA BỆNH BẰNG NĂNG LƯỢNG SINH HỌC (NLSH)
NLSH là khái niệm được biết đến dưới nhiều tên gọi khác nhau tùy theo các giai đoạn lịch sử và truyền thống cũng như quan điểm của dân tộc, tôn giáo hay các nghiên cứu cá nhân để chỉ ra một loại năng lượng lan tỏa khắp vạn vật trong vũ trụ, là yếu tố quyết định sự tồn tại và sức sống của các chủ thể sinh học. Theo Rosemary Ellen Guiley trong cuốn “Từ điển tôn giáo và các thể nghiệm siêu việt”, các học giả Phương Tây hiện nay gọi NLSH là Năng lượng đời sống phổ biến (Tiếng Anh: Universal Life Force), bao hàm các khái niệm tương đồng như: Prana (Ấn độ), Khí (qi, ki theo tiếng Trung, Nhật), Mana, Aura (hào quang), Bioplasma (trường sinh học), Bioenergie, Orgone … Ở Việt Nam, NLSH của con người được gọi là Nhân điện.
NLSH đang được tiếp tục nghiên cứu tìm hiểu bởi các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học khắp nơi trên thế giới. Tuy chưa được minh chứng đầy đủ bằng khoa học thực nghiệm và còn gây nhiều tranh cãi, nhưng NLSH đã được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực của đời sống, trong đó nhiều nhất là trong việc chăm sóc sức khỏe và chữa trị bệnh tật.
1.1. Chữa bệnh bằng khí công – dưỡng sinh
Hình thành và phát triển dựa theo các học thuyết của triết học Phương Đông, Khí công đã có lịch sử trên 2000 năm ở Trung Quốc, là một hình thức tu dưỡng tinh thần và luyện tập đặc biệt nhằm kiểm soát và vận hành “khí ”. Tùy theo trình độ, khả năng và cả “cơ duyên” mà những người luyện tập khí công có thể trở thành những người có khả năng siêu phàm. Họ có thể phi thân, nhìn xuyên suốt cơ thể con người, "phát công" làm di chuyển đồ vật, thay đổi thành phần hoá học của vật chất và chữa bệnh không cần thuốc … những khả năng đó mang đầy tính huyền thoại, nhưng lại là một thực tế.
Ngày nay khí công đang được toàn thế giới quan tâm nghiên cứu, đặc biệt là ở Trung Quốc, hằng ngày có hơn 50 triệu người tập luyện và nổi lên nhiều cao thủ lừng lẫy đã được Nhà nước Trung Quốc công nhận là có thực tài như Lưu Văn Khanh, Phạm Ứng Liên, Dương Mai Quân,Vương Duy Thận, Nghiêm Tân,Vương Lực Bình, Phú Lực, Lâm Hậu Tỉnh v.v… Họ là những võ sư – khí công sư được người đời xưng tụng là “Tôn sư ”.
1.2. Nghiêm Tân - (Trung Quốc)
Nghiêm Tân sinh năm 1950 ở huyện Giang Du, tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc, khi 4 tuổi đã học võ công do một cao thủ vô danh truyền dạy như một sự tình cờ , đến 8 tuổi theo học Hải Đăng pháp sư ( đồng môn với Phạm Ứng Liên). Tiếp sau đó, Nghiêm Tân lần lượt luyện công học võ với hơn hai mươi vị sư phụ của nhiều môn phái khác, điều đặc biệt là ông đã biết kết hợp sở trường của từng môn phái và dần hình thành công phu đặc sắc độc đáo của riêng mình. Năm 13 tuổi, ông đã có khả năng phát ra ngoại lực để chữa bệnh cho người. Năm 1974, Nghiêm Tân được đào tạo một cách hệ thống kiến thức lý thuyết, thực hành của Đông y và Tây y tại Học viện Y khoa Thành Đô và được phép hành nghề chữa bệnh. Những ca chẩn đoán và chữa bệnh của ông đã được các nhà khoa học và nhiều bệnh viện của Trung Quốc theo dõi nghiên cứu và công nhận, thường đạt kết quả rất nhanh và chính xác, được mô tả như những kỳ tích, như trường hợp chỉ trong hai mươi phút "phát công" đã làm liền xương bả vai bị gãy rời, vỡ vụn do tai nạn lao động cho anh công nhân Túc Bình(1)
1.1.2 Võ sư Bùi Long Thành (Việt Nam)
Võ sư – khí công sư Bùi Long Thành là một người thực hành và đào tạo khí công theo trường phái động công ở Việt nam. Năm 1993, Bùi Long Thành kết hợp với Liên hiệp công nghệ tin học ứng dụng (UIA) thành lập Trung tâm nghiên cứu khí công dưỡng sinh Việt Nam với mục đích phổ biến và đào tạo Khí Công Dưỡng Sinh Dân Tộc (KCDSDT).Trong những năm 1993-1995 Trung tâm đã tổ chức được trên 100 lớp KCDSDT tại Hà nội, Hải dương, Nam định, Ninh bình, Huế, Nha trang, Phan thiết, Phan rang …với hàng vạn người đã tin tưởng, say mê rèn luyện và hàng nghìn trường hợp cụ thể đã giảm bệnh, khỏi bệnh, kể cả những loại bệnh nan y. Hàng trăm bài báo, hàng chục chương trình phát sóng trên các đài Truyền hình Trung ương và địa phương, Đài Tiếng nói Việt Nam ... đăng tải, luận bàn về phương pháp KCDSDT, khiến cho phương pháp này trở thành sự kiện nổi bật, được dư luận xã hội, quần chúng nhân dân ngưỡng mộ. Tuy nhiên do nhiều lý do khách quan và chủ quan cả về nhân sự, tổ chức cũng như lý luận mà phong trào học tập KCDSDT đã dần đi vào thoái trào. Gần đây Bùi Long Thành vẫn tổ chức một số lớp đào tạo khí công và chữa bệnh tại Tp Hồ Chí Minh và một số địa phương nhưng với qui mô nhỏ hơn.
1.1.3 Một số nhân vật khác của trường phái khí công - dưỡng sinhchữa bệnh:
- Ông Lý Hồng Chí (Trung quốc): Người đứng đầu trường phái Pháp luân công hiện đang rất thịnh hành và có hàng triệu người tham gia luyện tập ở nhiều nước trên thế giới ( Bị cấm hoạt động ở Trung Quốc).
- Ông Hoàng Vũ Thăng ( Việt nam ): Trưởng môn Tĩnh công
- Ông Đỗ Vạn Thông ( Đức phổ Quảng ngãi Việt nam ): Đỗ Vạn Thông còn được gọi là ông Tứ. Cách chữa bệnh của ông là dùng công năng khí công và đã có rất nhiều kỳ tích trong chữa bệnh và biểu diễn.(2) Tuy nhiên chưa có khảo cứu chính thức về nhân vật này.
- Ông Võ Hoàng Yên: Sinh năm 1975, ngụ ấp Cái Nước, thị trấn Cái Nước, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Phương pháp chữa bệnh của ông là bấm huyệt kết hợp khí công. Hiện nay đang có rất nhiều bài báo in và báo điện tử viết về nhân vật này trong đó có những ý kiến ca ngợi ông như một “thần y” có thể chữa bách bệnh, cũng có một số báo khác có ý kiến phản biện cho rằng đó chỉ là phương pháp bấm huyệt thông thường của Y học cổ truyền và chỉ có thể chữa được một số căn bệnh nhất định.
- Cố giáo sư Nguyễn Văn Hưởng và Cố giáo sư Nguyễn Khắc Viện với phương pháp chữa bệnh và tăng cường sức khỏe bằng dưỡng sinh năng lượng. Hiện nay vẫn còn rất nhiều người học tập và làm theo phương pháp này do tính dễ phổ biến, dễ tập và hiệu quả của nó.
Được biết ở Việt Nam hiện nay còn có rất nhiều nhà võ sư có khả năng khí công thâm hậu nhưng vì nhiều lí do khác nhau mà họ thường “mai danh ẩn tích” nên ít người biết đến. Trái lại, cần thận trọng với thông tin có một số người tuy khả năng có hạn nhưng lại vì mục đích nào đó mà thổi phồng khả năng của mình. Cũng đã có một số trường hợp chủ động mời các nhà khoa học kiểm chứng khả năng đặc biệt của mình nhưng sau đó bị phát hiện là do hoang tưởng mà có.
Hiện nay ở Việt Nam và một số quốc gia khác như Thái Lan, Úc, Sri Lanca … đang thịnh hành phương pháp chữa bệnh bằng Nhân điện. Đây là một phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc, được cho là sử dụng năng lượng sinh học của con người.
Mặc dầu Nhân điện đã được một số nhà nghiên cứu đề cập đến từ lâu nhưng cộng đồng nhân điện thừa nhận Ngài Dasira Narada (1846-1924) người Srilanca là sư tổ của họ. Ông đã có 18 năm tu học trên dãy Hy mã lạp sơn sau đó trở về quê hương thực hành chữa bệnh và truyền dạy cho mọi người. Một trong những học trò của ông là Narada Mahathera (1898- 1983), vào năm 1972 ông đã sang Việt Nam và truyền dạy cho một số người Việt.
Những người thực hành phương pháp nhân điện là những người đã được đào tạo qua một số cấp học nhất định, theo đó họ có khả năng thu năng lượng của vũ trụ và vật chất xung quanh để chuyển hóa thành năng lượng sinh học của bản thân. Khi năng lượng đã cao và thông thạo cách sử dụng thì có thể nâng cao sức khỏe, tự chữa bệnh và chữa bệnh cho người khác bằng cách truyền năng lượng qua những luân xa. Hiện nay trên toàn thế giới có khoảng 3 triệu người theo học và thực hành Nhân điện. Phương pháp chữa bệnh này được một số quốc gia cho phép nghiên cứu và hoạt động như là một ngành Y học bổ xung, nhưng ở nhiều nước khác nó lại chưa được công nhận và chưa cho phép phổ biến trong cộng đồng.
Theo các nghiên cứu đã công bố, hiệu quả chữa bệnh của nhân điện có thể tóm lược trong một số nội dung sau:
· Giúp cơ thể phục hồi tình trạng nguyên thuỷ của nó, điều hòa cân bằng hệ thống nội tiết và thần kinh – thể dịch
· Giúp tăng cường hệ thống miễn dịch của cơ thể, từ đó làm tăng sức đề kháng và kích thích cơ chế tự chữa bệnh của cơ thể.
Như vậy nhân điện nếu được sử dụng đúng mục đích và phương pháp có thể hỗ trợ tốt cho quá trình chữa bệnh và có thể chữa lành một số căn bệnh nhẹ thông thường.
Một số người thực hành chữa bệnh bằng nhân điện:
- Ông Huỳnh Văn Trạng còn có tên Huynh Hai (đã chết năm 2005).
- Ông Nguyên Văn Chiều ở Gia lâm Hà Nội (đã mất).
- Ông Lương Minh Đáng: Là Việt kiều ở Úc. Ông là tác giả nhiều cuốn sách và tài liệu về nhân điện, đã mở nhiều lớp đào tạo nhân điện ở nhiều nước trên Thế giới như Mỹ, Úc, Thái Lan, Srilanca và Việt Nam …và có rất đông học viên theo học. Ông đã chết năm 2007 tại Melbourne ngay khi đang dùng nhân điện điều trị cho một bệnh nhân. Ngày nay các chương trình đào tạo nhân điện vẫn được duy trì do vợ của ông là bà Nguyễn Thu Thủy và con trai Lương Minh Trung đảm nhiệm. Trường phái này có cả một Phân Khoa Trị Liệu bằng Năng Lượng Con Người và Vũ Trụ tại Trường Đại Học Quốc Tế Mở Rộng Y Học Bổ Sung có trụ sở tại Colombo – Srilanca (xem tham khảo 1)
- Ông Nguyễn Đình Phư: Là tiến sĩ toán lý, Phó Giáo sư trường ĐH tổng hợp TP HCM. Ông từng theo học Thầy Lương Minh Đáng từ năm 1989, sau đó có nghiên cứu mở rộng thêm lý thuyết theo hệ thống kinh lạc của Đông y. Ông đã xuất bản nhiều sách trong đó có cuốn "Nhân điện - những phát hiện và ứng dụng" (Nhà xuất bản văn hoá thông tin - 1999).
Hiện nay ở Việt Nam còn có rất nhiều người vẫn đang nghiên cứu và thực hành chữa bệnh bằng nhân điện. Có nhiều người ca ngợi lợi ích của phương pháp trong cộng đồng, nhưng cũng có những ý kiến phản biện xung quanh vấn đề phân tích cơ sở khoa học và hiệu quả thực tiễn của phương pháp.
1.4. Một số trường hợp chữa bệnh bằng NLSH khác:
- Bà Barbara Ann Brennan (Mỹ ): Là chuyên viên khoa học của Trung tâm phi hành thuộc cơ quan hàng không vũ trụ Hoa Kỳ NASA, là nhà chữa trị thực hành, nhà tâm lý trị liệu. Bà đã dùng khả năng thấu thị của mình để chẩn đoán và chữa bệnh cho hàng vạn người bằng cách truyền năng lượng qua hai bàn tay . Những kinh nghiệm của bà đã được bà viết trong cuốn sách nổi tiếng Hands of Light – A Guide to Healing Through the Human Energy Field ( Bản dịch tiếng Việt có tên Bàn tay ánh sáng )
- Kaspirovsky ( Nga ): Là một người nổi tiếng ở Nga ngay từ thời Liên xô cũ, khi mà ở đó chủ nghĩa duy vật là thống soái. Ông đã từng được đưa lên đài truyền hình để phát năng lượng chữa bệnh cho mọi người. Có nhiều phản ứng khác nhau khi xem kênh truyền hình của ông. Một số người không ủng hộ cho rằng hiệu quả có được qua hiện tượng này là một dạng tự kỷ ám thị.
- Yulia Vorobiova sinh năm 1947 ở ở thành phố Donetsk thuộc Ucraina (Liên Xô cũ) được cứu sống sau khi chết lâm sàng do bị dòng điện 380 vol tác động, đã có năng lực siêu phàm. Bà có khả năng nhìn thấy các cơ quan nội tạng trong cơ thể người đối diện, có thể biết được tình trạng bình thường hay bệnh tật trong cơ thể. Bà cũng chữa bệnh bằng cách truyền năng lượng.
- Ông Vũ Bội Quang Khôi (Việt kiều hiện ở Mỹ từ năm 1980): Ông hiện được một đài phát thanh ở Orange County thuộc tiểu bang California phát sóng 2 buổi trong một tuần để chữa bệnh cho người nghe. Phương pháp của ông được gọi là “Tâm pháp” hay chữa bệnh bằng “Sức mạnh tư tưởng”, người bệnh được hướng dẫn tự chữa bệnh và nạp năng lượng bằng hướng dẫn qua lời nói trực tiếp của ông hoặc qua radio hay băng ghi hình. Điều kiện cần thiết là người bệnh phải có lòng tin và một “cái tâm” trong sáng, một số nhân chứng cho là cách chữa bệnh của ông rất có hiệu quả.
II. NHỮNG NGƯỜI CHỮA BỆNH DỊ THƯỜNG
Trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại, ở khắp nơi trên Thế giới đã xuất hiện những phương thuật chữa bệnh kỳ lạ do một nhóm người hay những cá nhân đặc biệt thực hiện. Điều đó thường được kể lại trong những truyền thuyết, huyền thoại, được ghi chép trong sử sách hoặc truyền khẩu. Những cách chữa bệnh như vậy có điểm chung là không thể giải thích được theo khoa học hay những tri thức thông thường, chúng thường được gán cho những tên gọi như huyền bí, ma thuật, phù thủy, mê tín … gần đây có thêm một số khái niệm như: chữa bệnh bằng tâm linh, chữa bệnh bằng lòng tin, chữa bệnh bằng ngoại cảm, chữa bệnh bằng tinh thần, ám thị …
Cũng chính vì sự huyền bí nêu trên mà những hình thức chữa bệnh này thường không được các nhà quản lý xã hội công nhận. Thế nhưng trong thực tế đời sống, những hình thức chữa bệnh đó vẫn tồn tại và thu hút rất đông người bệnh tin tưởng và thực sự đã có rất nhiều người bệnh được chữa khỏi bằng những phương cách đó. Ở đây cũng cần nói thêm rằng chính vì có sự huyền bí đó mà có một số người dù có khả năng thật sự hay không có khả năng đã lợi dụng việc chữa bệnh và lòng tin của người bệnh để lừa đảo trục lợi (về kinh tế hay danh lợi …).
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, trong quá khứ và hiện tại có nhiều nhân vật nổi tiếng về cách chữa bệnh dị thường nêu trên. Sau đây xin nêu một số nhân vật trong đó.
2.1. Thiền sư Nguyễn Chí Thành (1076-1141):
Là thiền sư đời thứ 12 dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi. Ông quê ở làng Loại Trì, huyện Chân Định, tỉnh Nam Định. Năm hai mươi chín tuổi, ông cùng Giác Hải, Đạo Hạnh sang Thiên Trúc học đạo, sau đó về quê xây chùa Diên Phước. Ông được biết đến nhiều hơn với tên gọi Thiền sư Minh Không (hay Khổng Minh Không), ông cũng được tôn vinh là ông tổ nghề đúc đồng ở Việt nam. Có nhiều huyền thoại về các phép màu và thuật chữa bệnh của ông, trong đó có chuyện ông dùng phép thuật chữa bệnh hóa cọp cho vua Lý Thần Tông. Ngày nay vẫn còn đền thờ ông tại phố Lý Quốc Sư Hà Nội. (4)
2.2. Ông Edgar Cayce (1877-1945):
Nhà tâm linh người Mỹ, sinh ở Hopkinsville bang Kentucky. Ngay từ nhỏ ông đã có khả năng tâm linh như nhìn thấy những sinh vật phi vật thể, thấy hào quang của người khác. Mặc dầu không học hết cấp 2 và không được học qua nghề y nhưng những ca chẩn đoán bệnh của Cayce được đánh giá chính xác đến 90%. Cayce thường khám bệnh trong trạng thái tự thôi miên, ông có thể biết được kiếp trước của người bệnh và đưa ra lời khuyên về phương pháp chữa bệnh căn cứ vào “nghiệp” của người đó ( xem tham khảo2).
2.3. Cặp vợ chồng Ambrose Worrall (1899-1972) và Olga Nathalie Ripich (1906-1985):
Ambrose là người Mỹ gốc Anh còn Olga là người gốc Nga. Họ là những người bẩm sinh đã có khả năng thấu thị và một số khả năng tâm linh khác (nghe rõ, xuất hồn …). Dưới sự trợ giúp của một số người khác họ đã có cả một bệnh viện tư chữa bệnh bằng tâm linh tại vùng núi Vernon ở Bantimore. Việc chẩn đoán và chữa bệnh của họ thường liên quan đến việc giao tiếp với hồn ma người chết là bà con thân thuộc với người bệnh. Hiện tượng chữa bệnh của họ đã là đối tượng nghiên cứu của nhà cận tâm lý J.B Rhine (5)
2.4. Cụ Nguyễn Đức Cần: (Cụ còn có danh xưng là cụ Trưởng Cần, sinh ngày 29/12/1909, mất ngày 13/07/1983 ở thôn Đại Yên, phường Ngọc Hà, quận Ba Đình – Hà Nội).
Được theo học một vị thầy huyền bí từ khi còn ít tuổi, sau nhiều năm theo thầy đi khắp nơi đề học nghề và chữa bệnh, cụ về quê và bắt đầu chữa bệnh cho mọi người từ cuối những năm 40 và được nhiều người biết đến vào những năm 70 của T.K trước. Phương pháp chữa bệnh của cụ rất đặc biệt và cho đến nay vẫn chưa được lý giải cặn kẽ. Cụ đã chữa khỏi bệnh cho hàng vạn người với đủ các loại bệnh khác nhau mà không dùng đến thuốc, thậm chí không tiếp xúc với người bệnh.
Do những rào cản về nhận thức và nhân sinh quan thời đó, phương pháp chữa bệnh của cụ từng bị coi là mê tín dị đoan, lừa bịp, ma thuật, phù thủy …Tuy nhiên trong thực tế, Cụ là một con người hiền hậu, sống giản dị , có tình thương bao la với mọi người, không cầu danh lợi. Đã có nhiều nhà nghiên cứu, các giáo sư, bác sĩ, các nhà khoa học tìm hiểu cách chữa bệnh, nhiều bài báo đăng tải những kỳ tích chữa bệnh và đạo đức của Cụ. Tập hợp những nghiên cứu đó, vào năm 2009 nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Cụ, NXB Văn hóa - Thông tin đã xuất bản cuốn “ Nguyễn Đức Cần – Nhà văn hóa tâm linh” do nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải và Nguyễn Tài Đức biên soạn ( đã tái bản năm 2010).
Có ba phương pháp chữa bệnh mà Cụ thường sử dụng:
- Tác động bằng lời nói
- Dùng tờ đạo
- Điều khiển bằng tay
Tùy từng trường hợp khác nhau mà Cụ Nguyễn Đức Cần đã dùng một trong những cách trên hoặc kết hợp các cách đó với nhau để chữa bệnh và đều đạt được hiệu quả. Ngoài chữa bệnh Cụ còn có khả năng dự đoán một số sự kiện mà sau này được kiểm chứng là chính xác.
Có nhiều người tìm cách giải thích cơ chế và phương pháp chữa bệnh của Cụ nhưng cho đến nay vẫn chưa có sự giải thích nào là thỏa đáng. Ngay lúc còn sống Cụ cũng không nói rõ về phương pháp chữa bệnh của mình. Hiện nay vùng đất đặt ngôi mộ của Cụ ở tại làng Thanh Mai huyện Thanh Oai Hà Nội được rất nhiều người đến thăm viếng, nhiều người cho rằng khu đất này cũng có năng lượng chữa bệnh rất kỳ lạ( xem tham khảo 3)
2.4. Cô Phạm Thị Phú
Cô Phú sinh năm 1972, hiện ở tại thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. Bắt đầu từ vài năm trước, sau một số biến cố về tình cảm gia đình, đã từng bị coi là mắc bệnh tâm thần và phải nhập viện điều trị. Sau khi ra viện cô nhận thấy mình có một số khả năng khác thường trong một số lĩnh vực thuộc vấn đề tâm linh, trong đó có khả năng chữa được bệnh tật cho một số người mà theo cô là do có sự trợ giúp của thế giới vô hình. Tin đồn về khả năng chữa bệnh của cô đã nhanh chóng lan rộng, có thời điểm mỗi ngày có tới hàng trăm người bệnh từ khắp nơi tìm đến nhờ cô khám chữa bệnh và giải quyết một số nhu cầu tâm linh khác. Hiện tượng chữa bệnh của cô Phú đã được đăng tải trên nhiều tờ báo với những góc nhìn khác nhau, trong đó không ít bài báo có tính phê phán, nhưng trên thực tế lượng người bệnh tìm đến nhờ cô chữa bệnh vẫn không giảm. Hình thức chữa bệnh của cô là vô thức (tự ám thị) và cho một vong mượn xác nhập đồng để chữa bệnh, giải hạn và cung cấp thông tin (theo cô Phú đó là vong của một người con đã mất, thường gọi là Cò), cô thường không nhớ, không biết sau tiến trình chữa bệnh. Có nhiều nhân chứng là các bệnh nhân đã được cô chữa khỏi hoặc đỡ bệnh, kể cả một số trường hợp mắc bệnh nặng, lâu ngày. Trung tâm nghiên cứu tiềm năng của con người hiện đang có đề tài nghiên cứu về trường hợp này.
2.5. Những nhà phẫu thuật tâm linh ( Psychic Surgery) ở Philippines
Ở khu vực gần thành phố Bagio phía bắc Philippines có một bộ lạc thổ dân mà tại đó có những “nhà phẫu thuật không dao mổ thần bí” (thường được gọi là các Healer - nghĩa là người chữa bệnh) đã gây xôn xao dư luận .
Những người này là có khả năng tiến hành những ca phẫu thuật phức tạp mà không hề dùng đến bất kỳ một thứ gì khác ngoài đôi bàn tay. Sau khi thực hiện một số nghi lễ tôn giáo, cuộc “phẫu thuật” diễn ra ngoài trời trước sự chứng kiến của rất nhiều người. Trong một trạng thái xuất thần giống như bị thôi miên, trong vòng khoảng từ 1 đến 10 phút, không hề có một thao tác khử trùng cần thiết nào, họ chỉ cần dùng những ngón tay có thể dễ dàng rạch da thịt người bệnh, đưa tay sâu vào trong cơ thể và lấy ra cơ quan bị bệnh hay một khối u nào đó. Trong quá trình phẫu thuật dù có máu chảy, nhưng ngay khi Healer rút tay ra khỏi vết thương thì trên cơ thể bệnh nhân lại hầu như không phát hiện một chút dấu vết nào, thậm chí ngay cả một vết sẹo nhỏ, người bệnh cũng không hề cảm thấy đau đớn ngoài một cảm giác căng tức ở vùng mổ. Chừng 30 phút sau là bệnh nhân có thể đứng dậy hoạt động bình thường.
Phẫu thuật tâm linh đã tạo nên cơn sốt chữa bệnh dị thường tại Philippines, Mỹ và nhiều nước khác từ những năm 1959 đến sau năm 1970. Người ta đã thống kê có khoảng 400 Healer hành nghề, một số Healer trở nên nổi tiếng như: Eleuterio Terte, Emilio Lemes, Fiorentino Rino, Alex Orbito … tuy nhiên có lẽ trong số đó chỉ có 1 số ít người là có khả năng thực sự và đã được kiểm chứng, nhiều người khác bị phát hiện là dùng xảo thuật lừa đảo, như trường hợp “thần y ” Alex Orbito từng bị bắt bỏ tù tại Canada. Nhiều nhà khoa học và các chuyên gia y tế đã tìm cách nghiên cứu và giải thích hiện tượng phẫu thuật tâm linh nhưng cho đến nay vẫn chưa có ai đưa ra được lời giải thích thuyết phục về mặt khoa học (xem tham khảo 4.)
2.6. Tại nhiều vùng núi, nơi cư trú của các đồng bào dân tộc thiểu số của Việt nam có những ông Lang, bà Mế cũng có những cách chữa bệnh mang tính thần bí như dùng ngải, hèm, thổi lá trầu, ống hút… Những trường hợp này thường là những người “có tiếng” ở một phạm vi hẹp trong vùng dân tộc đó do hạn chế về điều kiện kinh tế xã hội và không gian giao lưu. Họ cũng có đóng góp đáng kể trong việc chữa bệnh cho đồng bào của họ. Một số người cũng đã được thông tin rộng rãi do có được “biệt tài” về chữa một loại bệnh nào đó, như trường hợp "Ma hút" Lường Văn Hối và con rể ông là Vi Văn Cán ở huyện Sông Mã tỉnh Sơn La có khả năng hút được các đầu đạn hay dị vật găm trong người và chữa lành các vết thương mà chỉ dùng đến dụng cụ là một chiếc ống tre và một số thủ tục có tính ma thuật. Cụ Đoàn Văn Nhâm (xã Nhân Thành, Yên Thành, Nghệ An) nổi tiếng về thuật chữa hóc xương bằng bí quyết gia truyền. (6)
Trên thế giới đã và đang tồn tại nhiều vùng đất linh thiêng rất nổi tiếng, hàng năm thu hút hàng trăm ngàn người hành hương từ khắp mọi nơi. Những vùng đất này thường được nhân gian gọi là những vùng đất Thánh. Đó có thể là thánh địa của một số tôn giáo như: Jerusalem – một trong những thành phố lâu đời nhất thế giới, là vùng đất thiêng hội tụ của 3 tôn giáo lớn là Hồi giáo, Thiên chúa và Do Thái; Thánh địa Mecca (hay Makkah) của những người theo đạo Hồi; Sông Hằng (Ganga) ở Ấn Độ, vào dịp lễ mỗi năm thu hút hàng triệu người theo đạo Hindu đến đây để gột rửa tội lỗi và chữa bệnh. Tương tự như vậy còn rất nhiều những vùng đất khác như: Các hang động Ajanta ở Ấn độ, Khu đền Delphi ở Hy Lạp, bãi đá Stonehenge và bãi đá Callanish ở Anh, Khu đền Ziggurat ở thành phố Ur – Iraq, một số địa danh ở Tây Tạng như núi Kailash. Khu vực Đông Nam Á cũng có một số địa danh như Borobudur (Indonesia), Pagan (Myanma), Angkor Wat (Campuchia) và Ayutthaya (Thái Lan) …
Ở Việt Nam cũng có nhiều vùng đất được coi là đất thánh như: Thánh địa Mỹ Sơn, vùng núi Thất sơn (Quảng nam), vùng núi Yên Tử (Quảng Ninh), núi Tản Viên – Ba vì Hà Nội, khu vực đền thờ các vua Hùng (Phú Thọ) …
Những địa danh được gọi là vùng đất thánh có sức thu hút đông đảo khách hành hương như vậy là do ngoài vấn đề thỏa mãn những nhu cầu tâm linh, tôn giáo còn có nhiều lý do khác như khám phá, du lịch đơn thuần … nhưng có một lý do khác khá phổ biến là nhiều khách hành hương trước khi đến đây có mang trong mình một số tật bệnh và khi trở về bệnh tật đã biến mất hoặc chuyển biến rõ rệt. Đây là một thực tế có thật và có rất nhiều câu chuyện cụ thể với nhân chứng cụ thể đã được kiềm chứng.
Nhiều nhà khoa học và cả các nhà nghiên cứu tâm linh đã tìm cách “giải mã” khả năng chữa bệnh của các vùng đất linh thiêng bằng nhiều góc nhìn khác nhau. Tuy vậy chưa có một địa danh nào được tìm ra nguyên nhân thực sự của của những điều kỳ diệu đó. Có thể liệt kê một số khuynh hướng giải thích như sau:
- Do cấu trúc địa chất đặc biệt trong lòng đất có chứa các nguyên nhân , chẳng hạn như quặng sắt, gây ra tại khu vực một điện từ trường mạnh.
- Thành phần của nước trong khu vực có chứa nhiều khoáng chất và nguyên tố vi lượng có lợi cho sức khỏe.
- Không khí trong lành có chứa nhiều ion âm
- Do cơ chế tự chữa bệnh của cơ thể: Khỏi bệnh là do lòng tin, ám thị tập thể.
- Do có sự can thiệp của một đấng tối cao: Thượng đế, Chúa, Thánh, Đức mẹ …
- Nơi qui tụ của năng lượng vũ trụ có được do những yếu tố tự nhiên ( phong thủy) hay nhân tạo (công trình xây dựng như tượng đài, kim tự tháp …) tạo nên các vị trí được gọi là khí tụ, long mạch, huyệt …
Bên cạnh những vùng “đất tốt” đó cũng có rất nhiều vùng đất được gọi là “vùng đất chết”. Nơi đó ẩn chứa những yếu tố nguy hại cho sức khỏe con người như phóng xạ, khí độc, ô nhiễm và nhiều yếu tố khác.
Sau đây xin nêu 2 địa danh khá nổi tiếng ở Pháp và Việt Nam.
3.1. Suối thiêng vùng Luordes (Pháp):
Từ chỗ chỉ là một thị trấn có dòng suối nhỏ ở miền Nam nước Pháp, ngày nay vùng Lourdes đã trở thành một địa danh nổi tiếng. Chuyện bắt đầu xảy ra vào tháng 3 năm 1858, khi có tin đồn Đức Mẹ nhập vào một cô gái Pháp tên Margrette và phán truyền: "Ta ban cho các con nguồn nước suối màu nhiệm này để làm dịu bớt phần nào nỗi khổ đau trên thế giới". Được tin, vị cha xứ của địa phận với ý niệm đây là nguồn nước thánh đã thử dùng nước suối để nhỏ mắt cho một thanh niên bị mù tên là Sactơlê. Điều thần kỳ đã xảy ra khi ngay sau đó người thanh niên này đã sáng mắt trở lại. Một số người bệnh khác cũng có kết quả tương tự, như cô gái Charlotte bị liệt đã thấy khỏe ra và đi lại bình thường sau khi uống nước suối Lourdes.
Tin tức được lan truyền và thu hút mọi người từ khắp nơi đổ về đây để chữa bệnh và nghiên cứu tìm hiểu. Các tài liệu nghiên cứu và ghi chép lại cho thấy rất nhiều người bệnh với đủ các loại bệnh tật khác nhau khi đến đây uống nước và rửa ráy tại dòng suối đã khỏi bệnh một cách khó tin.
Chính quyền địa phương đã tổ chức và khai thác rất tốt địa điểm này, họ đã biến nơi đây thành một địa chỉ du lịch nổi tiếng không chỉ ở nước Pháp mà gần như khắp thế giới. Không chỉ có tên trên bản đồ du lịch Thế Giới, khi đến Pháp người ta dễ dàng tìm thấy các biển báo giúp tìm đường đến Lourdes. Ngay trên các bức tường của Nhà thờ xứ, người ta gắn rất nhiều bảng ghi dòng chữ : "Con hãy đến uống và rửa ở suối này" với nhiều ngôn ngữ khác nhau (trong đó có tiếng Việt). Hiện nay mỗi năm có hàng vạn người từ khắp nơi trên thế giới đổ về khiến nơi đây trở nên sầm uất, náo nhiệt vì người đến cầu xin chữa bệnh, lấy tin tức, khảo cứu ... (Xem Tham khảo5)
3.2. Khu vườn Long An
Nằm trên mảnh đất có địa chỉ tại số 370 ấp Tân Hội, xã Đức Lập Thượng, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, thuộc sở hữu của gia đình ông Nguyễn Văn Sống và bà Võ Thị Ngoan trong đó có người con gái là chị Nguyễn Thị Kim Hồng. Khu vườn có diện tích khoảng 2.000 m2 trong đó hiện có ngôi nhà của gia đình cư trú và đang trồng nhiều cây ăn trái.
Được mệnh danh là “Khu vườn kỳ lạ”, câu chuyện của Khu vườn Long An gần giống như câu chuyện xảy ra tại con suối thiêng ở vùng Luordes của Pháp nêu trên. Theo nhiều nguồn thông tin có thể dễ dàng tham khảo trên các báo in và báo điện tử, người ta bắt đầu biết đến khu vườn từ năm 2003, khi người trong gia đình và một số người xung quanh khu vườn nhận thấy những người sinh sống ở đây đều rất khỏe mạnh và một số bệnh tật tự nhiên không chữa mà khỏi. Từ đó nhân dân giới thiệu nhau đến đây chữa bệnh ngày càng đông, họ chỉ cần đến nghỉ ngơi hoặc ngồi thiền tại khu đất này là có thể tự chữa bệnh mà không có một tác động nào khác. Hiện mỗi ngày có tới hàng trăm người đến đây với mục đích chữa bệnh và tìm hiểu nghiên cứu. Thực tế là có người sau khi đến đây đã tự khỏi bệnh một cách nhẹ nhàng, thậm trí có nhiều người đã được các bệnh viện chỉ định điều trị bằng phẫu thuật hay nội khoa nhưng họ vẫn bỏ điều trị để đến đây và bệnh cũng thấy khỏi hoặc chuyển biến rõ rệt.
Vào năm 2005 đã có một số đoàn nghiên cứu bao gồm các nhà khoa học về địa chất, môi trường và các bác sĩ … do Bộ y tế và địa phương thành lập đã đến đây khảo sát nghiên cứu. Nhiều phóng viên các báo đài đã viết bài nói về khu vườn này. Các kết luận điều tra cũng như báo chí tập trung vào một số nội dung chính sau:
- Có hay không hiệu quả chữa bệnh của khu vườn này. Nếu có thì đâu là cơ sở khoa học.
- Đây có thuộc vấn đề “mê tín dị đoan” hoặc lợi dụng để kinh doanh trục lợi.
- Việc tập trung đông người có gây mất an ninh trật tự và ảnh hưởng vệ sinh môi trường trong khu vực.
- Những người ủng hộ việc duy trì hoạt động của khu vườn thì cho rằng các nhà khoa học cần chứng minh hiệu quả rõ ràng với những bằng chức khách quan, cần kêu gọi mọi người cùng góp sức để tổ chức các hoạt động cho có hiệu quả, tránh gây ra những ảnh hưởng xấu đến môi trường và an ninh trật tự tại địa phương. Coi đây là một tài sản quý của đất nước cần được bảo vệ và khai thác hiệu quả, như cách tổ chức của người Pháp đối với vùng suối Lourdes. (xem tham khảo 6)
IV. KẾT LUẬN
Lịch sử văn minh của loài người đã trải qua hàng ngàn năm với biết bao điều kỳ diệu. Từ chố “ăn lông ở lỗ”, ngày nay con người đã thành tựu hầu hết những ước mơ của tổ tiên: Bay lên vụ trụ, lặn xuống biển sâu, kho tàng tri thức của loài người về mọi lĩnh vực tự nhiên và xã hội đã và đang được bổ xung với một tốc độ nhanh chưa từng thấy, nhất là trong khoảng vài trăm năm trở lại đây, khi mà con người đã làm chủ được các ngành Khoa học: vật lý, hóa học, sinh học, y học, triết học … Ngày 01/11/2011 đánh dấu mốc lịch sử : 7 tỷ người đang hiện hữu trên hành tinh của chúng ta. Chúng ta khác với tổ tiên là ngày nay nhờ có các phương tiện giao thông, các phương tiện thông tin và vô vàn các tiện nghi khác đã giúp cho mọi người ở mọi nơi trên thế giới có thể tiếp xúc và chia sẻ cho nhau bất kỳ khi nào.
Với tốc độ phát triển như vậy, chắc chắn không còn bao lâu nữa, những điều mà hôm nay còn là bí ẩn của tự nhiên và sự sống, trong đó có những bí ẩn thuộc về con người và môi sinh đã nêu trên sẽ được loài người giải mã. Nhất là ngày nay, khi mà ở nhiều quốc gia, các ngành Khoa học hiện đại và Khoa học tâm linh đã tìm thấy tiếng nói chung. Tất cả là nhằm vào mục tiêu phục vụ đời sống của con người.
Chú thích
(1) Thẩm Chưởng Vinh – “ Con người - những điều kỳ diệu” Người dịch: Thành Đăng Khánh - NXB Văn hóa thông tin Hà Nội 2003 tr,351-352
(2) Theo tác giả Cao Hùng - “ Chuyện lạ có thật về một con người ” (NXB Lao Động xuất bản năm 2006)
(3) Thích Bảo Nghiêm - Lịch sử chùa Lý Triều Quốc Sư
http://daitangkinhvietnam.org/van-hoc-va-nghe-thuat/kien-truc-phat-giao/
(4) Rosemary Ellen Guiley- Từ điển tôn giáo và các thử nghiệm siêu việt. NXB Tôn giáo 2005- tr. 948-949
(5) Theo: Kim Long - Nguyễn Tú http://www.doisongphapluat.com.vn/Story.aspx?lang=vn&zoneparent=0&zone=22&ID=9538
Tham khảo
1. Các bài viết về Nhân điện trên Website: http://nangluongcuocsong.com.vn/
2. Nguyễn Hữu Kiệt- Những Bí Ẩn Của Cuộc Đời - sách eBooks
3. Nguyễn Phúc Giác Hải và Nguyễn Tài Đức- “Nguyễn Đức Cần – Nhà văn hóa tâm linh” - NXB Văn hóa - Thông tin 2010
4. Thẩm Chưởng Vinh – Con người những điều kỳ diệu. NXB Văn hóa thông tin 2003)
5. Bí ẩn dòng suối thánh Lourdes
http://www.khoahoc.com.vn/khampha/1001-bi-an/1974_Bi-an-dong-suoi-thanh-Lourdes.aspx
6. Quốc Dũng - Đâu là sự thật về hoạt động nghiên cứu tại “Khu vườn lạ Long An”? báo Tiền phong Online số ngày 07/05/2005
Subscribe to:
Posts (Atom)




