Sunday, December 18, 2011

GIỮ GÌN KHẢ NĂNG NGOẠI CẢM


Nhà nghiên cứu Đoàn Thanh Hương

Khả năng chữa bệnh không dùng thuốc, xuất phát từ bản năng sinh tồn của muôn loài, tất cả đều có cơ chế bẩm sinh tự điều chỉnh khỏi bệnh, là một đặc trưng nhất của khả năng bảo tồn nòi giống. Do nhiều tác động xấu trái ngược thiên nhiên, mà cơ chế tự điều chỉnh bị yếu ớt, bệnh tật phát sinh, thậm chí có bệnh vô phương cứu chữa. Đã có những tác động tích cực để cơ chế tự điều chỉnh mạnh mẽ lên, khỏi bệnh thông thường và một số bệnh hiểm nghèo. Những tác động tích cực đó thật quý báu, gồm 4 lĩnh vực chính:

1. Tác động của nhà ngoại cảm.
2. Tác động của môi trường Địa Linh.
3. Tác động của luyện tập dưỡng sinh.
4. Ăn uống dinh dưỡng hợp lý.

Trong 15 năm làm các đề tài nghiên cứu về tác động các lĩnh vực trên, chúng tôi thấy rằng: Có một số ca bệnh nan y hiểm hóc nhất, đã được chữa khỏi một cách suất sắc, đơn giản, không tốn kém, lại ít đau đớn, nhờ tác động của môi trường Địa linh, của nhà ngoại cảm, và luyện tập dưỡng sinh. Bệnh bình thường thì có nhiều cách chữa khỏi, có thể luyện tập hoặc bác sĩ kê đơn cho uống thuốc là khỏi bệnh. Riêng bệnh nan y còn nhiều liên quan Nhân quả, nghiệp lực, bệnh do vong âm …rất khó cứu chữa bằng thuốc, hầu như không thể chữa được. Những người có khả năng đặc biệt có thể tìm ra nguyên nhân và cách chữa trị, nếu đạt được tỷ lệ 30% khỏi bệnh nan y là quý lắm. Vì ở bệnh viện với phương tiện hùng hậu, có những bệnh như ung thư di căn, ung thư máu, chỉ đạt được tỷ lệ 1-5%, người ta vẫn theo đuổi chữa trị. Mỗi năm có 75.000 ca bệnh ung thư bị tử vong, hiện nay ung thư còn xuất hiện ở trẻ em và thanh niên, và tiếp tục nhiều chứng bệnh lạ, dịch bệnh mà khoa học không tìm ra nguyên nhân. Nhu cầu cấp thiết về khả năng chữa bệnh phi truyền thống, của nhà ngoại cảm, của môi trường địa linh, của luyện tập dưỡng sinh là rất cần thiết. Các nhà ngoại cảm giỏi có thể tìm ra nguyên nhân bệnh dịch lạ, tư vấn phòng ngừa…Trung tâm NCTNCN luôn bên cạnh sát cánh hợp tác với các nhà ngoại cảm, với những công trình nghiên cứu suốt 15 năm qua. Trong buổi giao lưu mạn đàm này, chúng tôi thấy cần thảo luận vấn đề: Làm thế nào giữ gìn phát triển khả năng ngoại cảm ?

Những người có khả năng ngoại cảm, từ thiên bẩm trời cho, không do mong muốn mà có. Gọi là khả năng đặc biệt, vì những người bình thường không thể làm được như vậy, một người có thể cứu được hàng ngàn người. Hơn nữa giá trị nhân đạo cao cả ở những trường hợp mất hết hy vọng, không còn cách nào giải quyết sự bế tắc khổ đau của người bệnh, của một gia đình, hoặc một chi họ. Khi đó với khả năng đặc biệt, nhà ngoại cảm có thể tìm ra nguyên nhân bí ẩn mà máy móc không thể tìm ra, và giúp đỡ giải quyết được thành công, đem lại niềm vui hạnh phúc tai qua nạn khỏi, đem lại sự bình yên cho nhiều gia đình. Sự đóng góp âm thầm của các nhà ngoại cảm góp phần quý báu cho an sinh xã hội. Vì vậy khả năng ngoại cảm cũng là một tài nguyên nguyên khí của đất nước, cần được chăm sóc và sử dụng đúng người đúng việc. Sở dĩ trong xã hội còn nhiều lời đồn đại không lành mạnh về các nhà ngoại cảm, vì rất nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân từ những kết quả không thành công, rồi phủ nhận vai trò nhà ngoại cảm, hầu như tất cả các nhà ngoại cảm đều phải chịu đựng sự o bế tinh thần. Người có khả năng vững vàng sẽ vượt qua những thử thách khắc nghiệt này. Vì vậy để giữ gìn phát triển khả năng ngoại cảm, trước hết cần sáng tỏ nguồn gốc khả năng ngoại cảm, để giữ gìn phát triển khả năng ngoại cảm.

Từ xa xưa nền văn hóa Phương Đông đã nói đến một phương tiện tinh hoa nhất vũ trụ, đó là năng lượng Prana. Chúng tôi lược trích tư liệu “Prana kỳ diệu với yoga: Thăng hoa và siêu phàm của nhân loại”: “Khi ta đã điều khiển được Prana, thì chẳng những ta có thể chế ngự các bệnh tật và đau đớn nơi ta, mà còn cho cả người khác nữa. Ai làm chủ được Prana, chế ngự được Prana, sẽ làm chủ được, chế ngự được thân xác và tinh thần của mình, cũng như của người khác, bởi vì Prana là sự thị hiện khái quát hóa của năng lượng...Những người chữa bệnh bằng đức tin (faith-healer), bằng tinh thần (mind-healer), những người thôi miên, các nhà thông thiên học, dự báo, điều động từ xa (télékinésie), khoa học Cơ đốc, các pháp sư, phù thủy, thày mo… đều chỉ là những người tình cờ khám phá ra Prana và sử dụng nó mà không rõ”. (Alnamach - Những nền văn minh thế giới. NXB VHTT. 1998).

Văn hóa Phương Đông phát hiện Prana là Năng lượng gốc khởi thủy đầu tiên tạo nên vũ trụ, có bản chất là năng lượng sạch nhất. Prana là chất liệu tạo nên hoạt động TINH THẦN và mọi sự VẬN ĐỘNG. “Tất cả các lực tinh thần hay vật lý đều chung một bản thể là Prana. Không thể nhận biết Prana trực tiếp vì nó rất vi tế, ta chỉ nhận biết được Prana một cách gián tiếp qua sự thị hiện của nó dưới mọi dạng năng lượng...”. Như vậy sức khỏe và tinh thần mỗi người, do tình trạng năng lượng Prana quyết định. Hết năng lượng Prana thì không còn suy nghĩ và cử động được, tức là sự chết. Nhà ngoại cảm được vũ trụ ban cho kênh dẫn Năng lượng Prana, để hỗ trợ giải quyết những trường hợp rất khó khăn bế tắc. Những trường hợp thông thường thì chúng ta nên tự lực giải quyết giải tỏa nghiệp lực của mình bằng sự phấn đấu tu rèn, luyện tập dưỡng sinh …

Đối với khoa học, nền Vật lý hiện đại với rất nhiều phương tiện tinh xảo không thể tìm được bóng dáng Prana, khoa học không biết cách sử dụng Prana. Nhưng văn hóa Phương Đông có lịch sử trên 5000 năm sử dụng năng lượng gốc Prana. Yoga Ấn độ có nhiều phương pháp tiếp cận, chế ngự Prana trong cơ thể, gọi chung là Pranayama.

Nhà ngoại cảm được Thiên phú rót năng lượng Prana, không cần luyện tập, được thụ nhận qua những kênh dẫn khác nhau, có năng lực khác nhau, do các vị thánh nhân hoặc linh hồn linh thiêng của người thân hỗ trợ. Khi được rót năng lượng Prana, phần lớn sẽ có sự thanh lọc xả hết uế trược trong sạch cơ thể, trong sạch hệ thần kinh. Lúc này có biểu hiện ốm đau thập tử nhất sinh, hoặc bệnh thần kinh, hoặc có chấn thương thức tỉnh Kundalini… Đây là lúc các chất ô nhiễm cấu uế được thải ra gấp rút, làm người đó khó chịu, ốm nặng, sau đó khỏe và nhận thông tin riêng, được Người vô hình kèm cặp hướng dẫn. Bắt đầu thời kỳ của nhà ngoại cảm. Nếu mất cầu nối năng lượng quý báu này, sẽ hết khả năng ngoại cảm.

Như vậy để giữ gìn khả năng ngoại cảm cần phải duy trì cầu nối do thiên phú thiết lập. Vấn đề cơ thể sạch rất quan trọng, ngay từ giờ phút đầu tiên, thiên phú đã bí mật quét dọn cơ thể người đó sạch sẽ ô trược. Nhà ngoại cảm cần duy trì cơ thể trong sạch. Trong quá trình tiếp xúc tác nghiệp, nhà ngoại cảm đã lãnh nhận nghiệp lực, ô trược của nhiều người. Song các nhà ngoại cảm không bị ảnh hưởng, vì được bề trên hướng dẫn, độ trì cách hóa giải trược khí, với nhiều cách giải trược mỗi người khác nhau. Nếu nhà ngoại cảm thực hiện tốt khâu này khả năng ngoại cảm rất bền vững.

Ví dụ: Nhà ngoại cảm Nguyễn Thị Nghi, làm việc không mệt mỏi trên 20 năm, vẫn giữ vững khả năng ngoại cảm suất sắc. Đó là một kỷ lục rất quý báu. Mỗi buổi tìm mộ, hoặc chữa bệnh, cô bị nhiễm âm khí, rất mệt mỏi, và đau theo người bệnh. Cô Nghi đã giải trược bằng lòng trắng trứng và đồng bạc trắng. Mỗi buổi làm việc cô thường có một người phụ việc liên tục xoa lòng trắng trứng và đồng bạc trắng để giải âm khí, mỗi buổi dùng hết 1 chục quả trứng. Nhà ngoại cảm Lệ Trinh ( Hưng Yên ), khi đặt tay chữa những ca bệnh nặng, trược khí làm cánh tay đau cứng không cử động được, cô ngừng chữa và hướng tay về phía mặt trời, xin mẹ Quan âm hóa giải, trong 3 phút cánh tay mềm lại bình thường, cô tiếp tục chữa bệnh…

Cùng với thân sạch, phải có Tâm sạch, không toan tính ích kỷ, không tham lam, không nóng giận, không nói dối, làm việc với tình thương cao cả. Khi đó Tâm nhà ngoại cảm phù hợp với ý nguyện của bậc thánh nhân độ trì, cùng đồng thuận thì khả năng ngọai cảm bền vững dài lâu. Nếu cơ thể bị tích lũy ô trược nặng nề theo năm tháng, khả năng ngoại cảm duy trì trong 7-10 năm có thể hết năng lượng thiên phú, trở thành người bình thường.

Rất ít người biết sự tích luỹ của ô trược, vì sự dấu mặt bí hiểm của nó trong vô thức khó cảm nhận được, không biết phòng tránh. Chúng tôi đã xuất bản cuốn sách “Sức mạnh Vô thức” đề cập sự vận hành bí ẩn của ô trược, và cách sử lý ô trược.

Tùy tình trạng cơ thể, khi luyện tập vô thức có 3 mức diễn biến

- Người trẻ tuổi, không có bệnh tật, người đã tu thanh tịnh lâu ngày, ít nhiễm trược thì ít hiệu ứng sổ trược, có chuyển biến ngay từ tuần tập đầu tiên ngừơi sảng khoái, khỏe mạnh dễ chịu, nhanh chóng khai mở Hà Đào Thành và phát triển tâm linh.
- Tư tưởng chi phối nhiều phương pháp, thiếu tin tưởng, tập uể oải không đều đặn hàng ngày thì hiệu quả kém, không sổ trược, hoặc không thải hết trược khí. Trường hợp này chúng tôi thông báo không được tập vô thức.
- Người bệnh lâu năm, bệnh nan y, cơ thể bị nhiễm trược, tùy theo bệnh, tùy công phu tu tập, tùy theo nghiệp lực nhân quả, mỗi người có hiệu ứng xả trược riêng, khác nhau không kể hết. Những ngày đầu trược khí ( và độc tố ) bắt đầu bung thoát, cảm thấy bức xúc khó chịu, mệt mỏi, đổ mồ hôi rất nhiều, mùi hôi khẳm, da nổi mẩn ngứa, da nhớt dính, râm ran, rung nháy, nóng, tóc rung nháy, chảy nước mắt… Mỗi người còn có những triệu chứng khác nhau ( tiểu tiện, đại tiện nhiều chất lỏng, ho khạc...) Vùng nào có bệnh thì mẩn ngứa nhiều hơn, khoảng 1-2 tuần, sẽ hết ngứa.. Nơi bế tắc ( ở kinh mạch, huyệt đạo, nơi có u chèn ép, nơi ổ bệnh...) sẽ rung nháy giật, cho đến khi khai thông xong ắch tắc, hết rung nháy.

Khi đào thải hết ô nhiễm, sẽ lưu thông toàn bộ kinh mạch huyệt đạo, do đó hấp thụ Prana mạnh mẽ, bệnh sẽ khỏi. Người được khai mở Hà Đào Thành, sẽ thay đổi diện mạo mới, tươi trẻ lại, đạt được Trường thọ, siêu thoát.

Bài luyện tập vô thức thành công nhiều nhất với những người có tinh thần Phật giáo. Khi tâm đã giác ngộ vấn đề luyện tập giải trược, Hà Đào Thành sẽ nhanh chóng khai mở dễ dàng. Vì vậy cần tích cực học hỏi kiến thức giác ngộ cái Tâm của mình.

Đức Phật là vị giáo chủ duy nhất trên thế giới tìm ra nguyên nhân khổ đau bệnh tật do sự vận hành của 5 loại ô trược ( ngũ trược ) . “Bụt Thích Ca Mâu Ni thật là hiếm có. Ngay trong cõi Ta bà đầy dẫy năm yếu tố ô nhiễm là: Kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sinh trược và mạng trược mà ngài có thể chứng đắc được quả vị giác ngộ vô thượng và còn tuyên thuyết được cho chúng sinh… Thầy nên hiểu cho rằng cư trú trong thế giới đầy năm loại ô nhiễm này mà đạt tới được quả vị vô thượng và còn diễn giải được cho mọi giới những pháp môn rất khó tin như pháp môn này, đó quả là việc cực kỳ khó khăn”… (trích: Kinh ADi Đà). Mục đích của Đạo Phật là đạt tới Tự do Hạnh phúc làm chủ số phận, nhờ giải thoát hết ngũ trược.

Ngày nay, khoa học bắt đầu phát hiện năng lượng tiêu cực (ô trược) qua sự nghiên cứu của một số viện hàn lâm khoa học: “Y học rung (Hoa kỳ) - Y học đa chiều (Nga) - đã tìm đến nguyên nhân sâu xa của bệnh tật, “mầm bệnh” gọi theo danh từ Vật lý là “Thông tin tiêu cực” từ bên ngoài nhập vào cơ thể hoặc “tự sinh” từ bên trong cơ thể. Chúng có cấu trúc trường xoắn, dạng sóng đứng lập thể (Soliton). Năm 1993, viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Nga V.S Kaznaxcep bằng thực nghiệm đã chứng minh sự hiện hữu của Soliton trong không gian nucleo-protein của tế bào sống. Chúng có khả năng di chuyển bên trong cơ thể và ra khỏi cơ thể…Trong xã hội loài người các “Thông tin tiêu cực” xuất phát từ chính con ng­ười thông qua cách đối xử, t­ư duy, phong tục, thương tr­ường cạnh tranh, đồng tiền, từng giây phút tác động đến con ngư­ời. (GS.TSKH. Đoàn Xuân Mượu. Báo Khoa học & Đời sống 4/2005.)

Các nhà ngoại cảm gánh vác công việc rất khó khăn, giải nghiệp oán, trược khí cho người bệnh, bản thân các nhà ngọai cảm phải hy sinh cực khổ chứ không đơn giản như mọi người tưởng. Các nhà ngoại cảm có thể ốm đau và mất dần khả năng ngoại cảm khi tích luỹ quá nhiều trược khí. Vì vậy các nhà ngoại cảm đều được bảo trợ tâm linh xả trược (đánh gió, đánh trứng, luyện phép…) mới đảm bảo sức khoẻ tiếp tục công việc. Người không có sự bảo trợ tâm linh hóa giải ô trược, mà giả danh hoặc bắt chước công việc của nhà ngoại cảm thì đương nhiên người đó không có sự an toàn, còn tác hại cho nhiều người khác. Cũng có trường hợp ma tà bất chính mạo danh nhà ngoại cảm, chúng đọc được ý nghĩ người khác, có chút tài năng chinh phục lấy lòng tin, nhưng sẽ bộc lộ đặc tính lươn lẹo dối trá, hay tham tiền, mê gái, hay dụ dỗ, bắt ép, có thủ đoạn dọa nạt người yếu… Vì vậy gìn giữ Thân và Tâm sạch, là một yếu tố quan trọng giúp duy trì và phát triển bền vững khả năng ngoại cảm, tình trạng sức khỏe, tâm linh và tuổi thọ mỗi người.
Phương pháp luyện tập dưỡng sinh, ăn uống hợp lý, còn nhiều vấn đề cần thảo luận kỹ lưỡng vào một buổi khác.

Môi trường Địa linh là môi trường giàu có năng lượng Prana, có tác động trực tiếp với sức khỏe và tinh thần. Tại khu vườn Long An, chúng tôi đã thu thập những kết quả khỏi bệnh vượt quá khả năng chữa trị của y học. Đi vào khu vực đó, dù không uống thuốc hay bất cứ một thao tác chữa trị nào, nhiều người đã khỏi những căn bệnh rất hiểm nghèo, nhiều loại bệnh như : Liệt, câm, ung thư, tim mạch, thần kinh, điên, trầm cảm… (báo cáo trong đề tài khác). Tỷ lệ khỏi bệnh tương đối cao, nhưng không có tỷ lệ khỏi bệnh 100%. Do chi phối Nhân quả nghiệp lực, người đó còn phải phấn đấu tu rèn hơn nữa, mới được hấp thụ Prana.

Môi trường Địa linh đã giúp chúng tôi cơ hội đặc biệt quý giá, quan sát khách quan nhất quá trình khỏi bệnh bằng Năng lượng Prana, các diễn biến quá trình Tự điều chỉnh của cơ thể: Chuyển biến đầu tiên là thanh lọc ô trược. Người có bệnh bình thường khó nhận ra quá trình thanh lọc, chỉ một số trường bệnh rất nặng, khi tới vườn có những chuyển biến đau tăng, ốm nặng, sốt cao, được xả trược qua lỗ chân lông, da, tóc, đường đại tiểu tiện, ho, khạc đờm, nôn keo nhớt… Có trường hợp ung thư máu, ung thư di căn đã bong tróc tất cả lớp da, rụng hết tóc (không do chiếu tia xạ), rồi mọc lại lớp da trắng hồng hơn, tóc đen mượt. Có trường hợp u sơ rải rác não nghi sán não, đã thải sán nhỏ như đầu kim qua đại tiện. Những trường hợp xả trược triệt để, đã được phục hồi sức khỏe tốt hơn trước khi có bệnh.

VẤN ĐỀ ĐỐT VÀNG MÃ


Nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải

Nếu vấn đề hỏa táng (hay địa táng) được xã hội đặt ra do sự bức xúc việc thiếu đất để chôn người chết, trái lại việc đốt vàng mã không phải là do áp lực của điều kiện xã hội, mà là do phong tục tập quán tín ngưỡng. Tất nhiên việc đốt vàng mã cũng đẻ ra những vấn đề liên quan đến môi trường và kinh tế, nhưng việc đốt vàng mã có thể xảy ra hỏa hoạn, hoặc việc đốt vàng mã đẻ ra sự lãng phí về vấn đề giấy, nhưng đó không phải là vấn đề quá bức xúc để phải đặt ra việc thay đổi tập quán đốt vàng mã. Nếu phải giải quyết vấn đề phá bỏ một tập tục được coi là “vô lý”, phải có một chứng minh khách quan là việc đốt vàng mã không mang lại một hiệu quả tâm linh nào. Đó chính là vấn đề mà ta phải giải quyết trong đề tài nghiên cứu “Thực chất của việc đốt vàng mã”.

1. Hiện tượng đốt vàng mã

Cho đến nay vấn đề đốt vàng mã được coi là một phong tục tập quán xã hội, người ta rất e dè trong việc ủng hộ hay phê phán hiện tượng này, vì đốt vàng mã là gửi những món quà cho những người đã mất. Có ý kiến nói rằng, thông qua những “cô đồng” một số người đã chết cho biết họ có nhu cầu người sống gửi cho họ một số vận dụng. Cũng qua những cô đồng, ý kiến phản hồi cho biết người chết đã nhận được những quà tặng được gửi (mà cô đồng không biết nội dung các thứ đã gửi). Một số khác cho rằng người chết không nhận được những món quà này, mà đó chỉ là một hình thức để thể hiện tâm nguyện của người sống tưởng nhớ đến người chết, và việc đốt vàng mã gửi những quà tặng chỉ có hiệu ứng tâm lý đối với người đã sống đã thực hiện một số vấn đề để thể hiện trách nhiệm đối với người chết.

Ngay trong nghị định của Chính phủ chỉ nói là “cấm đốt vàng mã ở nơi công cộng” chứ không nói là cấm đốt vàng mã nói chung, bởi nếu như vậy sẽ vấp phải sự phản ứng rất mạnh của quần chúng. Thế nhưng việc đốt vàng mã, với hình thức của nó choa ta thấy một biểu hiện rất rõ của cái mà người ta cho là “mê tín dị đoan”. Chẳng hạn, người chết ngày xưa làm sao biết đồng đô la mà gửi đô la cho các cụ tiêu ( ! ? ), nếu không kể đến những ngựa, voi bằng giấy to tướng, cồng kềnh, những “hình nhân thế mạng” đem đốt cho người chết. Ngày nay người ta còn làm những đồ vàng mã đắt tiền như gửi cả ô tô, xe máy, ti vi, tủ lạnh, thậm chí cả những ngôi nhà và biệt thự cho người âm. Ở các đền chùa để phục vụ cho việc đốt vàng mã, người ta phải làm riêng những “lò” cho người đi lễ đốt vàng mã. Số tiền để tiêu tốn cho việc đốt vàng mã cũng không phải là ít. Để bảo vệ cho phong tục đốt vàng mã người ta viện dẫn là các nước có điều kiện đời sống kinh tế cao hơn ta như Hàn Quốc, Hồng Kông vẫn duy trì việc đốt vàng mã, lại còn đặt nhiều cơ sở nước ta in “tiền âm phủ” cho họ

Như vậy, để trả lời cho câu hỏi việc đốt vàng mã có tác dụng gì đối với người âm hay không? Không thể viện dẫn vì lý do dễ gây hỏa hoạn, lãng phí, vì trong xã hội gần như chưa có vụ hỏa hoạn nào xảy ra do đốt vàng mã, và còn quá nhiều cái lãng phí để đòi hỏi cấm đốt vàng mã để chống lãng phí. Cũng không thể viện dẫn giáo lý nhà Phật không có đoạn nào dạy phải đốt vàng mã, vì theo Phật Giáo cũng tuyên bố là đạo Phật không tin là có linh hồn, trong khi việc tìm mộ liệt sĩ đã khẳng định điều này. Bởi thế, vấn đề đặt ra trong đề tài nghiên cứu này là tìm hiểu xem thực chất của việc đốt vàng mã là như thế nào? Đốt vàng mã có tác dụng gì hay không đối với người chết?. Tức là nghiên cứu cơ sở khoa học của vấn đề, sau đó mới bàn đến vấn đề xã hội của nó.

2. Phong tục đốt vàng mã ra đời như thế nào? 

Những người phản đối vấn đề đốt vàng mã có thể tìm thấy lý lẽ vững chắc bởi sự kiện là các nước Phương Tây không có tục đốt vàng mã. Như vậy phải chăng tổ tiên họ, những người đã mất sẽ luôn bị thiếu thốn vì không có ai gửi quà cho họ. Những người theo Thiên chúa giáo cũng như Hồi giáo, đều không có tục đốt vàng mã. Thời thượng cổ, ngay trong những quan niệm thần bí người ta cũng chỉ gửi cho người chết một số đồ “tùy táng”, tức là những vật dụng mà khi người chết còn đang sống vẫn thường sử dụng với ý nghĩ là khi họ chết là có những đồ đó theo mình. Với những nhà quyền quý và các vua chúa, những đồ tùy táng thì không kể hết được. Khảo cố học cho biết ngôi mộ của Tần Thủy Hoàng có rất nhiều tượng và đất nung, các giáp binh, và ngựa chiến để cho vị Hoàng đế này sử dụng ở thế giới bên kia. Một số phong tục còn tàn ác hơn, người ta bắt một số cung nữ “tuẫn táng”, tức là bị bức chết theo nhà vua để phục vụ nhà vua dưới âm phủ. Một số nhà quan thì gửi chuông khánh, và ngọc chôn theo người chết, v.v… Những vật báu gửi theo này chính là nguồn gốc để cho những kẻ phá mộ cổ để tìm vật báu. Thời xưa người ta chưa có giấy, chữ viết được viết trên đất sét rồi đem nung, hoặc viết trên tre, viết trên lụa, viết trên da của các động vật. Người phát minh ra giấy là Thái Luân trong thế kỷ đầu của Công nguyên, thời nhà Hán mới có người phát minh ra giấy. Như vậy không thể có tục đốt vàng mã từ thời thượng cổ.

Theo một vài nghiên cứu về đốt vàng mã ra đời từ Trung Quốc, bắt đầu từ việc làm hình nhân thế mạng để chuộc mệnh cho người sống. Tiếp đó là việc bắt chước việc gửi đồ tùy táng cho người chết, mà thứ dân không có điều kiện gửi các đồ thật, phải làm các đồ mã để thay thế. Từ đó ý tưởng gửi cho người chết những thứ mà họ cần dùng được mở rộng cho các vận dụng của thời hiện đại như ta đã thấy, không chỉ có voi, ngựa, hình nhân, mà cả ôt tô, ti vi, điện thoại di động, v.v…
Sự ra đời của phố Hàng Mã trước đây ở Hà Nội, và hiện trạng các thứ đồ mã đang được bày bán là minh họa cụ thể cho hiện tượng trên.

Theo thống kê của Bộ Văn hóa – Thông tin, với số liệu chưa được đầy đủ, hàng năm đã có hơn 40 ngàn tấn vàng mã được đốt, và riêng cả Hà Nội đã có khoảng 400 tỉ đồng chi cho việc đốt vàng mã.

3. Nghiên cứu thực chất của việc đốt vàng mã

Như trên đã nói, việc đốt vàng mã mặc dù là một phong tục tập quán nhưng đã củng cố của một vài hiện tượng tâm linh. Qua việc gọi hồn người chết có nhu cầu con cháu họ gửi cho họ một vài thứ. Khi một vài thứ đó được gửi dưới dạng vàng mã thì người âm cho biết người chết có nhận được, và gia đình được yên ổn. Một vài hiện tượng như lễ tạ bằng hình nhân: voi, ngựa được cho biết là cũng có tác dụng tương tự. Tuy nhiên, một vài nhà ngoại cảm cho biết là họ có thể chữa bệnh cho người âm chỉ bằng tư tưởng của họ. Người sống có thể gửi cho người chết những cái họ cần chỉ bằng những đồ bằng giấy cắt theo hình dạng các vật dụng ấy với tấm lòng thành đem đốt đi là được. Nói chung, một số nhà ngoại cảm cho rằng việc đốt vàng mã không phải là việc gửi các đồ mã cho người chết mà có tác dụng, mà là gửi tấm lòng của người sống đối với người chết thông qua một vài đồ mã. Khi người sống có những ý niệm chân thành mua, sắm những vật dụng đồ mã đó thì những đồ mã này đã là những “giá thể” tiếp nhận những thông tin từ não bộ của họ. Cũng vậy, việc làm sớ nếu gia chủ chân thành gửi lòng mong muốn, cầu xin những điều gì cho người đã khuất, những ý niệm ấy được thể hiện bằng những thông tin ghi vào tờ sớ. Khi đốt những đồ mã ấy, đốt những tờ sớ ấy những thông điệp tinh thần ấy được giải phóng và gửi tới thế giới bên kia.
Chính cũng vì chủ trương cái tâm là chính nên nhân dân ta cũng đã quan niệm:
“Tâm thành thắp một nén hương cũng là”

Tuy nhiên tất cả những điều nói trên mới chỉ là những quan niệm, những giả thuyết. Để giải quyết vấn đề này có cơ sở khoa học, chúng ta phải thông qua những người có khả năng đặc biệt dùng phương pháp áp vong, hoặc gọi hồn để có được những thông tin về những người đó.

a) Thực nghiệm trên một số gia đình với đề nghị cầu xin chân thành là giúp cho khoa học tâm linh được hiểu biết, những người này đốt một số vàng mã cho người chết. Sau đó gọi hồn hoặc áp vong xem người chết có nhận được những thứ họ gửi không. “Cô đồng” hoặc người áp vong không biết về những thứ vàng mã đã gửi. Trên một số đối tượng khác nhau, với một số lượng thống kê đủ tin cậy ta sẽ có một số thông tin tham khảo.

b) Gọi hồn, áp vong để hỏi nhu cầu của người chết, không đốt vàng mã thông thường, mà đốt những thứ vật dụng bằng giấy tự chết tạo dưới dạng hình vẽ những vật dụng đó (như một số ý kiến một số nhà ngoại cảm đã nêu).

c) Áp vong một số người theo tôn giáo khác như đạo Thiên Chúa, đạo Cao Đài, v.v… xem ý kiến của họ về thế giới bên kia như thế nào.

d) Một số hình thức tương tự khác để trắc nghiệm.

4. Cơ quan nghiên cứu và phối hợp

Trung tâm Nghiên cứu tiềm năng con người là đơn vị chính thực hiện đề tài để có thể huy động những người có khả năng đặc biệt. Phòng trắc nghiệm các bộ môn, và các đơn vị chủ lực tham gia đề tài nghiên cứu.

Trung tâm phối hợp với các cơ quan khác như: Viện nghiên cứu Tôn giáo, Hội Phật giáo Việt Nam, và trước hết là Sở Văn hóa - Thông tin của UBND Thành phố Hà Nội để thực hiện những bước nghiên cứu đầu tiên, và có kinh phí nghiên cứu.

Saturday, December 10, 2011

VÀI NÉT VỀ VIỆC NGHIÊN CỨU NHỮNG KHẢ NĂNG ĐẶC BIỆT CỦA CON NGƯỜI TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC

Nguyễn Phúc Giác Hải
Chủ nhiệm Bộ môn Thông tin Dự báo
I. KHOA HỌC THẾ GIỚI THƯỚC NHỮNG KHẢ NĂNG ĐẶC BIỆT CỦA CON NGƯỜI
Như chúng ta đã biết, ngày nay con người với những phát trtiển vượt bậc về mặt trí tuệ đã có những phát minh lớn lao, đi sâu vào những bí ẩn của cấu trúc vật chất, của thế giới vi mô, khai thác và sử dụng những năng lượng của nguyên tử và hạt nhân, phát triển những máy móc vô cùng tối tân phục vụ cho khoa học và đời sống con người. Mặt khác khoa học và kỹ thuật cũng đã giúp ta tìm hiểu thế giới vĩ mô, đưa những con tàu vũ trụ lên Mặt Trăng, Sao Hoả, Sao Kim, khám phá các hành tinh trong hệ Mặt Trời và tìm ra cội nguồn của sự hình thành vũ trụ.
Mặc dù vậy, đối với chính bộ não của con người, khoa học còn biết rất ít.
Con người nhận thức thế giới thông qua 5 giác quan. Thế nhưng thực tiễn cho thấy có rất nhiều người có khả năng đặc biệt cho phép nhận thức thế giới không chỉ bằng các giác quan thông thường mà còn qua các kênh thông tin đặc biệt được gọi là ngoại giác quan(Extra Sensory Perception gọi tắt là ESP).
Đó là những con người, có khả năng :
- Nhận biết ý nghĩ của người khác thông qua quan sát bằng lời nói, cử chỉ hoặc nét mặt. Ta gọi là khả năng “thần giao cách cảm” (Telepathy)
- Lại có những cơ thể điều khiển được hành động của người khác hoặc làm chuyển động một số đồ vật chỉ bằng ý nghĩ. Khả năng này được gọi là tâm lý vận động (Psycho kinesis)
- Lại có những người có những năng lực tiềm tàng có thể phát ra để chữa bệnh cho những người khác. Người ta chưa rõ loại năng lượng này là gì nên đã có nhiều thuật ngữ khác nhau để chỉ:
Năng lượng sinh học (Bioenergy)
Năng lượng tâm thần (Psychotronik)
hoặc từ lực sinh học (Biomagnetism)
- Lại có người có thể nhìn thấy các hình ảnh từ xa, gọi là thấu thị (clear voyance)
- Có những người có thể giao tiếp với những người đã khuất mà cả phương Tây lẫn phương Đông gọi là những người đồng (Medium)
- Có những người nhìn lại được quá khứ cũng như thấy trước tương lai.v.v.
- Từ nhiều thế kỷ, xã hội đã ghi nhận có những con người như vậy và từ.. thế kỷ 19 đã có những tổ chức khoa học ra đời để nghiên cứu những hiện tượng này xin kể ra một số tổ chức như vậy trên thế giới
Những hiện tượng như trên đã gây tranh cãi trong giới khoa học. Nhiều nhà khoa học vì không thể cắt nghĩa được những hiện tượng đó, coi đó là một điều mê tín dị đoan. Người ta không thể chấp nhận được việc một người có thể chữa bệnh cho người khác chỉ bằng cách đặt tay lên họ. Người ta cũng không tin có linh hồn để các, medium có thể giao hưởng với họ.
Thế nhưng càng ngày càng có nhiều tổ chức ra đời để nghiên cứu những vấn đề như vậy nhất là những khả năng thấu thị và điều khiển từ xa đã được giới quân sự và tình báo coi là những phương tiện đặc biệt liên quan đến quốc phòng và an ninh quốc gia.
Năm 1971, khi con tàu vũ trụ Apolo 14 bay lên Mặt Trăng, phi hành gia vũ trụ Mỹ là Edgar Mitchell đã làm  thử nghiệm thành công truyền ý nghĩ về Trái Đất. Người ta cũng không chính thức về thí nghiệm truyền ý nghĩ từ tầu ngầm nguyên tử Nautilus của Mỹ về đất liền qua người và động vật. Các thí nghiệm đó nhằm tìm hiểu bản chất của các sóng tư duy của thần giao cách cảm đã vượt được sự hấp thu các lớp nước biển sâu, điều không thể thực hiện bằng sóng vô tuyến. Ngoài việc tìm hiểu khoa học, đó còn là vũ khí quốc phòng. Chính vì thế mà nhiều tài liệu cho thấy cả Mỹ và Liên Xô đã chi rất nhiều tiền cho việc nghiên cứu các loại hiện tượng này.  Trên nhiều tờ báo của ta đã hé lộ các dự án của Mỹ và Liên xô muốn sử dụng năng lượng tinh thần để làm lệch các hướng bay của máy bay và tên lửa của đối phương
Tất cả những điều đó cho thấy việc nghiên cứu những khả năng đặc biệt của con người có tầm quan trọng lớn lao biết chừng nào.
Năm 1973, tại Praha (Tiệp Khắc) có Hội nghị quốc tế về Năng lượng tinh thần, gọi là PSYCHOTRONIK,tập hợp hơn 200 nhà khoa học của hơn 20 nước trên thế giới, trong đó có nhiều nhà ngoại cảm biểu diễn tại chỗ về những khả năng đặc biệt của con người.
Mười năm sau, 1983, tại BRATISLAVA, cũng ở Tiệp Khắc lại tổ chức Hội nghị Quốc tế về Năng lượng tinh thần (lần 2) trong hội nghị này Liên Xô đã giới thiệu các nghiên cứu về ngoại cảm ở nước mình.
Ở đây ta cần phân biệt hai loại hiện tượng: ngoại cảm và tâm linh
1. Hiện tượng ngoại cảm (EXTRA Sensory Phenomenon): Là những hiện tượng quan sát tự nhiên không bằng những giác quan thông thường. Khả năng này thuộc về nhà ngoại cảm. Thí dụ: Ở Liên Xô cũ có thanh niên Tôfich Đađasep có khả năng nhận biết ý nghĩ của người khác và điều khiển hành động của người khác (Tenika I Nauka, 7-1973). Hai mươi năm sau Tôfich Đađasep dùng khả năng của mình làm ảnh hưởng tinh thần của đối phương trong cuộc đấu cờ quốc tế giữa Karpop và Kasparop giúp cho Kasparop thắng. Sự kiện này được báo chí Liên Xô đưa tin. Như vậy khả năng này thuộc về nhà ngoại cảm.
Nhà ngoại cảm Uri Geller (người Do Thái) biểu diễn ở viện Stanford (Mỹ) dùng ý nghĩ làm cong thìa dĩa và dùng năng lượng tinh thần làm ngưng các máy tính. Sau này, anh còn làm ngừng chạy chiếc đồng hồ Big Ben của Anh ở Luân Đôn. Khi biểu diễn trên truyền hình BBC, ý nghĩ của anh còn gây cộng hưởng ở những khán giả và những người này cũng làm cong được thìa dĩa trong một thời gian.
Hàng loạt các nhà ngoại cảm khác nổi tiếng trên thế giới như Juna Đavitatxvili (người Georgie) được gọi là nhà phù thuỷ chữa bệnh và được cấp bằng tiến sĩ danh dự. Nhà nữ ngoại cảm này còn biểu diễn làm cho hoa héo tươi lại, và nhiều khả năng khác.
Nhà nữ ngoại cảm Vanga ở Bungari có khả năng dự báo tương lai cho rất nhiều người mà truyền hình VTV2 vừa giới thiệu phim tài liệu về bà.
Nhà ngoại cảm nữ Jean Dixon cũng đã dự báo tương lai cho nhiều chính khách trong đó có tổng thống Nikson và nhiều người khác…
Những nhà ngoại cảm này không viện đến thế giới tâm linh.
Cũng vậy ở Việt Nam chị Hoàng Thị Thiêm, người có con mắt thứ ba, bịt mắt đọc sách báo, đi xe máy trên đường đồi, v.v…Một số người đặc biệt có khả năng hút các vật bằng sứ, thuỷ tinh…Những khả năng này cũng vẫn thuộc về nhà ngoại cảm.
2. Hiện tượng tâm linh (Psychical Phenomenon): Là những hiện tượng liên quan đến thế giới bên kia, tức thế giới mà người ta gọi là của những người đã mất hay của những linh hồn. Từ lâu trên thế giới đã quan tâm đến hiện tượng này. Nhà thiên văn học Pháp Camille flammarion từ những năm 30 của thế kỷ trước đã tập hợp sự kiện do nhiều người cung cấp để xuất bản thành ba bộ sách:
- Trước cái chết (Avant la mort)
- Trong khi chết (Pendant la mort)
- Sau khi chết (Apres la mort)
Bộ sách này là kinh điển để chứng minh con người tồn tại linh hồn sau khi chết. Trong những năm gần đây các nhà khoa học thế giới quan tâm đến hiện tượng cận tử (Near Death Experience), cho thấy những người khi thoát khỏi cái chết đã kể lại gặp những người ở thế giới bên kia và họ có biết chưa đến lượt anh nên họ lại quay về thân xác và sống lại.
Người ta cũng nghiên cứu hiện tượng xuất hồn (Out ò Body Experience) cho thấy những người sau khi xuất hồn có thể đi chu du thăm thú các nơi khác. Đặc biệt là họ có thể nhìn thấy thân xác họ khi đang bị giải phẫu lúc họ bị đánh thuốc mê. Họ đã kể lại những gì nhìn và nghe thấy khi giải phẫu mà người ta thấy là đúng. Mới đây các nhà khoa học của Univercity Colleg London đã thực hiện gây được hiện tượng xuất hồn. Hồn của đương sự chui vào cơ thể họ, khảo sát bệnh tật của chính họ giúp cho các nhà giải phẫu hiểu rõ nội dung bệnh tật.
Những sự kiện này liên quan đến thế giới bên kia và gọi là hiện tượng tâm linh.
Ở Việt Nam việc tìm mộ từ xa của các nhà ngoại cảm cho thấy họ tiếp cận với các vong hồn của các liệt sĩ và những vong hồn này báo cho biết mộ của họ nằm ở đâu. Các nhà ngoại cảm cũng đã ghi nhận được các trường hợp những người chết báo mộng cho người sống về nơi họ bị mất tích (Trung tâm Nghiên cứu tiềm năng con người- TTNCTNCN có rất nhiều tài liệu về điều này – Xem phụ lục).
II. HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NHÀ NGOẠI CẢM VIỆT NAM
Ở Việt Nam từ những năm 1974 đã có những nghiên cứu bước đầu về những khả năng đặc biệt này. Đó là việc chữa bệnh không dùng thuốc và từ xa của một nhà chữa bệnh Đại Yên, Hà Nội. Vì tác động từ xa có liên quan đến những vấn đề về quốc phòng và an ninh quốc gia, nên vấn đề này đã được báo cáo tại Bộ Công an Hà Nội.
Tuy nhiên do những hạn chế về cách nhìn lúc bấy giờ vấn đề này không được tiếp tục (xin xem “Những bước đi đầu tiên của khoa học ngoại cảm nước ta” do nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải trình bày, và cuốn “ Nhà văn hoá tâm linh Nguyễn đức Cần”, NXB Văn hoá Thông tin, 2010).
Cho đến những năm đầu của thập kỷ 90 Liên Xô phát chương trình chữa bệnh qua tivi của bác sĩ KASPIROPXKI, vấn đề nghiên sứu các khả năng đặc biệt của con người nước ta lại được hâm nóng. Đã ra đời một Ban vận động thành lập Hội nghiên cứu khoa học ngoại cảm ở nước ta do Giáo sư nhà giáo nhân dân Đào Văn Tiến Trưởng khoa Sinh Đại học tổng hợp làm trưởng ban rất đáng tiếc ông đã qua đời sớm nên cuộc vận động này chưa được tiếp tục. Năm 1993-1994 nhóm các nhà ngoại cảm do Đại tá Ngô Vi Thiện, Đại tá Hàn Thụy Vũ và KS Ngô Quang Bích cùng các nhà ngoại cảm đã tìm được hài cốt 13 liệt sĩ ở Ninh Bình (chùa Non Nước). Tiếp đó năm 1994 đã tìm được hài cốt của 5 liệt sĩ ở Đông Triều.
Điều này đã mở màn cho việc ra đời Trung tâm Nghiên cứu tiềm năng con người ngày 16/11/1996 như đã nêu ở trên.
Năm 1997 Bộ môn Cận tâm lý mới được thành lập tìm được 347 liệt sĩ đặc công hy sinh 1968 ở KonTum. Thành tích này đã được các cấp lãnh đạo của Đảng và Nhà nước chú ý. Chính vì thế mà ngày 5/3/1998, Trung tâm Nghiên cứu tiềm năng con người từ một đơn vị lệ thuộc đã trở thành một đơn vị nghiên cứu độc lập có con dấu riêng theo quyết định số 136/TC- LHH của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam và Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động khoa học và công nghệ  số 572 của Bộ Khoa học và Môi trường.
Từ những bước đi đầu tiên ra đời 16/11/1996 đến nay đã được 15 năm. Tổ chức của Trung tâm Nghiên cứu tiềm năng con người đã tập trung vào ba vấn đề lớn của những khả năng đặc biệt của con người:
1) Những người có khả năng thấu thị và giao tiếp với thế giới tâm linh, tập trung chủ yếu vào việc giao tiếp với người đã mất và tìm mộ các liệt sĩ do Bộ môn Cận tâm lý đảm nhiệm, thiếu tướng Nguyễn Chu Phác làm chủ nhiệm bộ môn.
Kết quả các nghiên cứu của Bộ môn Cận tâm lý đã được trình bày qua nhiều hội thảo và nhất là qua cuốn sách “Bước vào thế giới vô hình” của Bộ môn xuất bản năm 2010.
2) Việc chữa bệnh bằng năng lượng sinh học và các tác dụng khác của năng lượng sinh học do Bộ môn Năng lượng sinh học đảm nhiệm. Bộ môn này do GS TSKH Lê Xuân Tú nguyên Viện trưởng viện Công nghệ sinh học làm chủ nhiệm. Năm 2007 GS Lê Xuân Tú mất, bộ môn do PGSTS Bùi Hoàng Oanh tạm thời đảm nhiệm để chờ các đề cử mới
3) Lĩnh vực thứ ba là lĩnh vực thông tin dự báo. Để có thể tìm hiểu tình hình nghiên cứu trong lĩnh vực này ở trên thế giới và trong nước nhằm giúp cho việc định hướng nghiên cứu lĩnh vực này ở nước ta, đồng thời cũng quam tâm đến lĩnh vực dự báo tương lai, một lĩnh vực khoa học đầy bí ẩn, Bộ môn Thông tin Dự báo đã được thành lập và do nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải làm chủ nhiệm bộ môn.
15 năm qua TTNCTNCN đã được nhà nước giao thực hiện đề tài lớn: “Điều tra nghiên cứu những người Việt Nam có khả năng đặc biệt”. Đề tài lớn này được phân thành những đề tài nhánh cho các bộ môn. (Xin xem báo cáo của thư ký hội đồng khoa học về các đề tài do các bộ môn đã thực hiện).
Những nghiên cứu của Trung tâm đã được các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước đánh giá cao, nhất là lĩnh vực tìm mộ liệt sĩ. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, trong một bức thư tháng 9 – 2009, đã viết
“Hoan nghênh các đồng chí tổ chức hội nghị này . Mong các nhà khoa học ra sức nghiên cứu để ngày càng lý giải được khả năng đặc biệt của các nhà ngoại cảm, để góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước”
Sau đây xin dẫn một số trường hợp cụ thể:
a) Sự kiện các nhà ngoại cảm của ta đã tìm được hàng nghìn, nếu không phải là hàng vạn các ngôi mộ và hài cốt của liệt sĩ và nhân dân, chứng tỏ con người thực sự có khả năng thấu thị, và thực sự có thế giới tâm linh.
b) Hiện tượng chị Hoàng Thị Thiêm có “con mắt thứ ba” đã được trong nước và nước ngoài khảo sát, là một bằng chứng sinh động về khả năng đặc biệt của con người.
c) Việc chữa bệnh bằng năng lượg sinh học, và nhất là việc chữa các “bệnh âm” mà y học bó tay, không những là bằng chứng về năng lượng thông tin điều chỉnh để chữa bệnh, mà con là bằng chứng về tác động của thế giới âm và luật nhân quả.
d) Việc một số nhà ngoại cảm có thể nhận thông tin từ nhiều nguồn để tìm các cổ vật, các tấm bia cổ, các di tích lịch sử …mở ra một hướng nghiên cứu liên ngành: Khoa học ngoại cảm và lịch sử (các nhà ngoại cảm Nguyễn Thị Khuy ở Nam Định, nhóm TS Trần Văn Biển ở Hà Nội, Đoàn tâm linh Thái Bình… liên quan đến những đồng tiền cổ, mộ của người đóng gỉa Quang Trung sang Trung Quốc, Bãi cọc sông Tô Lịch…)
e) Việc một số các nhà ngoại cảm (Nguyễn Ngọc Hoài, Nguyễn Thị Sinh, Nguyễn Văn Nha, Đỗ Mạnh Quân …) đã chụp được ảnh “người âm” là một bước tiến quan trọng trong việc nghiên cứu về khoa học tâm linh. Kết quả này có tầm quốc tế.
f) Một số nhà ngoại cảm có khả năng dự báo cá nhân và xã hội cho thấy có tồn tại một “trường thông tin vũ trụ”. Việc dự báo xã hội và quốc tế là vấn đề nhạy cảm, các dự báo chỉ lưu ở bộ môn để tham khảo. Một thí dụ có thể kể là anh Trần Văn Lưu đã nhắn tin từ 7/11/2011cho chủ nhiệm Bộ môn TT-DB là “là Vịnh Ha Long sẽ đứng vị trí thứ 2 hoặc 3 trong số 7 kỳ quan thế giới” đã trở thành hiện thực và là một thí dụ sinh động về việc dự báo nhờ “thế giới tâm linh” (xem ảnh chụp tin nhắn).
III. MỘT SỐ ĐỀ XUẤT VỚI CÁC NHÀ NGOẠI CẢM
Việc nghiên cứu những khả năng đặc biệt của con người, như đã nêu, cho thấy tầm quan trọng của lĩnh vực này cả ở phạm vi lý thuyết cũng như thực tiễn để có thể góp thêm vào những lĩnh vực thiết thực và quan trọng của xã hội và khoa học, chúng tôi rất mong các nhà ngoại cảm và các nhà nghiên cứu sẽ quan tâm những vấn đề sau đây:
1. Vấn đề tâm linh của việc đốt vàng mã cũng như của hoả táng và địa táng.
2. Hiện tượng đầu thai và việc truy cập tiền kiếp, hậu kiếp của con người nhằm làm sáng tỏ thêm luật nhân quả liên quan đến tài năng và nghiệp báo.
3. Loài vật có linh hồn hay không?
4. Thôi miên trong việc nghiên cứu về những bí ẩn của con người
5. Các thế giới vô hình bên ngoài sự sống con người
v.v…
Những câu hỏi trên cho thấy vị trí quan trọng biết bao của những người có khả năng đặc biệt, cùng với các nhà nghiên cứu, để trả lời.
Riêng về vấn đề “chụp ảnh người âm” là vấn đề có tầm quan trọng quốc tế về nghiên cứu tâm linh mà chỉ có một số rất ít những nhà ngoại cảm đặc biệt mới thực hiện được. Những người này cần có sự đảm bảo về vật chất và sự trân trọng đặc biệt về mặt tinh thần để họ có thể thực hiện được nhiệm vụ hết sức quan trọng này. Tôi rất mong các nhà tài trợ sẽ có sự hỗ trợ đặc biệt cho những nhà ngoại cảm đó để họ có thể giành toàn bộ thời gian cho công việc này.
Xin chúc đất nước ta ngày càng có những người có khả năng đặc biệt để phục vụ cho khoa học và đời sống.
Hà Nội, ngày 16 tháng 11 năm 2011

KHOA HỌC VÀ TÂM LINH KHÔNG ĐỐI NGHỊCH NHAU

KH&ĐS đã có cuộc trò chuyện với GS.VS Đào Vọng Đức, nguyên viện trưởng Viện Vật lý, nguyên giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Tiềm năng Con người, Chủ tịch Hội đồng Khoa học Trung tâm Nghiên cứu tiềm năng con người

Ông là một nhà khoa học rất tâm huyết trong việc tìm hiểu và nghiên cứu về tâm linh. Ông nghĩ sao về sự  tương tác giữa khoa học và tâm linh?
Thế kỷ XX, vật lí  học hân hoan chào đón sự ra đời của Thuyết tương đối và Thuyết lượng tử. Thế kỷ XXI, theo như tiên đoán của nhiều học giả nổi tiếng, sẽ được đánh dấu một bước tiến vĩ đại, đó là sự nhận thức được rằng Khoa học và Tâm linh không đối nghịch nhau. Nó là hai mặt đối ngẫu bổ sung cho nhau để nghiên cứu thực tại. Pauli, nhà vật lí nguyên tử lừng danh của thế kỷ XX đã nhận định rằng: "Nếu Vật lý và Tâm linh được xem như các mặt bổ sung cho nhau của thực tại thì sẽ cực kỳ thỏa mãn".

Nhưng có một thực tế, là  những gì không lý giải được, những gì hư hư, thực thực, thậm chí vô lí thì một số người cho rằng: Phật bảo thế, Thánh bảo thế...
Einstein đã nói lên quan điểm về sự tương đồng giữa Khoa học hiện đại và Phật giáo. Có thể dẫn ra một ví dụ  minh họa như sau: Tiên đề của thuyết lượng tử  là "Nguyên lý bổ sung đối ngẫu" khẳng định rằng Sóng và Hạt là hai mặt bổ sung cho nhau của thực tại. Nguyên lí này dẫn đến một hệ quả cực kỳ quan trọng là vật thể vi mô chuyển động không theo bất cứ một quỹ đạo xác định nào, có nghĩa là chuyển từ vị trí này sang vị trí khác theo vô số con đường cùng một lúc.
Suy rộng ra là vật thể vi mô có thể cùng một lúc có mặt tại vô số vị trí khác nhau, cùng một lúc có thể ở vô số trạng thái khác nhau, cùng một lúc có thể làm vô số việc khác nhau. Điều này gợi cho ta liên tưởng tới Kinh Phật nói về các đức Phật, các chư vị Bồ tát phân thân ra trăm nghìn vạn ức hóa thân đi khắp ba nghìn Đại thiên thế giới, giáo hóa cứu độ chúng sinh.

Cần sự hỗ trợ  của "trực ngộ chân như"
Dù ông có chứng minh thế  nào đi chăng nữa thì rõ ràng cho đến nay vẫn còn rất nhiều điều điều bí ẩn mà khoa học chưa giải thích được?
Khi nghiên cứu các lĩnh vực với mức độ tinh tế khác nhau thì cách tiếp cận phải khác nhau. Đặc biệt với các hiện tượng siêu tinh tế thì đòi hỏi phải vận dụng các khái niệm và các hệ tiên đề hoàn toàn mới, có thể rất xa lạ với những điều đã quen thuộc trước đó. Chẳng hạn, có thể còn có các dạng siêu tương tác ứng với các dạng siêu năng lượng, liên quan đến các hiện tượng siêu tự nhiên mà các giác quan bình thường của con người không thể cảm nhận được, cũng như khoa học và kỹ thuật hiện nay chưa đủ trình độ để phát hiện.
Đặc biệt, trong thế giới vi mô, khi mọi quan hệ tương tác đều được vận hành bởi các quy luật lượng tử, nguyên lí đối ngẫu càng thể hiện rõ nét là một nguyên lí nền tảng dẫn đến những điều huyền diệu, nhiều khi khó diễn đạt được tường tận bằng ngôn ngữ của lập luận logic thông thường, mà cần sự hỗ trợ của yếu tố "trực ngộ chân như" (giác ngộ).

Các hoạt động tâm linh hiện nay chưa được số đông ủng hộ. Phải chăng đó là vì bản thân vấn đề tâm linh chưa tự chứng minh được sự trong sáng, mặt tích cực, lợi ích cho đời sống xã hội?
Trong những thập niên gần  đây, ngày càng dồn dập thông tin về những khả  năng đặc biệt của con người, những hiện tượng kỳ  bí mang tính tâm linh thể hiện rất đa dạng trong đời sống cộng đồng trong nước cũng như trên thế giới. Tiếp cận những vấn đề này một cách khách quan với thái độ thực sự cầu thị, tôn trọng sự thật, khiêm tốn học hỏi để khám phá, nhằm mục đích tối thượng phục vụ lợi ích cộng đồng là điều tâm đắc của nhiều người. Bên cạnh đó, cũng có những hiện tượng tiêu cực dẫn đến những hệ quả không tốt, làm hại đến uy tín của những người hoạt động chân chính.

Vậy theo ông có cách nào  để kìm chế được mặt tiêu cực đó?
Ngoài việc tăng cường quản lý  Nhà nước, việc làm sáng tỏ về mặt khoa học các hiện tượng mang tính tâm linh cũng là một  đóng góp rất hữu hiệu.

Ông có tin vào số phận không thưa ông?
Về mặt lí thuyết chưa ai chứng minh được là có hoặc không có số phận. Ở đây, tùy thuộc vào lòng tin và sự trải nghiệm của mỗi người.
Nhân đây, tôi cũng muốn nói thêm rằng, những thành tựu của vật lí học hiện  đại rọi những tia sáng mới vào khoa học dự báo. Dự báo liên quan mật thiết đến phạm trù không gian - thời gian. Einstein đã phát biểu rằng: "Quá khứ, hiện tại, tương lai chỉ là những ảo tưởng cố hữu". Schrodinger, tác giả của phương trình cơ bản trong Thuyết lượng tử đã phát biểu: "Muôn đời và mãi mãi chỉ có bây giờ... Hiện tại là cái duy nhất không có kết thúc".

Phật pháp chỉ đường lìa mê về bến Giác
Theo tôi được biết, ngay trong khoa học cũng có những thứ được chứng minh, nhưng không xuất hiện một cách tường minh?
Tạo hóa đã ban cho vũ  trụ chúng ta các dạng tương tác một cách tối  ưu bao gồm tương tác mạnh, tương tác yếu, tương tác điện từ và tương tác hấp dẫn. Đó là các loại tương tác cơ bản nhất tạo nên bức tranh của cả vũ trụ chúng ta.
Bất kỳ một loại tương tác nào, một hiện tượng nào dù phức tạp đến mấy, từ vi mô đến vĩ mô cũng đều bắt nguồn từ các loại tương tác đó. Một hướng nghiên cứu có tính thời sự nhất hiện nay là xây dựng Lí thuyết thống nhất, tức là tìm một cơ cấu thiết kế chung gắn kết các loại tương tác với nhau trên cùng một nền tảng và phương hướng được xem là có nhiều triển vọng nhất để xây dựng Lí thuyết thống nhất nói trên chính là Lí thuyết Dây.
Điều đặc biệt là trong lí thuyết Dây nhất thiết phải có các trường "Vong". Các trường "Vong" này giữ vai trò then chốt trong cơ cấu của lí thuyết, chi phối các cơ chế tương tác nhưng không hề xuất hiện một cách tường minh trong thực tế.

Ở góc độ là một nhà khoa học, ông muốn nhắn nhủ điều gì đến cả những người đang làm công tác nghiên cứu tâm linh, những người có khả năng đặc biệt?
Đây là cuộc viễn chinh khoa học gian nan nhưng đầy hứa hẹn, đòi hỏi sự kết hợp hài hòa giữa Khoa học và Tâm linh, sự đóng góp lâu dài công sức và trí tuệ của các nhà khoa học và các nhà ngoại cảm. Chúng ta có cơ sở để hy vọng rằng cùng với sự phát triển ngày càng sâu rộng của khoa học và công nghệ, dần dà sẽ tiếp cận được những hiện tượng mà cho tới nay vẫn được xem là huyền bí hoặc hầu như là phi lý. Chúng ta sẽ có được những phương pháp hữu hiệu và thực hiện những bước tiến theo tinh thần "Phật pháp chỉ đường lìa mê về bến Giác".
Xin trân trọng cảm ơn ông. Mong rằng tất cả những linh hồn, những con người còn u mê sẽ tìm được con đường về bến Giác Thiện. Xin kính chúc ông sức khoẻ!

Friday, November 11, 2011

THIỀN NĂNG LƯỢNG (PRANAYAMA)

"Trong chúng ta, mỗi người đều có khả năng đặc biệt do tạo hóa ban cho mà không biết khai mở và phát triển, để rồi phải chịu cảnh bệnh tật triền miên. Thật khổ thay cho cái kiếp làm người".

THIỀN NĂNG LƯỢNG (PRANAYAMA)
PRANA LÀ GÌ?
Prana là một từ trong tiếng Phạn, có nghĩa là sự sống, sự chuyển động, hoặc là sinh khí. Sinh khí Prana được xem như toàn bộ các dòng năng lượng sống. Xét về mặt khí chất, Prana là sức sống, là năng lượng cấu tạo, phối hợp các phân tử và liên kết chúng lại thành một cơ thể hoàn chỉnh. 

ĐỊNH NGHĨA VỀ PRANA
Ta không trực tiếp nhìn thấy gió, nhưng có thể nhìn cây cối đang chuyển động, ta biết là có gió. Prana cũng vô hình nhưng ta có thể cảm nhận được nó bằng cách quan sát sự chuyển động của thân THÔNG QUA SỰ TẬP LUYỆN THIỀN NĂNG LƯỢNG, bởi sự chuyển động của thân chính là sự hoạt động bên trong của dòng Prana. Prana, khi được kiểm soát một cách có ý thức, là nguồn sinh lực có tác dụng phục hồi và tái sinh mạnh mẽ. Khi đã kiểm soát được Prana, ta có thể dùng nó để phát triển bản thân, chữa khỏi bệnh cho mình và cho người khác.

CON NGƯỜI VÀ NGUỒN NĂNG LƯỢNG PRANA
Từ hàng ngàn năm nay, nhiều người có khả năng chữa bệnh huyền bí và một số nhà nghiên cứu chuyên sâu trong lĩnh vực tâm linh đã tập trung sự chú ý đặc biệt đến cái được gọi là nguồn năng lượng Prana. Theo thuật ngữ Ấn độ, Prana có nghĩa là nguyên lý năng lượng mà người xưa đã giả định là tất cả các dạng năng lượng và lực đều phát sinh từ đó. Còn thuyết cổ Đông Phương lại cho rằng Prana có biểu hiện trí tuệ và là phần không thể tách rời của tạo hóa. Ai làm chủ được Prana, sẽ làm chủ được thân xác cũng như tinh thần của mình và của người khác, bởi vì Prana là sự thị hiện khái quát hoá của năng lượng. Muốn được như vậy, trước hết ta phải biết cách làm cho cái Prana ở trong ta hoạt động một cách có hiệu quả nhất.

Pranayama là phương pháp tập luyện để điều khiển Prana theo ý muốn của mình. Pranayama không phải là hơi thở như nhiều người hiểu lầm, cũng như Pranayama không phải là vận dụng ý thức ra lệnh hệ thần kinh vận động làm cho cơ thể hoạt động. Prana là bản thể, là cốt lõi của lực cơ bắp, đã tạo nên sự co bóp của các cơ hô hấp, các phế nang qua sự trung gian của các dây thần kinh. Một khi ta làm chủ được Prana thị hiện trong hô hấp, tâm thức ta sẽ được tinh tế hơn, từng bước ta có thể cảm nhận được những lực vi tế là những dòng thần kinh chạy khắp thân ta.

Người luyện tập Pranayama sau khi đã được thành tựu, sẽ trở thành con người toàn năng, toàn tri. Những người chữa bệnh bằng đức tin, bằng tin thần, bằng thôi miên v.v... đều là những người tình cờ khám phá Prana và sử dụng nó mà họ không hề biết. Và nếu chúng ta tinh lọc, chắt gạn các lý thuyết hay lập luận của họ, cuối cùng bao giờ ta cũng thấy bóng dáng của Prana mà họ không hề hay biết bản chất. Tư duy là sự biểu thị vi tế của Prana trong ta, nhưng tư duy không phải là toàn bộ đời sống tâm thức của ta, đời sống ấy có phần vô thức hay bản năng [thần kinh thực vật] có phần hữu thức hay ý thức [thần kinh vận động]. Giữa hai phần này có một vùng giáp ranh còn bí ẩn đó là tiềm thức. Nhưng nó còn một phần nữa, là phần cao quý nhất, mạnh mẽ nhất, kỳ diệu nhất, siêu việt nhất mà nó thường chìm ngủ trong ta, đó là phần siêu thức.

Người luyện tập Pranayama khi đã có sự thành công nhất định nào đó, sẽ điều khiển được Prana theo ý muốn của mình, chẳng những ta có thể khống chế được bệnh tật và đau đớn của bản thân, mà còn cả người khác nữa. Theo quan niệm của trường phái Yoga thì "BỆNH TẬT LÀ DO MẤT QUÂN BÌNH TRONG PHÂN PHỐI PRANA". Vì vậy khi người tập đã làm chủ được Prana, là sẽ điều khiển được Prana, lập lại sự quân bình Prana trong cơ thể. Trên thực tế có những người thông qua phương pháp tập Pranayama, họ có thể điều khiển bằng ý chí hầu như toàn bộ cơ quan trong thân thể họ, trong khi những người khác không tập thì các cơ quan này không hoạt động hoặc hoạt động một cách máy móc.

Hiện nay các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực chữa bệnh không dùng thuốc đang nỗ lực thực nghiệm ứng dụng Prana dựa trên ý tưởng về sự tồn tại trường năng lượng vũ trụ mà thông qua sự tập luyện con người có thể cảm nhận được một cách khá cụ thể. Có nhiều câu hỏi xung quanh vấn đề cảm nhận và ứng dụng Prana trong cuộc sống hằng ngày.
- Bản chất của Prana là gì?
- Tập luyện như thế nào để cảm nhận được Prana?
- Vì sao con người cần đến nó?
- Làm thế nào để kích hoạt Prana để chữa bệnh và tăng cường sức khỏe?
Cho đến nay chưa thể khẳng định được chắc chắn về bản chất đích thực của Prana. Việc tập luyện để cảm nhận và thu nạp Prana thường được tiến hành theo các mức độ khác nhau, từ thấp tới cao, từ đơn giản tới phức tạp. Người tập luyện trước hết phải có lòng tin vào sự tồn tại của Prana và tin vào khả năng của mình, đồng thời phải luôn duy trì đức tính kiên nhẫn trong thực hành.

Trích dẫn một số nghiên cứu của bác sĩ tâm thần và các bậc Thầy năng lượng.
Bác sĩ tâm thần Lee Sanella M.D. đã liệt kê và phân loại những hiện tượng xuất hiện trong lúc thực hành Thiền năng lượng.

- VỀ MẶT VẬN ĐỘNG:
Cơ thể chuyển động tự phát ở nhiều bộ phận, tuy nhiên người tập có thể tự ức chế. Những cử động này có khi nhẹ nhàng êm dịu, có khi là những cơn co giật hoặc rung chuyển.

- CẢM GIÁC ĐAU:
Có nhiều người kể về cảm giác đau ở đầu, sống lưng và tại nhiều vùng khác của cơ thể, xuất hiện đau thật bất ngờ và hết đau cũng thật nhanh chóng. Có người mô tả lại rằng dường như đau xảy ra khi ta cố tình cưỡng lại dòng khí đang lưu chuyển. Hoặc đau xảy ra khi dòng năng lượng đi qua những huyệt đạo chưa khai mở.

- SỰ GIÁC NGỘ VÀ NĂNG LỰC TINH THẦN:
Đây mới là mục đích thật sự của pháp môn thiền năng lượng, qua một thời gian dài thường xuyên tập luyện sẽ có sự xuất hiện những nhận thức siêu việt, trực giác nhạy bén và phát huy tiềm năng trí tuệ.

LỜI CỦA OSHO (trích từ cuốn Thiền động)
- NĂNG LƯỢNG CHUYỂN ĐỘNG
Khi năng lượng của bạn chuyển động, nó sẽ bắt đầu làm cho thân thể bạn chuyển động. Bạn hãy cho phép những chuyển động đó xảy ra một cách tự nhiên và nhớ rằng đừng bao giờ can thiệp vào cái đang xảy ra. Bạn hãy là nhân chứng cho chính bạn.

LỜI CỦA KHÍ CÔNG SƯ BÙI LONG THÀNH (trích từ Liệu trình A / khí công dưỡng sinh)
- CHÁNH NIỆM TĨNH GIÁC
Tuyệt đối không hôn trầm, mê muội. Luôn luôn nhận biết thân tâm mình trong lúc tập, giữ cho động tác luôn điều hòa, chậm rãi, ổn định, giữ cho tâm mình luôn trụ vào đề mục.

- CẢM NHẬN NĂNG LƯỢNG
Không nên đột ngột dừng lại khi có sự chuyển động của năng lượng. Mọi sự chuyển động phải thuận theo tự nhiên, do dòng khí bên trong chuyển động làm cho thân thể chuyển động.

- TRỊ BỆNH BẰNG NĂNG LƯỢNG
Sau khi đã cảm nhận được dòng năng lượng, bị bệnh gì thì niệm thầm liên tục trong đầu xin tự trị bệnh. Quán tưởng năng lượng chảy dồn về vùng bệnh, vùng bệnh sẽ có cảm giác tê, nóng, ngứa, nặng, ấm… Hoặc cơ thể xuất hiện các động tác tự trị bệnh như day, ấn, vỗ, chà, vuốt v.v... Ngoài tác dụng điều trị bệnh, tăng cường sức khỏe, thiền năng lượng còn tác dụng giải tỏa stress, cân bằng cảm xúc, kiểm soát hành vi.

LỜI CỦA NHÀ CẢM XẠ HỌC DƯ QUANG CHÂU

- PHÁT HUY TIỀM NĂNG TRÍ TUỆ
Mỗi người đều tiềm ẩn một sức mạnh đang ngủ yên. Phải biết làm cho nó tỉnh thức và sử dụng nguồn năng lượng đó. Trước tiên chúng ta phải nhận thức được nó, kiểm soát nó, làm chủ nó, sau đó đem sử dụng để khai thác có hiệu quả và để sống tốt hơn. 

TỔNG HỢP CÁC HIỆN TƯỢNG VÀ CẢM NHẬN KHI TẬP THIỀN NĂNG LƯỢNG [PRANAYAMA].

SỰ BIỂU THỊ CẢM GIÁC SINH LÝ.

Khi cảm nhận được dòng năng lượng, cơ thể sẽ xuất hiện nhiều cảm giác khác nhau. Dù cùng là một người, mỗi lúc cũng có thể xuất hiện những phản ứng khác nhau. Có những người cảm nhận được rõ rệt, có những người tương đối rõ rệt. Lại có người có sự phản ứng toàn thân, có người chỉ phản ứng ở một tạng phủ nào đó, cũng có người phản ứng ở khắp các tạng phủ và tứ chi, và có người chỉ phản ứng cục bộ v.v...

Cảm giác có tính đặc trưng và tính chất phản ứng của sinh lý, chính là ở chỗ KHÔNG GIỐNG NHAU. Trong cảm giác lạnh, có những lúc ta có cảm giác lạnh như băng giá, lạnh như gió bấc lạnh từ bao tử, lạnh nhè nhẹ như có mưa bụi bay quanh mình, lạnh đánh bò cạp, lạnh thấu xương v.v...Trong cảm giác nóng, có những lúc ta có cảm giác nóng oi bức, nóng hừng hực, nóng gió của sa mạc, nóng rang khắp châu thân v.v...

Trong cảm giác của sự chấn động, cũng có lúc ta kêu lên ối cha, giật nẩy mình, tim đập thình thịch, run bần bật v.v...Lại có trường hợp ở vùng tim cảm thấy nóng, hoặc thấy lạnh, có cảm giác như sợ hãi, nặng ngực, hơi thở dồn dập, cảm giác bị đè nén, cảm giác nặng nề, cảm giác như bị trói buộc v.v...Cũng có người thấy như đang trôi bồng bềnh, đang bay lên không trung, đang lạc vào tiên cảnh, như thân mình không còn nữa v.v...Những cảm giác đó rất rõ rệt, nó biểu hiện khi cơ thể con người đã tiến vào trạng thái bị kích động sẽ làm cho khí lực sung mãn.

PHẢN ỨNG QUA HÀNH VI CỦA CƠ THỂ

Cơ thể con người khi cảm nhận dòng năng lượng, thì có những chuyển động "TỰ PHÁT" không dự tính trước. Những sự chuyển động này có khi là nhẹ nhàng, êm dịu, có khi là những cơn co giật rung chuyển, có khi như múa hát ngũ cầm, có khi xuất hiện những động tác giống như THÁI CỰC QUYỀN. Nhảy, múa, đi những đường quyền võ thuật. Cơ thể có khi tự động được đưa vào tư thế HATHA YOGA và giữ ở tư thế nầy rất lâu. Cũng có lúc xuất hiện những động tác giống như DỊCH CÂN KINH [còn gọi là PHẤT THỦ LIỆU PHÁP]. Đôi lúc cũng có sự co giật từng chập, run rẩy, những động tác quay tròn, nghiêng ngả, ngồi xếp bằng chắp hai bàn tay trước ngực v.v... Những biểu hiện tổng hợp đó, đã ngầm cho ta biết là trong cơ thể con người có một hệ thống đặc biệt rất năng động, to lớn, đang tiềm tàng những bí ẩn còn chưa khám phá.

NHỮNG KIỂU HÔ HẤP KHÁC THƯỜNG

Khi năng lượng chuyển động sẽ xuất hiện nhiều kiểu thở khác nhau. Như là thở nhanh, thở chậm, thở kéo dài kết hợp với phình bụng hoặc thóp bụng, hoặc là ngưng thở. Thở phát ra âm thanh, thở há to miệng kết hợp với thè lưỡi và mở to đôi mắt. Có những kiểu thở bịt vào lỗ mũi luân phiên giống như các Yogis thường tập mà sách vỡ nói là PRANAYAMA. Thực ra thì nhiều người đã hiểu sai, và dịch sai từ PRANAYAMA. Chữ PRANA có nghĩa là năng lượng. Còn chữ YAMA có nghĩa là kiểm soát. Góp hai từ này với nhau thành chữ PRANAYAMA có nghĩa là KIỂM SOÁT NĂNG LƯỢNG. Như vậy PRANAYAMA là kiểm sóat năng lượng chứ không phải là tập thở như mọi người thường nghĩ. Từ nhận xét này ta biết rằng không cần phải học các kiểu hô hấp đặc biệt nào cả, mà tự thân khi năng lượng chuyển hóa nó sẽ " ĐIỀU KHIỂN HƠI THỞ MỘT CÁCH TỰ ĐỘNG".

NHỮNG CẢM XÚC BẤT THƯỜNG

Trong lúc cơ thể đang tràn ngập năng lượng, sẽ xuất hiện những phản ứng tâm lý rõ rệt như là khóc òa lên thật to, hoặc bật cười ha hả. Có thể xuất hiện các cảm xúc như là sợ hãi, lo lắng, bi ai, buồn khổ, vui sướng v.v...Vào những giai đoạn đầu, có thể có những cảm xúc như vậy, nhưng dần dần sau đó ở những giai đoạn sau cảm xúc nó sẽ bình lặng hơn. Ta cảm nhận như có sự ngọt ngào ở tim, tâm trạng phóng khoáng, tình cảm ổn định, tư duy nhạy bén, ngôn ngữ lưu loát, sự chú ý tập trung dễ dàng, trí nhớ tốt, tâm lý ổn định, cảm giác vui vẽ v.v...

CẢM GIÁC ĐAU

Khi cơ thể con người cảm nhận được dòng năng lượng, sẽ có những cảm giác như đau ở đầu, ở mắt, cột sống lưng và rất nhiều vùng khác của cơ thể. Nó xuất hiện những cơn đau rất bất ngờ, và hết đau cũng thật nhanh chóng. Có khi cơn đau đó do ta cố tình làm ngăn trở dòng năng lượng [khi dòng năng lượng đang tự nhiên chuyển động, ta lại dụng ý điều khiển dòng năng lượng theo ý của mình, hoặc dừng lại đột ngột] và cũng có khi cơn đau đó xảy ra khi dòng năng lượng đi qua vùng bệnh hay các huyệt đạo đang bị bế tắc.

PHƯƠNG PHÁP TẬP THIỀN NĂNG LƯỢNG [PRANAYAMA]
Bài tập này gồm có 7 phần:
1. Ổn định thân tâm
2. Cảm nhận năng lượng
3. Kích hoạt năng lượng
4. Thu năng lượng
5. Chuyển hóa năng lượng
6. Trị bệnh bằng năng lượng
7. Kết thúc

ỔN ĐỊNH THÂN TÂM
Tư thế chuẩn bị: Ngồi kiết già hoặc bán già. Đầu cổ và lưng thẳng, mắt khép nhẹ, miệng khép, lưỡi nằm ngang, 2 bàn tay mở ngữa, để trên đầu gối, ngón cái và ngón trỏ chạm nhẹ vào nhau.
- Niệm thầm: tôi đang cảm nhận toàn thân
- Tập trung ý lắng vào thân

CẢM NHẬN NĂNG LƯỢNG
Tư thế chuẩn bị: Ngồi kiết già hoặc bán già. Đầu cổ và lưng thẳng, mắt khép nhẹ, miệng khép, lưỡi nằm ngang, 5 ngón tay chạm nhẹ vào nhau, để trước ngực.
Thực hiện: Hướng sự chú ý lên 5 đầu ngón tay.
Niệm thầm: Tôi đang cảm nhận năng lượng.
Hiện tượng thường xuất hiện trong lúc cảm nhận năng lượng:
a. Cảm nhận có sự rung động nhẹ ở các đầu ngón tay
b. Có sự dao động nhẹ ở cột sống
c. Có những ý nghĩ, những suy nghĩ bỗng xuất hiện trong tâm trí, trong thiền học gọi là vọng tưởng, là tạp niệm. Đừng nhớ đến nó, đừng suy nghĩ theo nó mà hãy hướng sự chú ý lại trên 5 đầu ngón tay và tiếp tục niệm thầm “Tôi đang cảm nhận năng lượng.”

KÍCH HOẠT NĂNG LƯỢNG
- Từ từ dang hai bàn tay ra thật chậm và cảm nhận có dòng năng lượng đang đẩy hai bàn tay từ từ dang ra
- Từ từ khép hai bàn tay vào và cảm nhận có sức hút hai bàn tay vào nhau. Trong lúc khép hai bàn tay chạm vào nhau, thường thì không chính xác như lúc ban đầu. Lý do là tâm chưa được ổn định. Hãy điều chỉnh 5 ngón tay vào vị trí ban đầu.
CHÚ Ý:
- Bài tập này không nên dùng lực lúc dang tay ra, mà hãy cảm nhận lúc vừa khởi ý dang tay ra là cảm nhận được ngay có dòng năng lượng đang đẩy hai bàn tay ra.
- Lúc dang tay ra hai bên, 2 bàn tay cách xa từ 30-40cm hai chỏ xuôi theo hông.
- Hướng sự chú ý vào hai bàn tay lúc dang ra và khép vào.

THU NĂNG LƯỢNG
- Hai bàn tay từ từ dang ra, xoay lòng bàn tay ngửa hướng lên trên, tập trung vào huyệt Lao cung giữa lòng bàn tay.
- Niệm thầm: thu năng lượng
- Trong lúc thu năng lượng ta có cảm giác ấm ở huyệt Lao cung, có sự dao động nhẹ ở cột sống, hoặc hai bàn tay.

CHUYỂN HÓA NĂNG LƯỢNG
- Niệm thầm: năng lượng chuyển động
- Liên tục ám thị đến khi cảm nhận được sự chuyển động bởi năng lượng. Sự chuyển động thường xuất hiện ở hai cánh tay, ở cổ, ở cột sống. Hãy thuận theo tự nhiên và cảm nhận. Biết rõ sự chuyển động của thân. Đây là điểm quan trọng nhất trong bài tập thiền năng lượng. Và người tập bắt buộc phải tuân theo những điều sau:
o Trong lúc năng lượng chuyển động, ta không nên mong cầu hoặc tưởng tượng bất cứ điều gì.
o Vẫn tiếp tục niệm thầm: năng lượng chuyển động và biết rõ sự chuyển động và khi đã nhận biết thì điều kỳ diệu của thiền năng lượng bắt đầu xuất hiện.
o Không dừng lại đột ngột trong lúc năng lượng chuyển động.

TRỊ BỆNH BẰNG NĂNG LƯỢNG
- Trong lúc năng lượng chuyển động, có bệnh gì thì niệm thầm trị bệnh đó. Thí dụ như bệnh đau đầu, ta niệm thầm “năng lượng trị bệnh đau đầu.” Lúc đó sẽ xuất hiện hai trường hợp sau.
o Hai bàn tay dần dần chuyển đến vùng bệnh và tự nó trị bệnh như ấn, day, chà, vuốt, vỗ…
o Cảm nhận bên trong có những dòng điện hoặc cảm giác nóng, ấm, ngứa, tê, đau v.v...

KẾT THÚC

Niệm thầm: năng lượng dừng lại. Lặp đi lặp lại liên tục, liên tục cho đến khi nào cảm nhận dòng năng lượng chậm dần, chậm dần, chậm dần rồi từ từ dừng hẳn.
Điểm kết thúc của hai bàn tay thường ở hai đầu gối hoặc ở vùng bụng dưới
- Sau đó từ từ mở mắt ra.
- Mátxa ở mặt và phía sau gáy.
- Có sự lâng lâng, trống trải trong trí não sau khi kết thúc buổi tập thiền năng lượng.

TRƯỜNG HỢP NÀO KHÔNG CẢM NHẬN ĐƯỢC DÒNG NĂNG LƯỢNG
1. Chuẩn bị phần cảm nhận năng lượng chưa tốt, còn trương lực cơ trong lúc hai bàn tay chạm nhau để trước ngực.
2. Do căng thẳng hoặc quá nhiều ý nghĩ, suy nghĩ… làm không thể tập trung được.
3. Do nghi ngờ, không tin tưởng vào phương pháp
4. Đã từng tập qua nhiều phương pháp khác.
5. Thường xuyên mở mắt trong lúc tập luyện.

NHỮNG ĐIỀU KHÔNG NÊN KHI TẬP THIỀN NĂNG LƯỢNG

1. Không nên tập với những người chưa đủ kinh nghiệm hướng dẫn.
2. Không tập ở nơi khí âm nhiều, như nghĩa địa, bệnh viện, lò thiêu.
3. Không dừng lại đột ngột trong lúc năng lượng đang chuyển động.
4. Không cầu nguyện hay cầu xin bất cứ một tha lực nào trong lúc tập thiền năng lượng.