Friday, May 6, 2011

NHỮNG ĐIỀU CÓ THỂ BẠN CHƯA BIẾT VỀ THIỀN

HỌC THIỀN ĐỂ LÀM GÌ ?

Ngày nay có rất nhiều người nghe nói  về thiền và cũng rất muốn học một phương pháp thiền nào đó để nhằm cải thiện tình trạng sức khoẻ hoặc giảm stress. Cũng có một số người ham mê những thần thông hoặc phép lạ để trở thành những nhà ngoại cảm tài giỏi, cũng có một số thiền sư tập thiền để phát huy trí tuệ, tiến tới giác ngộ, giải thoát. Nhưng trên thực tế ít có ai thành công trên lĩnh vực thiền hoặc có đủ kiên trì đễ theo đuổi môn này, ngoại trừ đối với những người có căn cơ từ kiếp trước hoặc may mắn thọ giáo được vị thầy có đủ kinh nghiệm.

LÀM SAO ĐỂ BIẾT RẰNG CÓ CĂN CƠ?

Người có căn cơ về thiền thì họ thường có những hiện tượng sau đây: Họ rất thích thú khi ngắm nhìn một người đang ngồi thiền yên lặng trong tư thế hoa sen, hoặc là khi vào chùa họ thường nhìn vào các bức tượng Phật đang ngồi tỉnh toạ. Về sách báo, họ chỉ chọn những loại sách nói vế thiền, và chỉ thường trao đổi thông tin và nói chuyện về thiền. Với những hiện tượng trên, chắc chắn là người này có căn cơ của thiền. Đối với người này nếu họ đi vào con đường Thiền, họ sẽ tiến bộ rất nhanh.

CHỌN MỘT PHƯƠNG PHÁP THIỀN

Có rất nhiều phương pháp thiền, người học thiền cần phải biết rõ mình thuộc loại nào, để chọn cho mình một con đường thiền đúng đắn nhất. Nếu ngay bản thân mình chưa thể chọn cho mình một con đường thì hãy nhờ đến các minh sư chỉ giúp. Người minh sư là người đã từng trải và có nhiều kinh nghiệm, có thể trong những lần trao đổi với mình, người thầy sẽ nhận ra được con đường đúng đắn nhất, và hướng dẫn cho mình một phương pháp thiền đem lại hiệu quả nhất. Tuy nhiên trong thời buổi vàng thau lẫn lộn, ta khó có thể nhận ra được đâu là một vị chân sư chân chính hoặc đắc đạo.

HỌC THIỀN CÓ CẦN PHẢI ĐỌC THÊM SÁCH VỞ KHÔNG?

Trả lời: KHÔNG CẦN và CẦN.

Học thiền là học một "PHƯƠNG PHÁP ĐỂ HÀNH THIỀN", chứ không phải là học "NHỮNG CÁI CHỨNG ĐẮC CỦA VỊ THẦY", dù những chứng đắc ấy là của một vị Phật hoặc của những vị tổ sau này. Điều sai lầm của những người "tu thiền" ngày nay là họ thường đem kinh sách THIỀN ra để mà bàn luận và giảng giải xuyên qua sự hiểu biết của mình, ở trong phật giáo gọi đó là hý luận, hay là sở tri chướng.
-Việc đọc sách sẽ giúp cho ta có thêm kiến thức, chứ không thể giúp cho ta có thêm kinh nghiệm. Khi kiến thức quá nhiều sẽ làm cho ta tưởng là đã có kinh nghiệm. Chính cái kiến thức này sẽ làm lu mờ cái trí vô sư của người tu thiền. Nói chuyện về thiền mà cứ mượn của người khác để nói... ở trong văn học gọi là đạo văn, ở trong âm nhạc gọi là đạo nhạc. Những thiên tài của văn học, họ không bao giờ đọc một tác phẩm của bất kỳ một nhà văn nào, những thiên tài về âm nhạc, họ không cần nghe bất cứ một đoạn nhạc nào của bất kỳ một nhạc sĩ nổi tiếng nào. Và cần đọc sách là khi nào ta đã giác ngộ, khi ấy sách chỉ là chứng minh cho sự giác ngộ của ta mà thôi

CẢM NHẬN VỀ THIỀN
  • Thiền là một trạng thái tâm thức không thể định nghĩa, không thể miêu tả, mà phải do tự mỗi người thực nghiệm. Trong nghĩa này thiền không nhất thiết phải liên hệ với bất cứ tôn giáo nào, kể cả phật giáo. Trạng thái tâm thức vừa nói trên đã được các vị thánh nhân xưa nay của mọi nơi trên thế giới, mọi thời đại và văn hóa khác nhau trực nhận và miêu tả bằng nhiều cách. Thiền giúp con người khám phá bản thể thật sự của mình đang mỗi lúc hiện diện. Người học thiền không cần phải tin theo bất cứ một tôn giáo nào, hay là phải theo một tôn giáo nào. Mà thông qua sự tập luyện, phát triển tâm linh của chính mình để cảm nhận được sự thay đổi của bản thân, và từ đó sẽ trở thành con người hoàn toàn đổi mới từ tinh thần đến thể xác.
  • Thiền là sống, là sáng tạo, luôn luôn mới mẻ tinh khôi, không nằm trong một khuôn khổ chết hay một ước lệ nào. Thiền là mình tự thể nghiệm, đọc luận giải của người khác thường làm cho ta khó hiểu. Vào thiền phải buông bỏ những kiến thức vay mượn ở bên ngoài để phát triển trí vô sư, trí tự nhiên nơi mỗi con người. Đây là con đường thể nghiệm chân lý trực tiếp nơi chính mình, không qua trung gian của ý thức, suy luận.
THIỀN VÀ QUYỀN NĂNG

Quyền năng hay phép lạ đó là những dấu hiệu trong quá trình tu thiền, nhưng đó không phải là mục tiêu mà người tu thiền nhắm đến. Người tu thiền trong nhiều năm có thể chứng nghiệm một vài quyền năng và những năng lực siêu nhiên. Ví dụ như biết được ý nghĩ, ý tưởng của người khác, biết quá khứ vị lai, biết kiếp sống trước của mình. Tuy nhiên những năng lực siêu nhiên này sẽ là chướng ngại trên đường tu tập. Nếu hành giả đam mê quyền năng hoặc để quyền năng chi phối sẽ không thể tiến xa hơn trên đường giác giác ngộ, giải thoát.

TỨC GIẬN

MINH NIỆM

Sau mỗi cơn giận, ta thường cảm thấy hối tiếc và ray rứt bản thân
tại sao lại có những phản ứng thấp kém như vậy...

Mỗi khi nổi giận, ta thường cho rằng chính người kia đã làm cho ta giận, như thể cơn giận đang ở trong ta là do họ đem tới. Vì thế ta luôn tìm mọi cách trả đũa, dù ít nhất là một câu nói hay một hành động khiến người kia phải đau điếng thì ta mới hả dạ. Ta cho rằng mình phải làm như thế thì mới mạnh mẽ, để họ không còn dám chọc giận mình nữa. Sự thật là càng trả đũa thì cơn giận càng lớn mạnh, ta càng đuối sức và chính ta chịu lỗ lã nhiều nhất. Bởi khi giận, năng lượng trong ta bị đốt sạch, cơ thể liên tục phóng thích ra các chất kích thích adrenaline và cortisol gây rối loạn chu trình sinh học của cơ thể, nhất là nhịp tim và hơi thở tăng dồn dập. Tệ hại hơn là ta rơi vào tình trạng “hôn mê tạm thời”, nhìn mọi thứ đều sai lệch, suy nghĩ không còn sáng suốt và không thể kiểm soát nổi mọi hành vi của mình.

Nếu thế hệ phía trước, mà gần nhất là cha mẹ, có tính nóng giận thì ta khó thoát khỏi sự trao truyền từ nhiễm thể (DNA), hay từ sự tưới tẩm hằng ngày của họ qua cách nói năng và hành động. Môi trường lớn lên và làm việc cũng đóng góp đáng kể cho tính cách nóng giận hình thành trong ta. Sự nuông chiều và nể trọng rất dễ khiến ta có thói quen muốn gì được nấy hay muốn chứng tỏ quyền lực trước mọi người, vì vậy chỉ cần có chút việc bất như ý là ta lập tức nổi giận ngay. Đã vậy ta còn bị ảnh hưởng tâm thức xã hội nên cho rằng cơn giận là bản năng tự vệ của con người, nhờ nó mà người khác không dám uy hiếp mình, và đó cũng là cách giải tỏa cảm xúc để ta lấy lại cân bằng khi gặp điều phiền toái. Nhưng thực chất là ta đã thất bại; ta đã không thể bảo quản hạt giống giận của mình; ta chưa thuần phục được bản tính hơn thua cố hữu; ta không biết cách giải bày sự không hài lòng một cách hiểu biết hơn.

Chuyển hóa cơn giận

Sau mỗi cơn giận, ta thường cảm thấy hối tiếc và ray rứt bản thân tại sao lại có những phản ứng thấp kém như vậy. Ta biết mỗi lần tức giận là mỗi lần ta đánh mất hình tượng đẹp và suy giảm niềm tin yêu trong mắt người khác, nên lòng cứ dặn lòng sẽ không để cơn giận thao túng thêm nữa. Nhưng khi gặp chuyện trái nghịch, nhất là tổn hại đến quyền lợi hay danh dự là cơn giận cứ “không hẹn mà đến”. Dù lúc ấy có ai nhắc nhở ta cũng gạt ngang, lý trí cũng đứng lặng chào thua cảm xúc. Từ thất bại này đến thất bại khác, ta trở nên căm ghét cơn giận của mình, trách cha mẹ trao chi cho mình cái tính làm khổ mình khổ người như thế.
Thật ra hạt giống giận trong ta nếu không được nuôi dưỡng thường xuyên thì nó không đủ sức làm ta khổ. Từ những điều bất như ý nhỏ nhặt trong đời sống hằng ngày như bị kẹt xe, xếp hàng mua đồ, gọi điện người thân không nhấc máy, thức ăn không vừa miệng, người kia quên chào hỏi… đến những phiền toái do chính mình gây ra như mở nhầm chìa khóa, uống nước bị bỏng miệng, trượt chân cầu thang, tìm mãi không ra quyển sách, hồi tưởng quá khứ đau buồn… nếu ta không quan sát những phản ứng chống đối tiêu cực như thế để buông xả bớt, thì cơn giận chắc chắn sẽ hình thành như một phản xạ tự nhiên. Khi nguồn năng lượng giận gần như được mặc định trong tâm thức, chỉ cần một hành động không dễ thương cũng đủ kích hoạt vào để nó nhanh chóng biến thành cơn giận to tát mà chính ta cũng rất bất ngờ.

Khi phát hiện ra cơn giận đang nổi lên và sắp sửa “bung” ra lời nói hay hành động, ta hãy mau chóng tìm cách tách ly khỏi đối tượng vừa mới tác động vào cơn giận của mình. Lý tưởng nhất là ngồi trong căn phòng yên tĩnh hay dạo bước trên con đường râm mát. Trong trường hợp không thể tách ly hoàn cảnh thì ta cứ ngồi yên đó, cố gắng đừng mở lời nói thêm một câu hay một từ nào dù ta cho đó là lời giải thích thỏa đáng. Mọi hành vi xảy ra trong cảm xúc giận hờn đều khiến ta hối tiếc sau này. Ta hãy cố quên đối tượng kia đã làm hay đã nói gì với ta, mà chỉ đem hết tâm ý tập trung vào mỗi hơi thở. Nếu ta đã có sẵn kỹ năng theo dõi hơi thở để định tâm thì chỉ cần 15 phút sau là sẽ vượt khỏi. Điều mà ta phải mất nhiều thời gian để luyện tập là mỗi khi nổi giận ta chỉ dành hết mọi ưu tiên cho cơn giận của mình. Cũng như khi căn nhà bị cháy thì ta chỉ lo chữa cháy để cứu lấy những tài sản quý báu bên trong, chứ không vội truy cứu kẻ mà ta tình nghi đã đốt nhà. Chuyện đó “hạ hồi phân giải”.

Hơi thở là điểm tựa rất an toàn mỗi khi ta bị những cơn bão cảm xúc tấn công mà không biết phải làm sao. Tuy nhiên, nếu cứ sử dụng cách này mãi thì ta sẽ không bao giờ hiểu rõ cơn giận của mình. Không hiểu rõ cơn giận thì muôn đời ta cũng không chuyển hóa được nó, sẽ mãi bị nó phiền nhiễu. Cho nên sau khi luyện tập được thói quen nhìn lại mình mỗi khi nổi giận, thay vì trước đây cứ tìm cách trả đũa, ta hãy dành nhiều thời gian để quan sát tiến trình từ khi cơn giận biểu hiện lên bề mặt ý thức, thôi thúc ra hành động, đến khi nó tan biến. Khi có kinh nghiệm ta sẽ phát hiện cơn giận thật ra không có thật, nó chỉ là nguồn năng lượng được sinh ra bởi vài sai sót trong sự vận hành của guồng máy tâm thức. Trong đó có nhận thức sai lầm, trí tưởng tượng phóng đại, cảm xúc bén nhạy, các giác quan không được phòng hộ cẩn thận. Chỉ cần duy trì khả năng quan sát tiến trình ấy lâu bền, bằng thái độ không thành kiến, từ từ sẽ thấy rõ bản chất thật của cơn giận và dễ dàng chuyển hóa.

Tuy nhiên, lỗi thường mắc phải là ta nghĩ mình sẽ hết nóng giận ngay khi đã biết luyện tập. Một thói quen được hình thành trong thời gian quá dài thì không thể thay đổi trong một sớm một chiều. Tiến trình quan sát cơn giận có thể đem tới cho ta những khó chịu bất ngờ trong giai đoạn ban đầu, nhưng dần dà ta sẽ quen và cảm thấy rất thú vị như xem một bộ phim hành động. Ta cứ ngồi đó quan sát cơn giận của mình như đang ngả người ra sau ghế xem phim vậy. Trong trường hợp bất hại, ta cứ để cơn giận của mình nổi lên một cách tự nhiên, nhưng khác với mọi lần là ta có quan sát. Lẽ dĩ nhiên cơn giận vẫn cứ xảy ra theo tốc độ của riêng nó, ta không có ý rượt đuổi theo để dập tắt, mà chỉ quan sát để thấu hiểu cơ chế hoạt động của nó như thế nào. Mỗi lần quan sát sẽ cho ta một cái thấy mới về bản chất vô thường của cơn giận, nhận thức sai lầm trong ta từ đó sẽ rơi rụng. Ta cần kiên nhẫn để điều chỉnh lại cơ chế hoạt động của tâm thức, chứ không phải muốn điều khiển được cơn giận. Khi ta chưa thấu hiểu cơn giận thì dù có điều khiển được nó cũng chỉ là giải pháp tạm thời.

Có thương đừng giận

Ta cũng đừng vội thỏa mãn cho kết quả thực tập ban đầu dù không còn dễ giận như trước nữa, thậm chí có thể mỉm cười thật tươi để nghe lời quở trách của sếp hay hành động bất cẩn của một bạn đồng nghiệp. Nhưng hãy đợi đấy. Khi về đến nhà, bất ngờ bị người thương nghi ngờ hay phán xét một cách vô căn cớ thì cơn giận “năm xưa” sẽ lập tức quay về. Thế nhưng ta lại biện minh “có thương mới giận”. Đối với người dưng nước lã thì sao cũng mặc kệ, ta chẳng cần quan tâm vì họ chẳng liên quan gì đến ta. Đằng này, một người sống với ta chừng ấy năm trời, lúc nào ta cũng tin yêu và sẵn sàng cho tất cả mà lại đối xử như vậy thì thật xúc phạm. Không giận mới là chuyện lạ. Sự thật là ta đang tức tối trước “đòn tấn công” mà không hề có ý thức phòng thủ, vì tưởng rằng ta đã hết lòng với ai thì người đó không được quyền làm ta tổn thương. Không ngờ chính tự ái quá lớn đã làm ta tổn thương.

Đòi hỏi một người đừng bao giờ có những vụng về, lầm lỡ với ta chỉ vì ta đã từng nâng đỡ hay hiến tặng cho họ quá nhiều thứ thì đúng là một ảo tưởng. Thử đổi lại vị trí ấy ta có chấp nhận không? Đời sống ngày càng nhiều áp lực, chỉ mỗi khó khăn kinh tế cũng đủ khiến người ta “mất hồn”, dễ bỏ quên bản thân mình và thường xuyên sai sót. Nếu ta là người có hiểu biết và đang bình ổn thì hãy giúp họ tươi tỉnh lại để nhận diện ra chính mình và cuộc sống mầu nhiệm đang hiệu hữu, chứ lẽ nào muốn quẳng thêm vào họ cơn thịnh nộ nẩy lửa của ta nữa. Chỉ trừ không tự chủ được mình thôi, chứ ta đừng bao giờ giả bộ nổi giận để mong bên kia thức tỉnh và hành động đúng đắn trở lại. Bởi không ai thích đón nhận những cảm giác nặng nề, khó chịu cả. Dù biết mình có lỗi và không thể phản kháng ra mặt, nhưng họ sẽ rất mệt mỏi và bất mãn ta. Không cẩn thận, cách đó có khi bị hiểu lầm là thái độ trừng phạt không thương tiếc nên họ nuôi hận trong lòng và sẽ làm cho tình trạng càng đi xa hơn.

Phiền não vốn rất tinh tế, nếu không có một kỹ năng quan sát tốt thì khó mà phát hiện hết những “góc khuất”, để một ngày nào đó ta không thể tin cơn giận cuồng điên bỗng từ đâu tràn ra như thác lũ. Bởi do ta chủ quan tưởng mình không còn giận hờn nữa, hoặc chỉ giả bộ để ra uy, hoặc trình diễn để lấy lòng kẻ khác mà không thấy những đợt sóng giận tức đang ngấm ngầm. Mỗi ngày một chút, năng lượng giận hờn kết tinh thành một khối rất lớn mà người ta thường gọi đó là nội kết. “Cục nội kết” này gần như chi phối mọi hành vi của ta, lúc nào cũng khiến ta cau có hay gây sự với đối tượng ấy mặc dù họ chẳng làm gì với ta cả. Hóa ra, ta đã không hiểu hết tâm cố chấp và chưa đủ độ lượng của mình, dù trong ý chí ta cho rằng chuyện ấy không là vấn đề. Thế mới biết, hiểu biết về những ngõ ngách sâu kín trong tâm mình còn quan trọng hơn dập tắt được ngay một cơn giận. Cho nên khi nào ta còn nâng niu cái tôi của mình thì cơn giận vẫn còn, bởi tình thương chính là “khắc tinh” của cơn giận.

Cơn giận cũng vô thường
Nắng bừng vỡ màn sương
Mời lên tâm tỉnh thức
Càng nhìn lại càng thương.

Wednesday, May 4, 2011

KHÁI NIỆM VỀ CÔNG TRUYỀN VÀ BÍ TRUYỀN

Cũng giống như hầu hết các tôn giáo khác, truyền thống tôn giáo Tây Tạng có hai khuynh hướng: CÔNG TRUYỀN VÀ BÍ TRUYỀN. Theo khuynh hướng công truyền, các tu sĩ phải sống trong tu viện, trì giới, học Kinh. Theo khuyng hướng bí truyền, người tu phải tìm nơi hoang vắng để đi sâu vào phần nội tâm.

Mặc dù mục đích của hai khuynh hướng là giải thoát, nhưng phương pháp thì không giống nhau. Tuy nhiên đối với người Tây Tạng thì không có sự phân biệt rõ rệt giữa hai khuyng hướng. Một số tu sĩ sau một thời gian sống trong tu viện, học hỏi qua kinh điển, họ đã tìm những chỗ hoang vắng tu theo bí truyền. Và ngược lai, một số sau khi có một thời gian sống trong hang động, lại trở về tu viện học hỏi thêm. Tuỳ ý thức và trình độ cá nhân mà họ chọn khuynh hướng thích hợp.

Trên thực tế, tu theo khuynh hướng công truyền thí ít bị nguy hiểm hơn; đời sống đạo hạnh, nghiêm túc tuân giữ giới luật, hàng ngày tụng kinh, trì chú, thiền định, thanh lọc bản thân, tuy có hơi chậm nhưng mà chắc, ít gây nguy hiểm. Còn đi theo khuynh hướng bí truyền thường được coi là con đường tắt, rất nguy hiểm... vì vậy rất ít ai theo nổi.

Các danh sư Tây Tạng thường nói: "Có nhiều cách để leo lên đỉnh núi, có thể là theo con đường vòng vo, hoặc là trèo thẳng. Dĩ nhiên, chỉ có những tay thiện nghệ, có nhiều sức khoẻ, can đảm và liều lĩnh mới dám leo thẳng. Trên đường đi, bất cứ lúc nào cũng có thể sẩy tay, trượt chân rơi xuống vực sâu tan xác. Cho nên tu theo bí truyền rất khó khăn và nguy hiểm, có thể đưa tới mạng vong hoặc sa vào tà đạo."

Có điểm quan trọng cần lưu ý là dù theo con đường nào, nỗ lực cá nhân vẫn là yếu tố then chốt; cá nhân phải tự cố gắng, chớ không ỷ lại vào người hay sức mạnh nào khác. Kinh Kanguyr viết: "Đức Phật chỉ là người soi đường, tất cả chúng sinh đều phải cất bước lên đường, phải tự thân nổ lực vào việc hành trì, cộng chung với khả năng và lòng kiên nhẩn của chính mình mà tiến bước". Các vị Tổ hay các vị thầy chỉ là người đi trước, người dẫn đường, người giúp đỡ... chứ không phải là người cứu rỗi, giúp ta được giải thoát. Trên đường đạo, tự lực và tha lực đi đôi. Phải tự nỗ lực rồi sẽ được giúp đỡ khi cần, chẳng hạn như khi bị vấp ngã thì có thể được nâng đỡ, chứ không có ai cõng mình leo lên cả.

Ở tu viện, các tu sĩ phải qua các kỳ thi để có danh hiệu Lạt Ma, Đại Đức, Hoà Thượng hay Trưởng Lão. Còn các tu sĩ bí truyền phải qua các kỳ điểm đạo; việc này chỉ có thầy và trò mới biết mà thôi, nên rất dễ bị lợi dụng. Có một số thầy tự phong cho mình một danh hiệu nào đó, mục đích là để kiếm tiền. Học đạo mà không có sự chọn lựa một cách thông minh, hay bị sự tuyên truyền, vận động khéo léo của một số giáo phái tà đạo nào đó, thì rất dễ bị rơi vào chỗ tối tăm không thoát ra được. Cho nên vai trò của người thầy rất quan trọng, ta không thể đi vào con đường bí truyền mà không có người thầy đắc đạo hướng dẫn.

Phần lớn các đạo sư thử thách học trò rất kỹ trước khi truyền dạy, và ngược lại, người học trò cũng cần phải tìm hiểu kỹ càng người thầy trước khi thọ giáo. Trong việc truyền dạy, người thầy bị hao tốn rất nhiều công sức, nên đa số các thầy rất ít nhận học trò. Thầy phải theo dõi từng học trò, thấy rõ căn cơ từng người và từ đó đưa ra những giáo án thích hợp với căn cơ người đó, nhờ đó mà học trò tiến bộ nhanh hơn.

Thầy không khi nào giảng dạy nhiều người cùng một lúc, mà chỉ hướng dẫn tuỳ theo khả năng của từng người, giao cho mỗi người một đề tài riêng, một bí quyết riêng biệt để quán tưởng tu tập, rồi tuỳ theo kết quả thẩm xét của vị thầy mà chỉ bảo thêm những bước kế tiếp. Cũng có khi thầy không dạy bằng lời, mà là bằng ngay lối sống của chính thầy. Khi trò đã đạt tới trình độ nhất định nào đó, thầy cho vào nơi hoang vắng để nhập thất. Đối với người thường, thì đây có thể là một căn nhà riêng biệt, một căn phòng kín, hoặc một hang động nào đó. Đối người người tu cao, thì nó có thể là một cảnh giới nội tâm, chứ không hẳn là những địa điểm ở bên ngoài.

Lúc nhập thất, người tu phải sống cách biệt để thực hành một phương pháp nào đó. Họ không được tiếp xúc với thế giới bên ngoài, phát nguyện tịnh khẩu, các cửa đều được đóng kín, thực phẩm được đưa qua một lỗ nhỏ. Thời gian nhập thất có thể kéo dài vài ngày đến một năm, chỉ có một số ít người mới nhập thất trong vài năm đến trọn đời.

Trong không gian yên tĩnh, người tu tha hồ tham thiền, quán tưởng, nghiên cứu kinh sách hoặc bảo dưỡng tinh thần. Đối với người thường, sống đơn giản trong một hang động hay một am thất thì rất nhàm chán, nhưng đối với người cầu giải thoát thì không thấy buồn chán hay cô đơn, lẽ loi. Họ cảm thấy một niềm an lạc tuyệt vời qua những buổi thiền định.

Tuỳ theo công phu mà họ chứng đắc. Nhưng đối với các bậc chân tu chân chính, chứng đắc không phải là một nhãn hiệu, nên ít người nhận ra, đôi khi họ giả điên, giả dại để khỏi bị quấy rầy.

Saturday, April 30, 2011

YOGA VÀ CÁC TÔN GIÁO TRÊN THẾ GIỚI.

YOGA được xem như là môn tâm lý học ứng dụng vào các tôn giáo như Ấn giáo, Phật giáo, Hoả giáo và Đạo giáo; ở một cấp độ thấp hơn, nó nuôi dưỡng sự phát triển niềm tin của người Pác-ci, và ảnh hưởng đến ba tôn giáo của người Sê mít là Do Thái giáo, Thiên Chúa giáo và Hồi giáo. Dưới một hình thức thoái hoá, nó cũng có vai trò trong huyền thuật và thờ cúng vật linh của các dân tộc được coi là sơ khai. Trong các dân tộc có nền văn hoá cao hơn, các lễ cầu đảo, đuổi quỷ, cầu nguyện, tụng chú, tham thiền, tụng kinh, lần chuỗi, kỷ thuật tâm linh hay nội quán...nói chung tất cả các hình thức nghi lễ làm cho con người cảm thông với các sức mạnh cao cả hơn, hoặc giải thoát khỏi cuộc sống trần gian, đều ít hay nhiều có đượm nét của YOGA.

Việc chuẩn bị điểm đạo cho các môn đồ trong thời kỳ thượng cổ, cũng như việc nhịn ăn, giữ tâm hồn trong
sạch, thiền định, sám hối, thanh lọc cơ thể mà các môn đồ đã phải trải qua đều có ảnh hưởng của YOGA.
Lịch sử tu hành ở Đông Tây hầu như không thể tách rời YOGA, khi những người cơ đốc đầu tiên sống trong sa mạc và núi non ở Ai cập và Trung Đông, tuân thủ ba nguyện ước [sống nghèo, trong sạch và vâng lời], họ đã khắc vào niềm tin một hình thức YOGA bắt nguồn từ các tu viện ở Ai Cập, Ba Tư và Ấn Độ. Ngày nay trong các nhà thờ ở La Mã, Hi Lạp cũng như Anh Quốc, việc thực hành YOGA xuất phát từ nguồn gốc tiền Cơ Đốc này và có một tầm quan trọng rất lớn lao. Trong tất cả các tu viện Cơ Đốc, nhất là dòng Tên, các kỹ thuật huấn luyện tâm linh cho các tu sĩ đều căn cứ vào YOGA, và ở các dòng tu Hồi giáo cũng như thế.
Thật là lý thú mà thấy rằng dòng tu khổ hạnh Hồi giáo [Sufism] nhìn nhận bốn giai đoạn phát triển tâm linh của môn đồ giống hệt các hệ phái cổ đại của Ấn giáo và Phật giáo. Bốn giai đoạn trên đường đạo của dòng tu đó là:

1/ "HAST": triệt để tuân theo giáo huấn và luật lệ Hồi giáo.
2/ "TAREGUT": có thể để qua một bên các quy tắc công truyền để chỉ nghĩ đến đại định, hỷ lạc.
3/ "ARAFF": một trạng thái hiểu biết gần với thần cảm, tức nội quán của YOGA, mở các năng lực huyền bí.
4/ "HAGEGUT": tình trạng thánh thiện như A La Hán. Mọi ham muốn, tham vọng, ý tưởng phàm tục phải bị vất bỏ, vì người đã thành thánh nhân. Bốn bức màn đã rơi xuống, giờ đây tự do liên lạc trực tiếp với vần thái dương thiêng liêng mà môn đồ chỉ là một tia sáng. Giai đoạn cuối cùng này được hoàn tất trong cô đơn, xa cách mọi người. Trong sa mạc, núi cao hay rừng sâu, người đạt đạo tìm thấy sự bình yên cho phép nhập định mà không bị ngoại cảnh làm gián đoạn.

Đối với YOGA Tây Tạng, trên đường đạo cũng có những bước tương đương như trên. Bước thứ nhất là tìm hiểu tinh thần các giáo huấn ghi chép trong Kinh sách công truyền. Bước thứ hai tìm hiểu các giáo huấn đó về mặt tâm linh, tức là thấy ý nghĩa bí truyền của chúng. Bước thứ ba thấy sự thật và bước thứ tư thể hiện sự thật đó. Giống như gieo hạt, nẩy mầm, lớn lên và ra hoa quả vậy.
Trong sự tượng trưng huyền bí của các thi sĩ, người Ba Tư thuộc trường phái Omar Khayyam, cũng như trong hứng dục thần bí của các tu viện Cơ đốc, YOGA hiển bày dưới khía cạnh Bhakti. Giống như thế, nhưng dưới một hình thức khác, sự thờ phụng Isis và đứa bé Horus được biến thành thờ Đức mẹ đồng trinh và chúa hài đồng Giêsu.

1/ YOGA VÀ PHẬT GIÁO.

Mặc dù người ta cho rằng cơ bản của Phật giáo bắt nguồn từ YOGA. Ta cũng cần phải phân biệt YOGA Phật giáo với YOGA Ấn giáo và các hệ phái khác. Đối với nhà huyền học, sự khác biệt chỉ ở ngôn từ và kỹ thuật, chứ các điểm trọng yếu thì không khác.

Ta biết rằng YOGA hàm ý một sự hoà hợp một phần vào toàn thể, vi mô vào vĩ mô, tâm thức cá thể vào tâm thức vũ trụ được nhân cách hoá qua Đấng tối thượng hay Ishvara. Đối với Cơ Đốc giáo và Hồi giáo, tập YOGA là để hợp nhất với Đấng tối thượng. Đối với Phật giáo, là hoà tan giọt nước vào biển cả, hay nói một cách khác, mục đích là vượt qua Samsara [thế giới hiện tượng] để đạt tới tâm thức siêu thế gian, thể hiện niết bàn.

Đối với các bậc đại hiền triết Ấn Độ cũng như với PATANJALI và các danh tăng Phật giáo, điều cốt yếu của YOGA là vượt qua vô minh mà hợp nhất với Đại trí. Chính trong ý nghĩa này mà sự giải thoát khỏi vô minh là giáo lý của Vedanta cũng như của Phật giáo, nó giống hệt nhau dù ta gọi nó là Mukti hay Nirvana. Chắc chắn rằng giáo lý cội rễ của tất cả các niềm tin chính yếu của nhân loại là có một ánh sáng bẩm sinh trong người, dù nó le lói trong tăm tối hay nó xoá tan bóng tối đi.

Trong nội bộ Phật giáo, việc ứng dụng YOGA có vài khác biệt rõ rệt giữa Nam Tông và Bắc Tông. Khác biệt quan trọng là giáo lý về tánh không [Sunyata]. Giáo lỳ này không được Nam Tông theo, mặc dù theo các nhà đại thừa  nó có trong kinh tạng Pali : Cula Sunnata và Maha Sunnata Sutta của Majjhima Nikaja. Một khác biệt nữa là YOGA Mật tông được Bắc Tông chấp nhận, nhưng bị Nam Tông bác bỏ. Khác biệt nhỏ ở tầm quan trọng của giáo lý cho rằng có những sức mạnh vô ngã siêu nhiên mà Đại thừa cổ suý qua tượng trưng của Tam Thân [Tri-Kaya] vốn là ba ngôi bí truyền của Bắc Tông, đồng nghĩa với "cái đó" của Vedanta.
Từ Tam Thân, như các giọt nước từ biển bốc hơi lên rồi trở về biển, tất cả các sự vật được sản xuất cấu thành vũ trụ rồi trở về đó. Trong Tam Thân, có tất cả các chư Phật thuộc mọi thời đại hợp nhất vô ngã mà nhân loại khó hiểu nổi. Đối với kẻ lữ hành đi theo con đường Đại thừa để giải thoát. Tam Thân là nơi quy y siêu việt đồng thời cũng là mục đích.

Một khác biệt nữa là giáo lý Đại thừa liên quan đến các vị bồ tát [Bodhisattva], những người đã đạt tới giác ngộ, có người hiện thân ở cõi trần, có người ở cõi thiên như Di lặc [Maitreya], vị Phật tương lai. Mặc dù kinh tạng Pali có đề cập tới Bồ tát, nhưng Nam Tông thấy rằng nên chú trọng đến Phật pháp hơn là cầu nguyện các Bồ tát hướng dẫn tâm linh.

Trong tâm trí tách rời các khác biệt ghi trên, ta có thể dẫn hình ảnh của Vedanta về nhiều con đường đi đến một điểm, hoặc triết lý trong "chí tôn ca" theo lời của Krishna [hiện thân của Đại trí vũ trụ" nói rằng con người tuỳ theo tâm tính mà chọn đường khác nhau, nhưng tất cả phải đều đưa tới giải thoát.

Nếu ta xem xét loại YOGA thông thường ở Nam tông, ta thấy không có cầu khẩn hộ pháp, không có cầu xin đạo sư siêu nhân, không có quán tưởng bổn tôn Mật tông như ở đại thừa. Trong Rattana Sutta của Khuddaka Nikaya, Đức Phật được miêu tả ban huấn từ để cúng dường công đức xuất phát từ các hành động thiện lên chư thiên để được sự phù hộ của họ. Trong nhiều buổi lễ, người ta xin chư thiên chấp nhận công đức do sự tuân thủ giới luật. Việc tham thiền, quán tưởng và quy nhập của Nam tông đơn giản hơn Bắc tông, chú trọng đến trạng thái xuất thần, kết quả của sự tập luyện YOGA.

Các quán tưởng ở Nam tông lấy các đối tượng thông thường, không phức tạp như ở Mật tông. Chẳng hạn như tham thiền có hình tướng [Rupa] và không hình tướng [Arupa] với tổng số 40 đối tượng như sau.
- TỨ ĐẠI [đất, nước, gió, lửa]
- BỐN MÀU [xanh, đỏ, trắng, vàng] và không, thức.
- BẤT TỊNH: Mười bất tịnh của thể xác con người, bộ xương là bất tịnh thứ mười.
- TAM BẢO: [Phật, Pháp, Tăng] đạo đức, độ lượng, chư thiên, hơi thở, cái chết, xác thân, bình yên.
- TỨ VÔ LƯỢNG TÂM: Từ, bi, hỷ, xả.
- BỐN CÕI VÔ SẮC.
- THỰC PHẨM VÀ THÂN TỨ ĐẠI.

Còn có tham thiền về ngũ uẩn [sắc, thọ, tưởng, hành, thức], sự tan rã của các vật phức hợp và ba đặc điểm của đời sống [vô thường, khổ não, vô ngã].

Nhiều bài kinh của Nam tông đề cập đến các đối tượng của tham thiền trên đây, chẳng hạn như Maha Satipatthana của Digha Nikaya, Maha Rahulovada và Anapanasati của Majjhima Nikaya v.v... Mật tông Tây Tạng cũng có những bản văn tương tự. "TẤT CẢ NHỮNG ĐIỀU NÀY NÓI LÊN SỰ ỨNG DỤNG YOGA VÀO PHẬT GIÁO".

2/ YOGA VÀ NIẾT BÀN.

Trong thời kỳ học hỏi và khổ hạnh, Đức Thích Ca Mâu Ni hẳn đã biết rõ giáo lý Sâm Khya cũng như công phu tu tập của YOGA. Arada Kalama có dạy cho Vacali một loại Sâm Khya tiền cổ điển và Udraka Ramaputra đã trình bày nền tảng và mục đích của YOGA. Nếu Đức Phật từ chối lời dạy của hai ông thầy này, đó là ngài đã vượt qua nó. Nhưng thực ra, Đức Phật hoàn toàn không có bác bỏ toàn thể truyền thống khổ hạnh và tham thiền của Ấn Độ, mà Đức Phật đã bổ túc thêm vào. Emile Senart viết: " CHÍNH TRÊN MẢNH ĐẤT YOGA MÀ ĐỨC PHẬT ĐÃ ĐƯỢC NUÔI DƯỠNG; DÙ CHO NGÀI CÓ THÊM VÀO ĐÔI ĐIỀU MỚI MỚI MẺ ĐI CHĂNG NỮA, THÔNG QUA THIỀN ĐỊNH CỦA YOGA MÀ TƯ TƯỞNG CỦA NGÀI MỚI ĐƯỢC HÌNH THÀNH".

Thoạt nhìn thì Đức Phật bác bỏ chính thống giáo Bà-la-môn, truyền thống tư biện của Upanishad, cũng như vô số "tà giáo" khổ hạnh huyền bí đã được phát triển bên lề xã hội Ấn Độ. Tuy nhiên vấn đề cốt lõi của Phật giáo, "đau khổ và giải thoát khỏi đau khổ" vốn là vấn đề truyền thống ở Ấn Độ. Ta có thể hiểu rõ hơn lập trường có vẻ mâu thuẫn này, nếu ta nghĩ rằng Đức Phật muốn vượt lên các công thức triết học và phương pháp huyền bí đang thịnh hành lúc bấy giờ, nhằm giải thoát con người khỏi ảnh hưởng của chúng và mở "con đường" dẩn đến tuyệt đối. Nếu Ngài coi sự phân tích ý niệm về "bản ngã" của Sâm Khya và YOGA là của mình, vì cái "ngã" chẳng có liên hệ đến cái thực thể tạm bợ mà người ta gọi là "linh hồn". Đức Phật còn đi xa hơn nữa. Ngài phủ nhận khả năng thuyết về bất cứ nguyên lý tuyệt đối nào, cũng như khả năng có kinh nghiệm về chân ngã một khi con người chưa "giác ngộ". Cho nên Đức Phật bác bỏ định đề về sự hiện hữu của một "Purusha", một "Atman", hay một "braman", vì sợ nó làm thoả mãn tâm trí, ngăn cản người giác ngộ.

Nhìn sự việc gần hơn, ta thấy rằng Đức Phật bác bỏ các triết học và khổ hạnh đương thời vì chúng cấu thành một thứ màn che giữa con người và chân lý tuyệt đối. Chứ Ngài không có phủ nhận một chân lý tối hậu như thế, ở ngoài phạm vi các hiện tượng vũ trụ và tâm lý hoặc tinh thần, Ngài chỉ có tránh biện luận về vấn đề này mà thôi, nhiều bộ kinh có xác nhận như vậy.

Niết bàn là tiêu biểu nhất cho tuyệt đối "Asams-Krta", tức là không phức hợp, không tăng, không giảm, siêu việt, ngoài phạm vi kinh ngiệm của con người. Nó không phải là đối tượng cuả hiểu biết trực tiếp như màu sắc, cảm giác... hay gián tiếp như tác động của nó như các giác quan, nhưng không vì thế mà cho rằng nó không có. Như kẻ mù không thể bảo rằng không có màu sắc. Ta chỉ có thể "thấy" Niết Bàn qua "con mắt thánh", tức là một "giác quan siêu việt", vấn đề đối với Phật giáo là chỉ đường, trao dồi phương tiện để có "giác quan" siêu việt đó để khám phá ra cái tuyệt đối.

Ta hãy nhớ lại thông điệp của Đức Phật nhằm vào sự đau khổ của con người cứ mãi sống trong vòng sinh tử triền miên. Đối với Ngài cũng như đối với YOGA , giải thoát chỉ có được sau những cố gắng của con người, hoà nhập cụ thể vào chân lý. Đây không phải là lý thuyết, hay khổ hạnh... mà phải là sự hiểu biết và kinh nghiệm "chân lý" đó, cả hai con đường đều có sự rủi ro, sự hiểu biết chỉ là tự biện, chỉ có kinh nghiệm mới có thể đưa tới giác ngộ.

Đối với Đức Phật, chỉ có giải thoát khi đạt đến Niết Bàn, tức là vượt qua mức độ kinh nghiệm của người phàm tục, và Đức Phật đã hoà nhập vào cái tuyệt đối đó. Nhưng Ngài lại ngần ngại không nói về cái tuyệt đối đó, vì ngài sợ đời sau không phản ảnh lại đúng chân lý đó. Sở dĩ Ngài không chấp nhận chân lý của các tín đồ Bà la môn là chính vì họ biện luận quá nhiều về cái "không thể diễn tả" được. Đối với Phật, "cho rằng Atman tồn tại thực sự vĩnh cửu là sai, bảo rằng nó không có cũng là sai" [Vasubhandhu], nhưng nếu ta đọc những gì Ngài nói về đấng giải thoát, người đạt tới Niết Bàn thì ta thấy giống hệt với Jivanmukta, người được giải thoát ngay trong đời nay ngoài Phật giáo.

Trong ý nghĩa này, Đức Phật tiếp nối truyền thống khổ hạnh huyền bí của Ấn Độ; Ngài tin vào sự "giải thoát ngay trong kiếp này", nhưng ngài không chịu mô tả. Tất cả những gì ta có thể nói được là đấng giải thoát không còn thuộc thế gian này nữa. Như lai đã được giải thoát khỏi thể xác, cảm giác, ý tưởng, ham muốn, hiểu biết. Người phàm phu không thể đo lường, không thể. thăm dò tư tưởng của Ngài được. Ta không thể cho rằng người ấy "có hay không có, vừa có vừa không có" [Samyutta Nikaya]. Đó cũng chính là câu "Neti! Neti" tức là không phải, không phải... danh tiếng của UPANISHAD.

Tuesday, April 26, 2011

GIẢM STRESS BẰNG PHƯƠNG PHÁP THỞ YOGA.

Hiện nay trên thế giới đầy biến động, vì vậy sự căng thẳng do bị áp lực trong công việc là điều đương nhiên. Những sự việc này nếu không được giải toả, có thể sẽ trở thành stress mãn tính. Từ đây sẽ dẫn tới nhiều loại bệnh như nhức đầu, suy nhược thần kinh, giảm trí nhớ, cao huyết áp, các bệnh thuộc về tim mạch, viêm loét dạ dày v.v...

Cơ thể của bạn có khả năng chịu đựng vô số những ảnh hưởng của đời sống, kèm theo đó bao gồm cả những tình huống khắc nghiệt của không khí như độ ẩm, nhiệt độ, và độ cao v.v...Cơ thể con người được cấu tạo hàng triệu tế bào, được tổ chức lại thành các cơ quan và hệ thống phức hợp, phối hợp với nhau để tạo nên môi trường sống ổn định ở bên trong cho các tế bào, mặc cho những gì đang diễn ra ở thế giới bên ngoài.

Suốt cuộc đời, cơ thể bạn không ngừng đối phó với các sự kiện và vô số các hoạt động. Dù là bạn đang ngủ, đang tập thể dục hay thậm chí là bạn đang ở trong tư thế trồng cây chuối đi chăng nữa, thì cơ thể vẫn sẽ khiến cho nhịp tim, huyết áp và hơi thở của bạn phải thích nghi với tình trạng này nhằm duy trì sự ổn định sống còn ở bên trong nó.

Bất kỳ nhân tố nào có nguy cơ lấn át hay làm mất ổn định sự thăng bằng này đều được xem là tác nhân gây căng thẳng, và ảnh hưởng của nó lên cơ thể được biết đến như là chứng stress. Các tác nhân gây căng thẳng tác động lên cơ thể bằng nhiều cách. Tác nhân gây căng thẳng về thể lực bao gồm khí hậu và độ cao, chấn thương cơ thể, việc tập luyện thể thao quá mức và sự thiếu ngủ. Các tác nhân gây căng thẳng về tâm lý như nỗi sợ hãi, buồn phiền, lo âu... đều kích hoạt phản ứng căng thẳng.

TÁC NHÂN GÂY CĂNG THẲNG TÍCH CỰC

Không phải tất cả các tác nhân gây căng thẳng đều có hại cho cơ thể. Chúng ta vẫn cần có một lượng chất kích thích nhất định nào đó để giữ cho cơ thể khoẻ mạnh và năng động. Những đứa trẻ sống thiếu sự đùa giỡn với bạn bè, ít hay không được yêu thương, thường lớn lên với các vấn đề về thể lực, hành vi và tâm lý. Các tác nhân gây căng thẳng có khả năng kích thích, thiếu điều kiện này, cơ thể của chúng ta sẽ rơi vào tình trạng trì trệ, trầm uất.

Trên thực tế, một lượng thích hợp các tác nhân gây căng thẳng có thể giúp thúc đẩy tốt hơn khả năng hoạt động của chúng ta. Phần lớn các nghệ sĩ thành danh đều nhìn nhận cái lợi của "ánh đèn sân khấu" khi nó tác động chừng mực đến họ. Còn các vận động viên thể thao biết rõ tầm quan trọng của "sự gia tăng adrenaline" giúp họ tranh đua với phong độ tốt nhất.

Các sự kiện hay các hoạt động gây phấn chấn cũng có thể dẫn đến các phản ứng gây căng thẳng. Nghiên cứu cho thấy việc sắp kết hôn hay chuẩn bị đi nghĩ hè cũng có thể gây nên sự căng thẳng như việc bạn bị mất chỗ làm hay sắp dọn nhà.

Tối ưu hơn cả là để có được một sức khoẻ hoàn hảo, bạn cần trải nghiệm qua một lượng thích hợp các tác nhân gây căng thẳng tích cực. Ngoài ra, bạn cũng cần phải biết cách đối phó với tình trạng quá tải của tác nhân gây căng thẳng hoặc với việc bạn dễ bị tổn thương bởi các tác nhân gây căng thẳng tiêu cực.

STRESS CẤP TÍNH VÀ MÃN TÍNH

Stress có thể trở nên cấp tính hoặc mãn tính. Cơ thể của chúng ta được cấu tạo để có khả năng đối đầu với những tình huống đặc biệt căng thẳng nào đó bằng cách kích hoạt phản xạ FFF [fright, fight, flight]- hoảng sợ, kháng cự lại, hoặc cao chạy xa bay. FFF là một phản xạ đối phó đa hệ thống do hệ thần kinh GIAO CẢM sản sinh ra. Nó đưa cơ thể vào tư thế chuẩn bị khi cần có thể kháng cự lại hoặc chạy trốn khi gặp nguy hiểm.
Bạn sẽ thở sâu và thở nhanh hơn, nhịp tim tăng nhanh, đồng thời tim cũng đập mạnh hơn. Máu nhanh chóng được tái luân chuyển tới não và cơ bắp, và toàn bộ cơ thể được đặt vào tình trạng báo động khi hóoc môn adrenaline tiết ra ào ạt từ tuyến thượng thận sau đó đi vào máu.

Sự sản sinh adrenaline cũng tác động tới việc tiết ra nhiều loại hóoc môn khác cùng phối hợp với ảnh hưởng đa hệ. Khi tình trạng khẩn cấp qua đi, phản xạ FFF biến mất. Tình trạng thăng bằng bình thường sẽ được thiết lập nhanh chóng và mọi cảm giác về phản ứng hay sự mệt mỏi cũng sẽ tiêu tan. Thường xuyên ở trong hoàn cảnh bị căng thẳng đe doạ sẽ dễ dẫn đến tình trạng mãn tính- một phần của phản xạ FFF sẽ lưu giữ lại và luôn ở trong trạng thái được kích hoạt. Trong tình trang này, nồng độ adrenaline trong máu sẽ cao hơn bình thường và bản thân người đó luôn bị căng thẳng, dần dần sẽ mất khả năng ứng phó và cảm thấy kiệt sức nhiều hơn.

CÁC TÁC NHÂN GÂY CĂNG THẲNG TIÊU CỰC

Các tác nhân gây căng thẳng sẽ tác động tới cơ thể, tinh thần, cảm xúc và tâm linh của bạn. Cơ thể bạn sẽ bị đặt dưới áp lực khi bạn sống trong một môi trường khắc nghiệt, nhiệt độ và độ ẩm thất thường, hay ở trên độ cao quá lớn. Rất may là phần lớn chúng ta không gặp phải vấn đề này. Phần lớn chúng ta thường xuyên va chạm với những tác nhân gây căng thẳng về thể lực, như hít thở không khí bị ô nhiễm của đô thị và các độc tố trong môi trường sống. Các điều kiện làm việc bất lợi như: chỗ ngồi được thiết kế không thích hợp, làm việc ca đêm, cũng như tình trạng giao thông không đáng tin cậy.

Stress về trí não là tình trạng còn tồi tệ hơn nữa. Ngày nay, hệ thống công nghệ thông tin cao hơn bao giờ hết, đã góp phần thúc đẩy nhanh nhịp sống của loài người. Thời gian rảnh rỗi - "thời gian dành cho bản thân"- gần như không còn nữa, và khi "giờ nghĩ giải lao" đã thực sự thay thế nó thì bạn không còn có khả năng tách khỏi công việc và thư giãn cho đúng nghĩa nữa.                                                                      

Ở đây tôi cũng muốn bày tỏ và cũng như chia sẻ cùng các bạn về vấn đề GIỜ NGHĨ GIẢI LAO. Thông thường trong 8 giờ làm việc, ngoài việc ăn cơm trưa và nghĩ ngơi, chúng ta còn có một khoảng trống nhỏ nghĩ giải lao khoảng 5 hoặc 10 phút. Đây là những giây phút rất quý báo để ta tái tạo lại nguồn năng lượng trong quá trình làm việc mà ta bị tiêu hao. Thông thường trong những giây phút này người ta chưa biết sử dụng như thế nào cho có hiệu quả, mà thường hay ngồi bàn những chuyện không đâu hay hoặc cố gắng làm thêm. Nếu bạn chỉ dành thời gian này cho việc chú tâm vào vùng bụng dưới [tập một phương pháp THIỀN] trong khoảng thời gian nghĩ giải lao... thì thật là tuyệt vời. Bạn sẽ làm cho năng lượng của bạn mạnh lên và chắc chắn là những công việc kế tiếp của bạn sẽ có hiệu quả hơn [ý của MAI VĂN NHƯ]

Stress mãn tính dần dần có thể dẫn đến việc hình thành trạng thái chán nản, u uất. Với tình trạng như hiện nay, thật dễ dàng khiến người ta có cảm giác bị cuốn vào guồng máy nặng nhọc của hàng khối công việc mà chẳng có cách gì thoát khỏi để xã hơi đôi chút. Thường xuyên ở trong tình trạng như vậy sẽ dễ dẫn đến các bệnh về tâm lý như lo âu, trầm cảm. Tác động của nồng độ cao các hóoc môn gây Stress như adrenaline, cortisol, phá vỡ các chức năng sinh lý bình thường, khiến cơ thể bị suy yếu, dễ dàng bị nhiễm bệnh. Chứng cao huyết áp, nhiễm trùng, dị ứng và các vấn đề về tiêu hoá chỉ là một trong vô số các chứng bệnh mà tình trạng stress thái quá sẽ khiến chúng trở nên thêm trầm trọng.

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI MỨC ĐỘ STRESS

Dĩ nhiên là lối sống hiện đại đã góp phần tạo nên chứng stress mãn tính. Phần lớn mọi người đều đi làm hay tự làm việc cho mình. Các nhân viên làm thuê là đối tượng được theo dõi chặt chẽ trong công việc với các kỳ hạn và mục tiêu kinh doanh nhất định. Họ chỉ được nhận thêm lương và tiền thưởng với điều kiện là họ phải bỏ thêm thời gian để làm việc. Đối với những người làm công việc quản lý, lảnh thêm trách nhiệm có nghĩa là tăng thêm áp lực cho bản thân.

Nhiều người, đặc biệt là phụ nữ, họ làm việc đa hệ...họ xoay vần giữa sự nghiệp, công việc nhà và trách nhiệm gia đình. Điều này đòi hỏi một khả năng gần như siêu phàm để lên kế hoạch, xác định mục tiêu ưu tiên và thực hiện hàng loạt nhiệm vụ, phần lớn là vài nhiệm vụ cùng một lúc. Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi phụ nữ trong những năm tháng phải nuôi dưỡng con cái, luôn ở trong tình trạng mệt mỏi và luôn cáu gắt! Tôi rất tôn vinh những người phụ nữ. Thấu hiểu những nỗi cực khổ của vợ, là cánh đàn ông tôi khuyên các bạn hãy chia sẻ với bà xã trong công việc nội trợ nhé, làm được như vậy cũng là một yếu tố tạo thêm sự hạnh phúc của gia đình đấy. Đừng có đi làm về rồi phó mặc mọi công việc cho bà xã, ngồi bật ngửa trên ghế đọc báo hay xem tivi. Đừng như câu ông bà thời xưa thường nói "heo kêu, con khóc...chồng ngồi vuốt râu" làm như vậy là coi hỏng có được đâu..

Cuộc sống có thể đem lại cho bạn những tình huống gây stress khó chịu đựng nổi. Những sự kiện như mất mát người thân, ly dị, chuyển nhà, sinh em bé, thay đổi chỗ làm, tất cả đều gây cho bạn những căng thẳng đáng kể. Chỉ cần hai sự kiện trong số đó xảy ra cùng trong một khoảng thời gian ngắn là đủ để bạn bị mắc chứng stress thái quá rồi.

Nhiều người trong chúng ta có lối sống rất thụ động. Đôi khi đó là do sự chọn lựa của bạn , nhưng thường là do bạn không có thời gian để tập thể dục hay thể thao. Cơ thể của chúng ta được tạo nên là phải hoạt động: thiếu rèn luyện thể lực, cơ thể sẽ trở nên cứng nhắc và yếu đuối. Tuy nhiên tập luyện quá sức cũng gây căng thẳng như khi bạn không tập luyện. Say mê tập luyện thường xuyên và buộc cơ thể phải nổ lực hết mình là cách mà một vài người lựa chọn để đối phó với stress. Điều này đôi khi cũng có liên quan tới việc ham muốn được trở nên giống các người mẫu nổi tiếng, nhưng nó lại đưa đến sự bất mãn trong nội tâm của bạn khi ước muốn không thành. Và không may là hiệu quả tổng thể của nó chỉ làm tăng mức độ stress, chứ không hề giảm bớt đi.

Bạn cũng có thể làm gia tăng mức độ stress khi đứng và ngồi lâu trong tư thế sai lệch. Ngồi lâu ở bàn làm việc hay lái xe trên những đoạn đường dài đều không mang lại lợi ích gì cho bạn, kể cả việc mang vác nặng khi đứng và đi bộ như các túi xách đi chợ , cặp vở hay bế em bé, đặc biệt là khi phải cùng một lúc mang tất cả những thứ này. Một gánh nặng về thể lực như vậy sẽ gây căng thẳng và đau nhức ở vùng cổ, vai và phía dưới lưng.

Trạng thái thể lực và tình cảm của bạn ảnh hưởng khá rõ tới mức độ stress. Trước khi đi thi, hay đi phỏng vấn, bạn thường tạo áp lực cho bản thân để hoàn thành tốt công việc tới mức bị stress thái quá. Bệnh tật, đặc biệt là các bệnh gây đau đớn, khó chịu kinh niên, làm tăng mức độ căng thẳng của người bệnh. Viêm khớp, đau nhức cơ, hội chứng kích thích ruột, và các chứng bệnh tương tự gây trở ngại cho bạn trong công việc, lại làm càng tăng thêm áp lực.

Các phương tiện thông tin toàn cầu ngày nay đem tới cho mọi người thông tin về những thảm hoạ do con người và thiên nhiên gây ra với tốc độ chóng mặt, ngay cả khi chúng xảy ra ở cách xa bạn hàng ngàn cây số. Hình ảnh và những cuộc phỏng vấn gây thương tâm, thực sự là những tác nhân gây căng thẳng nặng nề, đặc biệt là khi bạn cảm thấy bất lực trước những tình cảnh như vậy.

PHỤC HỒI SỰ THĂNG BẰNG

Khi bị tấn công dồn dập bởi vô số những tác nhân gây căng thẳng, bạn cần phải xem xét lại lối sống của mình và quyết định thay đổi cho phù hợp hơn. Tuy nhiên, trước khi thay đổi lối sống, bạn nên nhận biết cảm nhận thực sự của chính mình. Stress có thể nguỵ trang cho thông điệp đang được gửi tới não bằng hàng ngàn các đầu dây thần kinh giao cảm có mặt trên khắp cơ thể bạn. Kết quả là bạn sẽ mất liên lạc ngay với chính bản thân mình. Hậu quả cuối cùng là bạn sẽ không nhận ra cảm giác mệt mỏi cho tới khi nó chuyển sang tình trạng kiệt sức, hay không biết cơ bắp căng thẳng cho tới khi nó trở nên không thể chịu đựng được.
Khi tới đỉnh điểm này, bạn cần phải biết cách hãm tốc độ, tìm lại sự kết nối với nhịp sống bình thường của cơ thể, tinh thần và tâm linh. Nhờ biết cách quan sát cơ thể một cách khách quan, bạn sẽ thật sự có ý thức về cảm nhận của cơ thể và hiểu biết hơn về các biểu hiện của stress
Khi bạn đã có thể thật sự kết nối với bản thân, các triệu chứng của stress sẽ giảm đi. Những cơn sợ hãi và những biểu hiện khác của stress lui dần, và bạn sẽ cảm thấy là chúng không còn chế ngự bạn được nữa.

YOGA CÓ THỂ GIÚP GÌ CHO BẠN?

Yoga là một môn khoa học tâm linh có từ ngàn xưa, tái kết nối bạn với cái tôi thật sự của mình. Nó tiếp tục duy trì trong bạn nhận thức nhạy bén về những sự vật đang diễn ra quanh mình, và cuối cùng là những ước muốn của bạn trong cuộc sống. Yoga tác động tới mọi khía cạnh của một cá thể- phần thể xác, tinh thần và tâm linh cùng một lúc. Các bài tập co giãn thân người nhẹ nhàn và dễ chịu cùng với các tư thế Yoga truyền thống [asana] giúp xoa dịu sự căng thẳng trong cơ bắp, làm cho các khớp xương trở nên linh hoạt, đồng thời cũng duy trì thể lực cho toàn bộ cơ thể. Tiếp theo, kỷ thuật thư giãn giúp cơ thể giải toả căng thẳng và tái tạo lại năng lượng.

Trong Yoga, luyện thở là một phần không thể tách rời của việc thực hành- hơi thở chính là sự kết nối giữa ý thức và cơ thể. Các kiểu thở đơn giản đem lại sự yên tĩnh trong trí não và "dạy" cho các bộ phận "tư duy" của ý thức biết thư giãn và nghỉ ngơi. Các bài tập thở này đưa bạn dần tới việc thực hành thiền sơ cập, khiến cho sự tĩnh lặng nội tâm ở bạn càng sâu lắng hơn. Cảm giác tĩnh lặng và thăng bằng này rồi sẽ theo bạn đi vào cuộc sống đời thường, giúp bạn kiểm soát và đối phó hiệu quả hơn với những tình huống gây căng thẳng.
Không giống như các lãnh vực khác của cuộc sống, ở Yoga không có sự tranh đua, mà bạn phải tự tập luyện trong phạm vi khả năng của mình. Việc thực hành Yoga thường xuyên sẽ phát triển sự tự tin, và từ đó dẫn tới sự trưởng thành của bản thân. Nhiều loại hình thư giãn nhằm giải toả stress như môn phản xạ học hay massage, mặc dù là rất có giá trị... nhưng chúng đòi hỏi phải có người thứ hai cùng thao tác. Trong khi với Yoga, bạn phải tự chịu trách nhiệm về bản thân và việc tập luyện của mình.

Khi đã trở nên quen thuộc với việc thực hành Yoga, bạn sẽ thấy là mình đang sống cùng Yoga trong cuộc sống thường ngày. Toàn bộ thái độ của bạn đối với cuộc sống cũng thay đổi theo; bạn sẽ thấy mình không còn dễ bực dọc với các thói quen, hoặc là các hành động của đồng nghiệp hay là những người thân trong gia đình nữa. Bạn sẽ vẫn giữ được bình tĩnh khi sự việc không tiến triển như bạn mong muốn, bạn có khả năng đối phó tốt hơn với nhiều vấn đề trong đời sống để tìm được giải pháp thoả đáng. Đây là điều kỳ diệu trong Yoga mà không phải bất cứ phương pháp tập luyện nào cũng có được, và cũng cần phải nói rõ thêm: Nếu muốn giảm stress, để được sống cùng Yoga  trong cuộc sống đời thường, dĩ nhiên là bạn phải biết tập THỞ và TẬP THIỀN. Nếu như các bạn chỉ tập các động tác [asana] thì " KHÔNG BAO GIỜ GIẢM ĐƯỢC STRESS", mà càng ngày càng bị stress nặng hơn, đây là một sự thật không thể biện luận gì thêm.

CÁC DẤU HIỆU CHO THẤY BẠN BỊ STRESS THÁI QUÁ

Tình trạng stress mãn tính thái quá được biểu hiện bởi vô số các triệu chứng sau:
- Căng thẳng cơ bắp vùng cổ và vai, hoặc rất đau đớn.
- Căng thẳng cơ bắp ở da đầu và hàm, khiến bạn nhức đầu và đau nhức mặt. Đau nhức nữa đầu, nghiến răng ban đêm, cắn móng tay, bồn chồn... đều là các dấu hiệu stress thái quá.
- Tim đập nhanh, hơi thở nông, ngắn và đổ mồ hôi.
- Tiêu hoá có vấn đề như ợ chua, hội chứng kích thích ruột [IBS] hay rối loạn tiêu hoá.
- Bạn cảm thấy phải làm việc quá sức, luôn bị áp lực. Bạn mệt mỏi, trầm cảm, luôn lo lắng và tinh thần luôn bị kích động, khó được tĩnh tâm.
- Chứng mất ngủ khiến tình trạng thể lực của bạn thêm tồi tệ, đồng thời việc bạn không có khả năng thoát ra khỏi tình trạng stress, sẽ càng làm cho bệnh mất ngủ càng thêm trầm trọng
- Xuất hiện những cơn sợ hãi, càng thúc đẩy việc sản sinh adrenaline. Bạn có thể sẽ chán ăn và việc bạn sử dụng nhiều các chất cồn như bia, rượu có thể sẽ dẫn đến tình trạng nghiện ngập.
- Hút thuốc lá được nhiều người xem là giải pháp thoát khỏi sự căng thẳng, nhưng thật ra càng làm cho tình hình thêm tồi tệ do độc tố ngấm vào cơ thể, huỷ hoại phổi và mạch máu.