Monday, August 15, 2011

YOGA

Đời người trên trần thế phải chăng chủ yếu bất hạnh đau buồn? Câu hỏi ấy xem ra ngay từ xa xưa đã ám ảnh các nhà tưởng Ấn độ. Câu trả lời của hầu hết các nhà thông thái kia : ĐÚNG THẾ! Theo truyền thống Ấn độ, tìm cách đạt đến trạng thái hoàn toàn giải thoát được những bất hạnh đau buồn công việc trọng đại của triết học Ấn độ. Trạng thái đó được gọi bằng nhiều cái tên khác nhau như: Moksha, mukti, kaivalya, apararga, nirvana v.v... tuỳ theo từng trường phái khác nhau nên tên gọi khác nhau, còn triết học thì được gọi tatvajnana hay darohana. Những từ trên cùng tả một trạng thái như nhau hay không thì còn chưa , song từ nào cũng nói đến sự giải thoát khỏi mọi tai ách.

Khái niệm cho rằng tai ách yếu tố chủ đạo trong đời sống của con người, vốn rất phổ biến trong triết học Ấn độ, thực tế thể xem khởi điểm của các tiền đề triết học. Tai ách của con người xưa nay vẫn được chia ra thành ba loại sau đây.

1/ Điều kiện thể chất trí tuệ của mỗi nhân, chẳng hạn như yếu tố sức khoẻ, bệnh tật, những cảm xúc như sợ hãi, giận dữ, đau buồn, lo lắng v.v...
2/ Tai ách của một cá thể nảy sinh bởi hành động tàn hại của một cá nhân khác, của súc vật, côn trùng v.v...
3/ Tai ách không phải do một cá thể gây ra, thường là người ta không kiểm soát được như: Động đất, lụt lội, nạn đói kém, dịch bệnh v.v...

Bị tác động bởi ba thứ tai ách trên, người ta phải suy nghĩ và hành động theo cách nào để rồi rốt cuộc có thể khắc phục được chúng. Dĩ nhiên phản ứng trước tiên của người ta xuất phát từ lĩnh vực kinh nghiệm và dựa trên cảm giác phòng ngừa thông thường. Ví dụ, người ta làm việc để khỏi bị nghèo đói, uống thuốc để chữa bệnh, xây nhà cửa để ở, mở mang công nghệ, khuếch trương các trung tâm sản xuất v.v... để mưu cầu một cuộc sống tốt đẹp cho các thành viên trong xã hội. Ngoài ra người ta còn tham gia các tổ chức, các chính đảng, các tôn giáo, các môn phái, các phe nhóm khác nhau nhằm chế ngự nỗi sợ hãi trước hiểm hoạ. Bên cạnh những biện pháp có ý thức đó, nhất là khi chúng tỏ ra không đầy đủ hoặc không hiệu lực, họ bèn quay sang với tôn giáo, với các Guru, với các ông đồng bà cốt và các đạo trưởng, rồi họ phải bị chìm đắm trong ngâm nguyện, si mê, lễ bái...Tuy nhiên, nhìn chung cả hai cách kia đều không đủ sức xua tan hết các đau buồn một cách dứt điểm, giống như nhờ uống thuốc mà người ta tạm thời khoẻ mạnh, song có khi sau đó lại mắc vào các chứng bệnh khác. Nói tóm lai, các tổ chức tôn giáo và việc điều trị đều không thể làm cho người ta hoàn toàn có thể yên tâm, nên có thể người ta sẽ phải chạy hết thầy thuốc này đến thầy khác, hoặc tìm hết cách này đến cách khác.

Người ta nhiều khi khẳng định rằng với những tiến bộ lớn lao của khoa học có thể đem lại hạnh phúc cho con người, chẳng hạn người ta nghĩ rằng với đường lối đúng đắn, y học có thể giúp cho con người có khả năng muốn sống bao lâu cũng được, vật lý có thể mở đường cho họ qua không gian đến với các thiên thể, rằng chắc chắn sẽ có một ngày trong tương lai không xa con người có thể quản lý, có thể kiểm soát được hoàn toàn sức mạnh của thiên nhiên.

Từ chỗ đó, nhiều người cho rằng khoa học là một công cụ cực kỳ mạnh mẽ trong bàn tay của con người, chẳng mấy chốc sẽ trừ hết các đau khổ và bất hạnh. Nhưng nói như vậy thì e rằng hơi quá đáng. Một điều hiển nhiên là các phát minh khoa học đã có những đóng góp khổng lồ, làm cho cuộc sống chúng ta trở nên đỡ vất vã hơn, song rõ ràng khoa học là quá trình thu thập và xử lý thông tin, mà một thông tin đơn thuần thì dù có được xử lý tinh vi đến đâu đi chăng nữa cũng không và không thể diễn giải được nỗi khổ đau và bất hạnh của con người. Nếu vấn đề đó là hậu quả những sức mạnh của thiên nhiên hay xung quanh ta thôi, hẳn là khoa học có thể là công cụ thích hợp để khắc phục những tai ách đó.

Những vấn đề này có lẻ là bắt nguồn từ thế giới nội tâm của chúng ta, là thế giới quan riêng biệt của chúng ta. Thực sự đó là vấn đề phải tự hiểu mình và cách xử thế của mình trong đời sống hàng ngày, những lo lắng và ước vọng, niềm tin và hoài bão, những đam mê và xúc cảm, và nói cho cùng là những gì ta làm đối với những người xung quanh và môi trường bên ngoài. Bởi vậy, nếu ta không hiểu đến nơi đến chốn cách nhìn sự vật và phản ứng trước những điều diễn ra bên trong và xung quanh ta, sự thu thập đơn thuần các thông tin về thiên nhiên bên ngoài mà lại toan tính chinh phục nó thì sẽ chẳng đi đến đâu cả. Giả sử con người có đến được mặt trăng hay đến được một hành tinh xa xôi nào đó trong vũ trụ và sinh sống ở đó, hoặc giả những tiến bộ sắp tới của sinh học có cho phép người ta sống bao lâu cũng được, thì liệu những kiến thức đó có làm cho cuộc sống của con người hạnh phúc hơn và yên ổn hơn không? Niềm tin rằng nếu được thông tin đầy đủ chúng ta có thể chiến thắng được đau khổ và chiến tranh, chắc hẳn sẽ đưa ta vào ngõ cụt. Xin trích dẫn một đoạn kinh Sheuti: "Tri thức đôi khi còn nguy hiểm hơn sự ngu muội vì sự ngu muội đàng nào cũng đi vào bóng tối, còn những kẻ vênh vang với tri thức của mình thì rốt cuộc sẽ đi đến chỗ tối tăm hơn".

Thực ra vấn đề không phải là chinh phục thiên nhiên bên người hay thế giới xung quanh, mà phải là chinh phục ngay chính bản thân mình, chế ngự được những đam mê, dục vọng, cảm xúc và những bất đồng quan điểm. Muốn được như vậy cần phải có một cái gì căn bản hơn những điều hoa học kỹ thuật hiện đại mang lại cho chúng ta, chỉ có thế sự khủng hoảng hiện tại của loài người trên khắp thế giới mới giải quyết được. "MUỐN ĐEM LẠI SỰ BÌNH AN CHO THIÊN HẠ, MỖI NGƯỜI PHẢI TỰ BÌNH AN TRƯỚC ĐÃ". Sự bình an bên trong và xung quanh mỗi người có lẽ là mục đích lớn lao nhất của YOGA.


Vì vậy YOGa là một phương pháp mang lại hiệu quả nhất cho những ai đang bị trăn trở bởi những ước vọng và khổ đau. YOGA xứng đáng được đề cao trong tất cả hệ thống triết học ở Ấn độ. Nó thực sự là phương thuốc mầu nhiệm để loại trừ những khổ đau và bất hạnh của con người. Đến đây ta hãy xem YOGA thực chất nó là gì, nó có thể đem lại điều gì để cải thiện cuộc sống của mỗi người trong chúng ta, cũng như những ý nghĩa gì mà thông qua YOGA ta có thể đạt được nhiều mục đích.

Từ "YOGA" nói chung được gọi là đồng nghĩa với sự tiếp thu và thể hiện sức mạnh siêu nhiên. Người ta quen nhìn nhận YOGA như một cái gì đó rất huyền bí, cao siêu mà một người bình thường khó có thể đạt được. Ngày nay người ta thường nghe ai đó tự xưng là YOGIS, họ biểu diễn các màn như đi trên than hồng, nằm ngửa cho xe lu cán qua người, hay uống axit đậm đặc v.v...đối với những dạng YOGA này, chắc chắn không thể đại diện cho YOGA truyền thống của Ấn độ cổ, xem ra có nhiều người khi khi nghe nói đến YOGA là họ lập lức nghĩ ngay đến các người này. Người ta còn cho rằng YOGA không phải là dành cho những người thường, rằng chỉ những ai dám ròng rã nhiều năm lánh đời hoặc một hang động nào đó để dụng công khổ luyện mới mong được thành tựu YOGA. Có nhiều người cho rằng đây là con đường đầy chông gai nguy hiểm, với những ai thiếu sự bền chí thì hãy tránh xa. Cũng lạ là những ý kiến cực đoan như vậy lại rất phổ biến ngay cả trên quê hương của YOGA. Thực chất nếu xét cho kỹ ta sẽ thấy những ý kiến trên đều ít nhiều có việc sai lầm. Tuy nhiên cái khó hiện nay là ở chỗ YOGA phần lớn nằm trong tay những người kém cõi, người ta đến với YOGA thường là họ không thành công trên các lĩnh vực khác. Tình trạng đáng buồn ấy chỉ có thể thay đổi một khi có những người thông minh, có đạo đức nghiên cứu vào lĩnh vực YOGA.

Từ YOGA có từ lâu, lâu hơn hệ thống triết học mang cái tên này. Lần đầu tiên từ "YOGA" được dùng đến là trong kinh Vệ Đà, nó có nghĩa là ràng buộc các vật vào với nhau. Từ này có nguồn gốc từ tiếng Phạn, "Jujir" có nghĩa là chấp lại, hoặc nối lại. Nhưng sau đó có một ý nghĩa khác được gắn vào thuật ngữ này, chữ "Yuj" có nghĩa là kiểm soát ý thức. Đến đây ta sẽ xem xét lại từng loại và từng định nghĩa của YOGA được tìm thấy trong các kinh sách Ấn độ cổ. Các định nghĩa đó rất nhiều nên ta chỉ có thể nêu ra một vài định nghĩa điển hình mà thôi. Trong kinh Kathopanishad định nghĩa YOGA là "MỘT TRẠNG THÁI TĨNH TẠI VÀ KIỂM SOÁT ĐƯỢC CẢM GIÁC VÀ Ý THỨC, KHI ĐẠT ĐƯỢC ĐIỀU ĐÓ NGƯỜI TA TRỞ NÊN HOÀN TOÀN TINH KHIẾT, SẠCH HẾT MỌI TỘI LỖI". Ý thức của chúng ta thường chạy theo những lạc thú của thế gian, trong khi đó ý thức của nhà YOGIS không bị các cảm giác chi phối bởi lẽ nó đã được giải thoát mọi sự ham muốn. Và làm thế nào để đạt được trạng thái đó, chúng ta hãy tiếp tục tìm hiểu và nghiên cứu thêm.

Trong kinh Shvetashvatara Upanishad đã mô tả những phẩm chất của một nhà YOGIS có thân thể sáng rực lên trong ngọn lửa YOGA, và nói rằng bệnh tật, tuổi già khó có thể đến với họ. Thân thể họ rất mềm mại và khoẻ mạnh, ý nghĩ của họ dứt bặt những ham muốn tầm thường của thế gian. Còn nhiều đoạn trong kinh sách YOGA có nói đến các phẩm chất này của các bậc thầy cao đức trọng. Những mô tả đó cho thấy rằng các nhà YOGIS là những người có thân thể và trí óc tinh khiết nhờ tập luyện YOGA. Bất kỳ những ai thực hành đúng các bài tập YOGA đều có thể chiêm nghiệm những hiệu quả mà YOGA đem lại. Thực tế nó là như vậy, bởi vì YOGA không phải dành riêng cho một vài người có duyên mai hay một bậc cao nhân nào đó, mà nó thực sự là một lợi ích rất lớn lao cho bất kỳ ai, chuyên cũng như không chuyên, tôn giáo hoặc không tôn giáo đều có thể thành công trên lĩnh vực YOGA.

Trong các kinh của tôn giáo, nhất là đối với Phật giáo, cuộc đời được xem như là "bể khổ trầm luân". Con người từ lúc sinh ra đời cho đến lúc chia tay rời khỏi thế gian đều phải chịu cảnh sống trong bể khổ ấy. Song ở trong kinh Yogavasista Yoga được nhắc đến như một cứu cánh để sang bên kia bờ khổ. Các hành giả YOGA là những người đã gạt bỏ được mọi sự ưu tư, phiền muộn và đã bước qua khỏi chỗ tối tăm mãi mãi.

Ở trong kinh Gita, có ba định nghĩa về YOGA. Đây là một cuốn kinh có lẽ là rất phổ biến nhất trong các cuốn kinh nói về YOGA. Theo định nghĩa thứ nhất, YOGA là một trạng thái trung gian mà ở đó, sự đối kháng giữa thành công và thất bại không khác nhau mấy. Đối với những triết gia, thì quan điểm này có vẻ khá lạ lùng và nghịch lý. Người ta tự hỏi nếu một người nào đó mà coi thành công và thất bại cũng như nhau thì nó là cái giống gì? Thông thường con người ta luôn mong muốn được thành công và rất sợ thất bại, vậy thì một người tập theo YOGA họ có ý nghĩa thế nào đối với gia đình và xã hội nếu họ xem thành công hay thất bại đều cũng như nhau? Làm sao anh ta có thể sống trong một xã hội đầy bon chen này? Sự thật ra ý nghĩa này rất là thâm sâu, người tập YOGA đến một trình độ nhất định nào đó họ sẽ không còn kẹt trong vòng đối đãi, tranh chấp nhị nguyên, có nghĩa là "thành công cũng không mừng và thất bại cũng không buồn". Vì vậy mới có câu thành công và thất bại cũng như nhau là vậy đó.

Ở đây ta có thể ghi nhận một điểm là, theo kinh Gita các hành giả YOGIS là người đã giác ngộ. Người đó không còn có gì cần phải đạt đến nữa, người đó đã dứt bặt những ham muốn. Dù rằng họ đã đạt tới cảnh giới đó nhưng không vì thế mà họ từ bỏ và trốn tránh chuyện thế gian, mà trái lại họ vẫn tiếp tục làm việc vì hạnh phúc của toàn xã hội. Họ vẫn sống và cống hiến, vẫn tiếp tục công việc nhưng không màng đến sự thoả mãn khi thành công.

Hầu hết chùng ta đều bị chi phối bởi cảm giác thoả mản trước sự thành công trong công việc của mình. Ta luôn luôn mong được thăng tiến trong địa vị và danh vọng, ta luôn luôn muốn mình trở thành người quan trọng và được mọi người kính nể. Nhưng đối với một nhà YOGIS, họ không bị ảnh hưởng bởi những điều đó, họ không bị xao động ngay cả trước một nỗi bất hạnh khóc liệt nhất. Điều này đã được diễn tả một cách rõ ràng và súc tích trong một định nghĩa khác về YOGA trong kinh Gita. YOGA được định nghĩa là một trạng thái không còn ưu tư, sầu muộn. Kinh Gita nói rằng "khi người YOGIS đạt đến trạng thái tột cùng đó, thì họ không còn điều gì lớn lao hơn cần phải đạt nữa."
 

Tuy nhiên có thể nói rằng trong tất cả các định nghĩa trên, YOGA là một cái gì nó cao xa quá, khó có thể đạt được, có nghĩa là cái đích của YOGA ngoài tầm tay của người phàm phu. Cũng một khó khăn như thế được nói lên trong định nghĩa YOGA trong cuốn YOGA SUTRA của PATANJALI, một cuốn được xem là trước tác quan trọng nhất của triết học YOGA. PATANJALI cho rằng "YOGA là một trạng thái mà mọi ý nghĩa đều bị tịch diệt và ý thức được hoàn toàn đổi mới". PATANJALI còn khẳng định rằng YOGA có 8 phần, mà khi đã làm chủ được từng phần và đi đến toàn phần thì rốt cuộc sẽ đạt đến trạng thái ấy. Câu nói này là kim chỉ nam, là điểm tựu đem lại hy vọng cho mọi người, vì lẽ bất kỳ một người tập YOGA nào cũng đều có thể làm chủ được 8 phần của YOGA nhờ tập luyện theo một quy trình đúng đắn.

Bất cứ một người nào cũng có thể đến được cái đích của YOGA chỉ khi nào đã có hai phẩm chất quan trọng như trên làm khởi điểm.


1/ VAIRAGYA: Nghĩa là không tham vọng, đối ngược với RAGA là si mê. Ý nghĩa của VAIRAGYA là loại bỏ mọi ước muốn. Nhờ tuân thủ theo VAIRAGYA người ta mới giữ không cho đầu óc mơ tưởng tới những khoái lạc của thế gian, nhờ vậy mà đầu óc luôn luôn tĩnh tại, an lạc.


2/ ABHYASA; Có nghĩa là tĩnh tâm. Điều này có thể đạt được bằng những phương pháp khác nhau tuỳ theo căn cơ của mỗi người. Những cách này được biết dưới dạng các loại YOGA khác nhau, tuy có vẻ riêng biệt và khác nhau lúc ban đầu, song đều đưa đến một một đích chung đó là MUKTI.

Monday, May 16, 2011

MẬT TÔNG

Đức Phật đã giảng dạy rất nhiều pháp môn khác nhau, sau này người ta tạm chia ra ba con đường : Tiểu thừa [Hinayana], Đại thừa [Mahayana], và Kim cang thừa [Vajrayana] hay còn gọi là Mật thừa [Tantra]

-TIỂU THỪA: đặt căn bản trên giới luật để kiểm soát thân, khẩu, ý. Nhờ giữ gìn giới luật nghiêm ngặt nên có một đời sống trong sạch, thanh bình. Thông qua phương pháp Thiền và kiểm soát hơi thở, từng cảm giác, từng ý tưởng... mà nhận ra rằng thế gian này là VÔ THƯỜNG không có gì bền vững. Từ đó mà ý thức tính chất vô ngã, thấy rõ sự lầm lẫn về cái ngã là nguyên nhân của mọi đau khổ. Vì cho rằng có một cái ngã nên con người mới cố gắng tô điểm, bảo vệ, giữ gìn cho nó được lâu dài. Họ nhân danh đủ mọi thứ để đề cao cái bản ngã này. Họ tạo ra hình ảnh Thượng đế hay lý thuyết bất tử để thoả mãn ước vọng thầm kín của mình. Đến khi quán triệt tính chất vô ngã, họ mới nhàm chán bản thân mà tìm cách thoát khỏi vô minh. Tự giác là mục đích của con đường này, từ đó mới mở rộng tình thương đến những người khác, những vật khác. Khi cái ta không còn nữa thì đâu còn phân biệt mình với người, chủ thể với đối tượng.

- ĐẠI THỪA: Con đường rộng rãi của Đại thừa đặt căn bản trên tình thương chúng sinh muôn loài, không còn tìm sự giải thoát cho riêng mình mà còn giúp đỡ tất cả được giải thoát khỏi khổ đau [chúng sinh vô biên thệ nguyện độ]. Kinh điển Đại thừa nhiều như rừng, như biển, cao siêu không lường, nhưng cốt yếu đặt căn bản trên sự phát triển lòng từ bi, không những tự giác mà còn giác tha nữa.

- KIM CANG THỪA: Sở dĩ gọi là Kim Cang Thừa là vì muốn đề cao tính chất cứng rắn, không thể hư hoại của trạng thái giác ngộ. Kim cang là thứ sắc bén có thể xuyên thủng mọi vật, xuyên thủng màn vô minh để đạt tới giác ngộ. Kim Cang Thừa nhằm phát triển trí tuệ, một thứ trí tuệ siêu việt gọi là bát nhã. Muốn vậy phải có lòng từ bi rộng lớn, do đó Kim Cang Thừa có liên quan mật thiết với Đại Thừa, có thể coi như đó là giai đoạn cuối của con đường rộng lớn.

Điều quan trọng cần lưu ý là cả ba con dường tuy khác nhau nhưng vẫn là một, đó là PHẬT THỪA. Vì cả ba con đường đều nhằm vào mục đích là giác ngộ, giải thoát. Khi vượt lên mọi sự phân biệt, ta thấy cả ba là một sự tiếp diễn. Tuy gọi là tiếp diễn, nối tiếp, nhưng thực ra nó là một vòng tròn trong đó có ba đường như ba sợi chỉ màu cùng quấn lại, ta cũng có thể coi đó là những giai đoạn, những trình độ trên một con đường, đó là con đường giải thoát.

Cho nên theo kinh điển của Mật Tông thì con đường Kim Cang Thừa có thể đưa tới quả vị Phật trong một kiếp, trong khi các con đường khác đòi hỏi đến vô lượng, vô số kiếp. Vì vậy, nhiều người gọi Mật Tông là con đường ngắn nhất, con đường tắt. Trong khi đó tham vọng của người đời bao giờ cũng muốn tìm một lối đi thật nhanh, một con đường thật ngắn, một phương pháp thật dễ nhưng có hiệu quả tối đa. Có một số người nghĩ rằng tu theo Kim Cang Thừa chỉ cần tụng vài ba câu chú, thực hành vài phương pháp bí mật là đã có vé phi cơ trở về niết bàn rồi, họ đâu có biết rằng khi chưa giữ được giới, tâm trí còn đầy những tham vọng, những si mê, ích kỷ, ngạo mạn... mà đòi theo Kim Cang Thừa thì chẳng khác gì đón nhận luồng điện cao thế, nếu không điên cuồng thì cũng bỏ mạng.

Kim Cang Thừa, đó là con đường vô cùng khó khăn, chỉ dành cho các bậc Bồ Tát, các vị Tổ đã phát những hạnh nguyện vô cùng lớn lao, có công phu tu hành tinh tấn, mở lòng từ bi, phát triển trí tuệ.
Theo con đường này, các vị tổ Mật Tông đều nhấn mạnh đến việc trì chú như phương tiện đưa đến giác ngộ. Truyền thống Mật Tông xây dựng trên căn bản truyền khẩu giữa thầy và trò, các khẩu quyết phải được giữ kín. Sở dĩ nó phải được giữ bí mật là vì chỉ có thầy mới biết rõ căn cơ, trình độ của học trò mà chỉ dạy một phương pháp thích hợp nhất cho từng học trò, và phương pháp đó chính là chìa khoá để phá tan màn vô minh của con người.

Kim Cang Thừa là như vậy đó, tôi không biết thời nay các thầy tu như thế nào mà dạy các Phật tử chỉ có một câu niệm Nam Mô A Di Đà Phật. Các thầy có khả năng nhìn rõ căn cơ của từng người không? Để đưa ra những phương pháp tập đem lại hiệu quả nhất. Việc này chỉ có thầy biết rõ hơn ai hết.

Tu theo Mật Tông bắt buộc phải có thầy, mà phải là thầy đã giác ngộ, đã đắc đạo. Không thể tự đọc sách, nghiên cứu lý thuyết rồi đọc vài ba câu chú là xong. Dĩ nhiên người thầy phải là người có đủ kinh nghiệm, có ấn chứng, như vậy hướng dẫn học trò mới có hiệu quả. "GURU" có nghĩa là tan biến bóng tối, thầy phải là người làm tan bóng tối đối với chính mình trước khi ban ánh sáng cho người khác. Tu theo Mật Tông, chẳng may gặp phải thầy thiếu kinh nghiệm, rất dễ lạc vào tà đạo hay cảnh giới huyển hoặc vô cùng nguy hiểm.

Việc hành trì Mật Tông rất khó, đòi hỏi người tu phải có một thân thể cường tráng, ý chí cương quyết, tập trung tư tưởng, khai mở trí tuệ để nhìn xuyên qua màn vô minh, thẳng vào thực tướng của sự vật. Do đó, trước khi tu, phải phát hạnh nguyện rộng lớn để làm kim chỉ nam hướng dẫn đời mình. Nghiêm giữ giới luật, mở lòng từ bi, quán chiếu tánh không, tâm vô sở cầu mới mong tránh được nguy hiểm.

Trong giai đoạn đầu tiên, thường ở nơi hoang vắng để giữ Thân, Khẩu, Ý được thanh tịnh. Nhờ sức gia trì của chư Phật, chư Bồ Tát và các chư Tổ qua sự trì tụng thần chú khẩu quyết, tâm thức trở nên lắng trong, sẳn sàng đón nhận thần lực gia trì. Khi đã thuần thục, tâm thức hoàn toàn tĩnh lặng, dứt mọi vọng niệm thì mới bước vào giai đoạn hợp nhất, không còn phân biệt chúng sanh với pháp giới, quán triệt tánh không. Lúc bấy giờ mới nhập pháp giới giúp đỡ chúng sinh. Mỗi cử chỉ đều là ấn quyết, mỗi lời nói đều là chân ngôn, tâm không còn ô nghiễm. Nói theo hình ảnh của Thiền là "THỎNG TAY VÀO CHỢ".

Riêng ở Tây Tạng, các sách vỡ thường dùng từ "Lạt Ma Giáo" [Lamaism] để chỉ Phật giáo Tây Tạng. Đây là một từ không đúng, bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết về phong tục và ngôn ngữ Tây Tạng. Thực tế "Lạt Ma" có nghĩa là học giả đã tốt nghiệp Phật học. Lạt Ma không hẳn là một tu sĩ, nhưng tất cả tu sĩ đều là Lạt Ma, vì họ đã đậu trong các kỳ thi Phật học. Lạt Ma giáo thường được hiểu như một biến thái của Phật Giáo; đây cũng là một sự ngộ nhận vô cùng. Phật Giáo Tây Tạng được xây dựng trên cơ sở Phật Pháp, được áp dụng một trong nhiều phương pháp do Phật Thích Ca giảng dạy, đó là Mật Tông [Tantrism].

Sunday, May 15, 2011

ĐIỀU CẦN BIẾT KHI TU THIỀN

Hành thiền giúp phát triển sự tỉnh thức và năng lực cần thiết để chuyển hóa các thói quen đã ăn sâu vào tâm ý.
Một số người có vấn đề như buồn nản, sợ hãi vô lý hay có biểu hiện của bệnh tâm thần, họ nghĩ rằng thiền là phương cách điều trị tức thời cho những vấn đề này. Họ bắt đầu hành thiền, đôi khi vấn đề của họ trở nên tồi tệ hơn. Khi bạn có vấn đề như thế nên tìm sự giúp đỡ của vị thầy có kinh nghiệm hoặc chuyên gia tâm lý, Sau khi điều trị và cảm thấy tinh thần khá hơn, lúc đó mới hành Thiền.

Thiền là gì?
Thiền là nỗ lực có ý thức để làm thay đổi và chuyển hoá của tâm. Tiếng Phạn là “Bhavana”, nghĩa là làm “Tăng trưởng” hay “Phát triển”.

Thiền có quan trọng không?
Thiền rất quan trọng. Chúng ta muốn tốt đẹp bao nhiêu, khó mà thay đổi tâm ý, không thể thay đổi những tham dục vốn đã tạo nên cách hành xử. Ví dụ, người có thể nhận ra rằng mình hay nóng nảy với vợ, anh ấy tự hứa “Từ đây về sau, tôi sẽ không nóng nảy như thế”. Một giờ sau, anh ấy vẫn có thể la mắng vợ mình, đơn giản là anh ấy không tự biết mình, nóng nảy đã bùng phát mà anh không biết. Hành thiền giúp phát triển sự tỉnh thức và năng lực cần thiết để chuyển hóa các thói quen đã ăn sâu vào tâm ý.

Tôi nghe nói rằng, hành thiền có thể rất nguy hiểm. Điều này có đúng không?
Chúng ta cần ăn muối để sống nhưng ăn một ký-lô muối thì nó sẽ giết bạn. Để sống trong thế giới hiện đại, bạn cần xe ô tô, bạn không tuân theo luật giao thông hay trong lúc lái xe lại say rượu thì xe ô tô trở thành cái máy nguy hiểm. Hành thiền cũng giống như thế, nó cần thiết cho sự an lạc tinh thần, bạn thực hành một cách hời hợt, thiếu phương pháp, nó sẽ tạo ra nhiều vấn đề. Một số người khi hành thiền, lại cố gắng quá mức, thay vì hành thiền từng bước một, họ lại thực hành với quá nhiều sự nỗ lực và đầy tham vọng, chẳng bao lâu họ sẽ chán nản và kiệt sức.

Phần lớn những vấn đề xảy ra trong khi hành thiền  là do loại “Thiền Kăng-ga-ru” hay “Thiền chạy nhảy” (Kangaroo, Đại thử, là loài thú có túi trước bụng đặc biệt ở Úc, có thể nhảy xa bằng hai chân sau rất khỏe). Một số người đến vị thầy để học thiền rồi áp dụng phương pháp thiền của vị ấy trong một thời gian; sau đó họ đọc sách, quyết định thực hành theo sự chỉ dẫn trong sách; một tuần sau, có thiền sư nổi tiếng viếng thăm thành phố, họ quyết định phối hợp một số lời dạy của vị ấy vào việc tu thiền; chẳng bao lâu, họ rơi vào tình trạng hoang mang, thất vọng, chạy nhảy giống như con Kăng-ga-ru, từ phương pháp này sang phương pháp nọ là việc làm sai lầm. Đối với những người này, họ không bao giờ thành công trên bất cứ mọi lĩnh vực nào cả, kể cả việc học Thiền.

Có mấy pháp hành thiền?
Có rất nhiều phương pháp hành thiền khác nhau, mỗi pháp đối trị vấn đề đặc biệt hay để phát triển trạng thái tâm lý đặc biệt. Tuy nhiên, hai pháp thiền phổ thông và hữu dụng nhất là Quán niệm hơi thở (anapana sati) và Quán từ bi (metta bhavana).

Làm thế nào để hành thiền Quán niệm hơi thở?
Bạn làm theo bốn bước đơn giản: Chọn nơi yên tĩnh, thoáng mát, giữ tư thế ngồi, theo dõi hơi thở .Bạn tìm nơi thích hợp, có thể căn phòng không ồn ào và tại nơi đó, bạn không bị quấy rầy. Thứ hai, bạn ngồi trong tư thế thoải mái, tư thế tốt nhất là ngồi với chân xếp lại, dưới mông có kê gối, lưng thẳng, hai bàn tay xếp lên nhau đặt ở vùng bụng dưới, nhắm  khép nhẹ. Cách khác, bạn có thể ngồi trên ghế nhưng phải giữ lưng cho thẳng.
Bước tiếp theo là phần thực hành. Bạn ngồi yên tịnh với mắt khép lại,  cảm nhận  vào sự chuyển động của vùng bụng dưới khi thở ra, thở vào. Thực hiện điều này bằng cách đếm hơi thở [sổ tức]hay theo dõi  [tuỳ tức] sự phồng xẹp của bụng. Trong khi hành thiền, có nhiều vấn đề khó khăn có thể sinh khởi  trong tâm bạn. Bạn có thể thấy ngứa ngáy, khó chịu trong cơ thể hay đau nhức ở đầu gối. Điều này thường xuyên xảy ra, bạn cố gắng giữ cơ thể thư giãn, không nhúc nhích và tiếp tục để tâm vào hơi thở, có nhiều ý nghĩ xuất hiện ở tâm, làm xao lãng việc chú tâm vào hơi thở, cách duy nhất để xử lý vấn đề này là phải kiên nhẫn, tiếp tục đem tâm trở lại với hơi thở. Bạn tiếp tục làm như thế, dần dần các ý nghĩ kia sẽ yếu đi, việc định tâm sẽ dễ dànghơn, bạn sẽ có được những giây phút đi sâu vào an lạc và thanh tịnh nội tâm.

Tôi nên hành thiền bao lâu?
Bạn hành thiền mỗi lần 15 phút trong tuần đầu; rồi gia tăng 5 phút mỗi tuần, cho đến khi có thể hành thiền trong 45 phút là tốt nhất. Sau vài tuần lễ hành thiền đều đặn mỗi ngày như thế, bạn sẽ bắt đầu thấy việc định tâm trở nên tốt hơn, những ý tưởng tán loạn giảm dần, có những giây phút an hòa và tĩnh lặng thật sự.

Còn Quán từ bi thì sao? Phương cách thực hành như thế nào?
Bạn quen thuộc với pháp thiền Quán niệm hơi thở và thực hành đều đặn, có thể bắt đầu hành thiền Quán từ bi. Pháp hành này nên thực hiện hai hay ba lần mỗi tuần, sau khi bạn hành thiền Quán niệm hơi thở. Trước tiên, bạn chú tâm vào chính mình và tự hỏi những lời như: “Xin cho tôi được khỏe mạnh và hạnh phúc. Xin cho tôi được bình an và tĩnh lặng. Xin cho tôi thoát khỏi mọi hiểm nguy. Xin cho tâm tôi không còn sân hận. Xin cho tâm tôi tràn đầy tình thương. Xin cho tôi được khỏe mạnh và hạnh phúc”. Sau đó, bạn nghĩ đến những người khác, từng người một, từ người thân thương cho đến những người bạn bình thường - nghĩa là người mình không thương mà cũng không ghét, cuối cùng là đến những người mà mình không ưa thích; ước nguyện cho họ an vui như bạn đã ước nguyện cho chính mình.

Pháp hành thiền Quán từ bi này có lợi ích gì?
Bạn thực hành thiền Quán từ bi này một cách đều đặn với thái độ đúng đắn, sẽ thấy trong người có nhiều thay đổi tích cực. Bạn sẽ thấy mình có thể chấp nhận và tha thứ cho chính mình, tình cảm dành cho người mình thương gia tăng thêm, mình thân thiện hơn với người mà trước đây mình thờ ơ và không quan tâm; những ác ý hay sân hận mà bạn đã có với người nào đó nay sẽ giảm đi, cuối cùng sẽ tan biến. Thỉnh thoảng, bạn biết ai đó đang lâm bệnh, buồn khổ hay gặp khó khăn, có thể nghĩ đến họ trong lúc hành thiền từ bi, thường thì bạn sẽ thấy tình cảnh của họ được cải thiện.

Điều ấy có thể xảy ra như thế nào?
Tâm ý khi được phát triển đúng đắn là công cụ rất hùng mạnh. Chúng ta biết tập trung năng lực tinh thần và hướng đến người khác, có thể ảnh hưởng đến họ. Hẳn bạn đã có kinh nghiệm như thế. Bạn đang ở trong phòng đông người và có cảm giác rằng ai đó đang chú ý đến mình. Bạn xoay một vòng xem và biết chắc là ai đang nhìn chằm chằm vào mình. Điều này đã xảy ra khi bạn bắt được năng lực tinh thần của người khác. Thiền Quán từ bi cũng giống như vậy. Chúng ta hướng năng lực tinh thần tích cực tới người khác, dần dần sẽ chuyển hóa được họ.

Tôi có cần vị thầy hướng dẫn hành thiền không?
"Không thầy đố mày làm nên". Người thầy là người đã từng trải và cũng tích luỷ rất nhiều kinh nghiệm. Vì vậy phải cần có một vị Thầy thì chắc chắn sẽ có lợi ích cho mình hơn. Bạn phải cố gắng tìm một vị Thầy có danh tiếng tốt, có đủ đạo đức và nhân cách tốt.

Tôi nghe nói rằng, thiền định ngày nay được các chuyên gia về tâm thần, các nhà tâm lý học áp dụng rộng rãi. Điều đó có đúng không?
-  Đúng như thế. Ngày nay thiền được thế giới quan tâm rất nhiều, nó ảnh hưởng  đến đời sống tâm linh và trị liệu được những loại bệnh tâm thần, được nhiều chuyên gia về sức khỏe áp dụng, để giúp làm thư giản, vượt qua những đau khổ và mang đến sự tỉnh thức và bình an cho chính mình.

Friday, May 6, 2011

Ý NGHĨA CỦA PHÓNG SINH

Chúng ta cần phải xét lại việc phóng sinh chim và thả cá. Chim bị bắt nhốt vào lồng, cá bị bắt thả trong chậu bán ngoài chợ là do người giăng lưới vây bắt vì nhu cầu tiêu thụ, để ăn hoặc để phóng sinh. Điều này có nghĩa là nếu không có nhu cầu mua chim cá thì chim cá sẽ không bị giăng lưới và nhốt vào lồng chậu. Qua sự kiện này chúng ta nhận thấy, vì muốn phóng sinh nhằm tạo phước mà người phóng sinh lại vô tình thúc đẩy những người khác giăng lưới bắt chim cá, đến nỗi tự họ lại mắc vào nghiệp sát sinh.

Ngoài ra, chim cá bán ngoài thị trường để cung ứng cho nhu cầu phóng sinh tại các đô thị thường là do người ta bắt ở các ao cá, vườn chim. Những sinh vật này có thể sẽ không thích ứng với hoàn cảnh mới. Hơn nữa, các giống chim, cá đều có thói quen của chúng. Có những loài cá phải sống trong những hoàn cảnh nhất định như chất nước, độ sâu, độ chảy. Cá sông không thể sống dưới biển và cá biển không thể sống dưới sông. Chỉ có những con chim bồ câu bị bắt để phóng sinh thì may ra ít khổ nhất, chúng chỉ bị tù túng mấy ngày, có thể là phải chịu đói khát, nhưng nếu sống sót cho đến lúc được phóng sinh mà còn đủ sức để bay thì cũng có nhiều cơ may có thể “trở về mái nhà xưa”, vì loài chim bồ câu vốn nhớ đường về, chúng sẽ có thể bay về với gia đình, sẽ được chủ nó cho ăn uống bồi bổ lại sau những ngày bị giam cầm tù tội và đói khát.

Trong tình hình như vậy, có nên phóng sinh hay không ? Chúng tôi nghĩ rằng điều này nên để quý vị tự định đoạt. Tuy nhiên, việc bắt, mua bán rồi thả, rồi bắt lại v.v...là không đúng với tinh thần phóng sinh. Phóng sinh chỉ có ý nghĩa khi chúng ta giải thoát được con vật trong hoàn cảnh ngẫu nhiên hay thả chúng sống trong một môi trường thích hợp, tạo cho chúng có cơ hội sống dài lâu hơn. Không nhất thiết phải mang chúng đến chùa mới phóng sinh được. Chỗ nào thích hợp thì thả chúng.

Thật ra việc phóng sinh ai cũng có thể làm, không nhất thiết phải có tiền (mua chim cá) mới thực hành được. Chỉ cần có tấm lòng từ bi thương xót chúng sinh, xem mọi loài chúng sinh đều bình đẳng, đều có quyền sống. Khi đi bộ trên đường thấy con giun đang giẫy giụa trước sức nóng mặt trời, chúng ta mang chúng vào nơi có đất ẩm, hay gặp con sên đang bò trên vỉa hè, chúng ta nhặt chúng đem vào bãi cỏ xanh mát. Hoặc là khi khởi tâm muốn phóng sinh, chúng ta rủ bạn bè, thân nhân, đi ăn một bữa cơm với rau đậu, như thế là chúng ta cũng đã có thể cứu dăm ba mạng tôm, cua, sò, cá, chim câu, vân vân, thế là cũng đã thực hiện hạnh phóng sinh rồi.

Theo quy luật nhân quả, mình có lòng muốn cho chúng sinh khỏi đau đớn, giải thoát chúng sinh, thì mình cũng sẽ được khỏi đau đớn, được giải thoát. Nhưng đó chỉ là kết quả tự nhiên của những hành động từ thiện, không phải mục tiêu của sự phóng sinh trong nhà Phật. Nhà Phật phóng sinh là vì lòng từ bi. Nói như thế không có nghĩa là hành động phóng sinh chỉ đem lại ít lợi ích. Thật ra việc phóng sinh đúng cách và với Tâm Vô Sở Cầu thì sẽ có kết quả vô cùng lớn lao, là vơi đi nghiệp sát đã vướng phải trong vô lượng kiếp.

LÀM CÔNG QUẢ

THÍCH THÔNG LẠC
 
Trong thời Đức Phật còn tại thế, vấn đề làm công quả thì gần như không có. Vì là một du tăng khất sĩ, sống rày đây mai đó, không có ở một chỗ nào quá lâu, nên vấn đề công quả không cần thiết. Các tu sĩ, mỗi buổi sáng đi khất thực để sống ngày một bữa, nên dồn tất cả thời gian rãnh rang vào tu tập và rèn luyện pháp hướng tâm.

Cho nên một số người hiện giờ làm công quả từ chùa nầy đến chùa khác để tìm cầu sự giải thoát thì chắc chắn không bao giờ có được, chỉ uổng cho một đời tu hành bị người khác lừa đảo, làm công không cho họ mà họ không tốn tiền.

"Làm công quả để được phước báo", điều này chúng ta dễ bị lừa. Phước báo của đạo Phật là do chính mình ngăn ác, diệt ác pháp, hoặc ly dục ly ác pháp thì phước báo đến liền với mình ngay tức khắc. Còn làm công quả thì thân thể mệt nhọc, tâm sanh ra buồn ngủ; cơ thể mệt nhọc, tâm sanh ra buồn ngủ là trạng thái mất tỉnh thức. Mất tỉnh thức tức là vô minh, mà vô minh thì làm sao có phước được?

Người làm công quả thì không bao giờ tu được. Nếu suốt đời làm công quả thì cũng chỉ là một người làm công cho kẻ khác, chẳng có ích lợi gì cho mình, chỉ là một người ngu mà thôi.

Khi bước vào đạo Phật trong chiếc áo của người cư sĩ (nghĩa là chưa thọ giới luật) nếu chúng ta có thể làm được những gì để giúp cho chư tăng yên tâm tu hành thì cứ làm. Đó là gieo nhân tu hành cho chúng ta ở ngày mai, chứ không phải làm công quả để cầu phước báo. Nghĩ như vậy là sai lầm.