Sunday, April 17, 2011

GIẢ THIẾT, LÝ GIẢI CÁC HÌNH THÁI BIỂU HIỆN... DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC

GS.TS ĐÀO VỌNG ĐỨC
Nếu như đầu thế kỷ 20 khoa học đã hân hoan chào đón sự ra đời của thuyết lượng tử và thuyết tương đối thì thế kỷ 21 này, theo như dự đoán của nhiều học giả nổi tiếng, sẽ được đánh dấu một bước tiến vĩ đại, đó là nhận thức được rằng khoa học và tâm linh không đối nghịch nhau mà là hai mặt đối ngẫu bổ xung cho nhau để nghiên cứu thực tại.

Einstein nhà bác học lỗi lạc nhất thế kỷ 20, người sáng tạo ra thuyết tương đối và khai sáng thuyết lượng tử, những luận thuyết đã mang lại biết bao nhiêu thành quả kỳ diệu trong khoa học và công nghệ hiện đại, vẫn luôn tự đánh giá vốn kiến thức của mình còn quá nhỏ bé trước huyền bí bao la và sâu thẳm của vũ trụ đã khẳng định rằng "KHOA HỌC, TÔN GIÁO, NGHỆ THUẬT LÀ NHỮNG CÀNH NHÁNH CỦA CÙNG MỘT CÂY...Khoa học không có tôn giáo thì khập khễnh, tôn giáo không có khoa học thì mờ ảo". Panli, nhà vật lý lừng danh với "nguyên lý loại trừ Panli" trong vật lý nguyên tử thừa nhận rằng "nếu vật lý và tâm linh được xem như các mặt bổ xung cho nhau của thực tại thì sẽ cực kỳ thoả mãn".

Tiên đề xuyên suốt của thuyết lượng tử là tính đối ngẫu bổ sung của thực tại thông qua "nguyên lý bổ sung đối ngẫu" khẳng định rằng mọi vật thể cùng một lúc thể hiện mình với hai bản chất tương phản nhau - sóng và hạt. Nguyên lý này dẫn đến một hệ quả cực kỳ quan trọng là vật thể vi mô chuyển động không theo bất cứ một quỹ đạo xác định nào, có nghĩa là sự chuyển động từ vị trí này qua vị trí khác theo vô số con đường cùng một lúc. Suy rộng ra là có thể cùng một lúc hiện diện tại vô số vị trí khác nhau, cùng một lúc có thể ở trong vô số trạng thái khác nhau. Điều này gợi cho ta liên tưởng đến các câu chuyện thần thoại về thần thông biến hoá, xuất quỷ, nhập thần... Thuyết lượng tử nhìn một cách sâu sắc rằng bản chất của mọi vật là sóng, thế giới hiện tượng là những con sóng lượn lan toả trên mặt một đại dương năng lượng mênh mông, có lúc cô đọng lại thành các khối có hình thể rồi lại cũng tan biến trên mặt đại dương đó.

Một phương hướng nghiên cứu sâu sắc nhất và có tầm quan trọng đặc biệt của Vật lý học hiện đại là xây dựng lý thuyết Đại thông nhật - thống nhất các dạng tương tác - các dạng năng lượng trên cùng một nền tảng.
Các kết quả nghiên cứu lý thuyết phát hiện ra rằng ngoài không gian ba chiều như ta đang sống và cảm nhận, nhất thiết phải có thêm ít nữa là 6 chiều không gian phụ trội... Ở đây, về lý luận còn rất nhiều vấn đề cần giải quyết, rất nhiều câu hỏi phải được lý giải. Chẳng hạn: Các chiều không gian phụ trội thể hiện ở đâu? Bản chất là gì và hình dáng ra sao? Những gì tồn tại trong đó? v.v...Có giả thiết cho rằng các chiều không gian phụ trội này chính là các chiều liên quan đến thế giới tâm linh. Cũng nảy sinh một câu hỏi rất tự nhiên rằng: ngoài các dạng tương tác đã được biết hiện nay còn tồn tại chăng các dạng tương tác khác chưa được phát hiện? Không loại trừ rằng còn có các dạng siêu tương tác ứng với các dạng siêu năng lượng liên quan đến các hiện tượng siêu nhiên mà các giác quan bình thường của con người chưa thể cảm nhận được, cũng như khoa học và kỷ thuật hiện nay chưa đủ trình độ để phát hiện.

Có thể hy vọng rằng với sự phát triển ngày càng sâu rộng của khoa học và công nghệ, dần dần chúng ta sẽ tiếp cận được những hiện tượng mà cho tới nay vẫn được xem như là huyền bí hoặc hầu như là phi lý.

Rõ ràng là nghiên cứu các lĩnh vực tinh tế khác nhau thì cách tiếp nhận phải khác nhau, đặc biệt với các hiện tượng siêu tinh tế thì đòi hỏi phải vận dụng các khái niệm và các hệ tiên đề hoàn toàn mới, có thể rất xa lạ với những điều quen thuộc trước đó. Đây là cuộc viễn chinh khoa học, gian nan nhưng đầy hứa hẹn, đòi hỏi sự kết hợp hài hoà giữa khoa học và tâm linh, sự đóng góp lâu dài công sức và trí tuệ của các nhà ngoại cảm. Chúng ta cũng nhận thức được rằng các tiềm năng của các nhà ngoại cảm là kho tài sản vô giá và sẽ là một cống hiến rất lớn cho đất nước, cho sự phát triển cộng đồng, mang lại hạnh phúc cho gia đình và xã hội.

Thursday, April 14, 2011

BÀN VỀ THẾ GIỚI " HỮU HÌNH", "VÔ HÌNH"

GS.TS PHAN ANH

Vũ trụ bao la, trong đó "thế giới hữu hình" chỉ chiếm một tỷ lệ nào đấy. Đó là những gì mà chúng ta có thể thấy bằng mắt, cảm nhận bằng giác quan, hoặc thu nhận được bằng các dụng cụ, phương tiện khoa học. Phần còn lại của vũ trụ là "thế giới vô hình", nghĩa là những gì chúng ta không thể thấy bằng mắt, không cảm nhận được bằng các giác quan và cũng chưa cho phép thu nhận được bằng các dụng cụ, phương tiện khoa học, nhưng lại có những bằng chứng về sự hiện hữu của chúng. Chúng ta hãy tạm hiểu và quan niệm "thế giới vô hình" là như vậy đó.

Như vậy, ranh giới giữa thế giới "hữu hình" và "vô hình" cũng chỉ là tương đối và có một vùng giao nhau, trong vùng đó sự phân biệt về hữu hình hay vô hình là không rõ rệt, không thật khẳng định và có thể thay đổi nếu như các giác quan của con người phát triển ở mức cao hơn, nhạy bén hơn, cũng như khi khoa học đạt đến trình độ cao nào đó để sáng tạo ra những dụng cụ, phương tiện giúp con người có thể nhận biết đươc thế giới xung quanh một cách rõ ràng hơn.

Người bình thường chúng ta có năm giác quan, nhưng ở một số người [các nhà ngoại cảm] thì có thể nhận biết thêm giác quan thứ sáu, thứ bảy gì đó nữa. Có người có khả năng "nhìn được" các vật ở rất xa tầm nhìn với đôi mắt thường [bà Barbara Brennan khi thực hiện bành trướng ý thức], hoặc nhìn thấy các vật khi bị các vật cản che khuất [trường hợp cô Hoàng Thị Thiêm có thể nhìn và đọc khi bị bịt mắt]. Chúng ta nói là họ có khả năng "thấu thị". Ngoài ra, có những người có khả năng nghe được các âm thanh xa xôi từ đâu đó mà người bình thường không nghe được, chúng ta nói là họ có khả năng "thấu thính". Có người lại có khả năng "ngửi thấy" mùi vị từ xa để biết được những sự kiện có liên quan [trường hợp cô Hoàng Thị Khuy], ta nói là họ có khả năng "thấu khứu".

Một số nhà ngoại cảm có khả năng đặc biệt trong một điều kiện nào đấy có thể "nhìn thấy", "nghe thấy" những hình ảnh, âm thanh từ trong "thế giới vô hình" để có thể giao tiếp hoặc đối thoại...

Như vậy, đối với một số người có khả năng đặc biệt thì "thế giới vô hình" cũng bớt "vô hình" hơn so với những người bình thường.

Khoa học ngày càng phát triển, với nhiều phát minh quan trọng cho phép con người có thể hiểu biết về thế giới xung quanh nhiều hơn, và do đó có nhiều cái từ "vô hình" đã trở thành "hữu hình". Ngày nay, chúng ta đã quá quen thuộc với việc sử dụng các phương tiện truyền tin qua Phát thanh- Truyền hình, trao đổi thông tin giữa người này và người kia bằng điện thoại di động ở khoảng cách rất xa..., trong đó môi trường truyền tin là sóng điện từ. Nếu không có các phương trình Maxwell [được thiết lập cách đây trên 100 năm] và thực nghiệm sau đó của Hertz để chứng minh về sự tồn tại của một loại hình vật chất không thấy được, có thể lan truyền với tốc độ ánh sáng là sóng điện từ thì sự tồn tại của sóng điện từ vẫn còn nằm trong phạm trù vô hình. Chắc hẳn có một nhà khoa học nào đó từ thế kỷ XVIII sống lại vào thời đại chúng ta sẽ cảm thấy mọi chuyện xung quanh đang xảy ra thật là kỳ dị, bí ẩn.

Để giải thích một số hiện tượng về thiên văn, cách đây trên 70 năm, các nhà khoa học đã đưa ra giả thiết có sự tồn tại của "vật chất tối". Theo giả thiết, loại vật chất này chiếm một lượng lớn trong vũ trụ, có thể tới 90%, nhưng người ta không nhìn thấy, không nắm bắt được và cũng không quan sát được bằng các khí cụ khoa học. Vì thế, vật chất tối cũng chỉ là "vô hình" và người ta coi nó như là "bóng ma" của vũ trụ. Gần đây, các nhà thiên văn đã chứng kiến một sự kiện được gọi là Bullet Cluster, đó là sự đụng độ giữa hai thiên hà. Với cơ hội này, các nhà khoa học đã quan sát cho rằng có bằng chứng về sự tồn tại của "vật chất tối". Như vậy, đã đến lúc mà "vật chất tối" đang dần dần sáng tỏ trong thế giới vô hình. Có những cái chúng ta chưa nắm bắt được thì nó là vô hình, và đến một lúc nào đó nó sẽ trở thành hữu hình. Có thể nói, khoa học phát triển đến đâu thì ranh giới của thế giới vô hình lùi xa đến đó.

Mỗi con người có thể được coi là "tiểu vũ trụ". Trong mỗi tiểu vũ trụ này cũng có phần là hữu hình và phần là vô hình. Những gì chúng ta đã thấy rõ thì là hữu hình, còn những gì chúng ta chỉ mới cảm nhận, hoặc phỏng đoán, hoặc suy luận dựa trên một số quan sát tiếp thì vẫn thuộc "vô hình". Khi dùng một loại máy ảnh đặc biệt, trong một số điều kiện nào đấy người ta đã chụp được con người với những vùng "hào quang" xung quanh. Đó là những quầng sáng nhiều màu sắc bao bọc xung quanh cơ thể hoặc toả sáng phía trên đầu. Với phương tiện này người ta còn có thể quan sát về mối tương tác giữa các hào quang của những con người khác nhau khi tiếp xúc với nhau.

Mắt người bình thường không phát hiện được hào quang, nhưng một số người có khả năng đặc biệt có lúc có thể nhìn thấy. Như vậy, hào quang có thể được xem như nằm ở ranh giới giữa hữu hình và vô hình.
Một số quan sát về hào quang của những bệnh nhân ở phút cuối cuộc đời cho thấy lúc này hào quang tách dần khỏi cơ thể và thoát ra ngoài khi người bệnh đã ngưng thở...Như vậy, hào quang quan sát được
không phải là thứ ánh sáng phát ra từ vật chất, mà nó là một phần tồn tại cùng vật chất, là phần vô hình tồn tại song song với hữu hình.

Hào quang chứa đựng những thông tin gì, còn có năng lượng nào tồn tại song song nữa, nó có liên quan gì đến vật chất tối, năng lượng tối hay không..., cho đến nay con người chưa biết hết. Nhưng qua quan sát, đúc kết các trải nghiệm thực tế có thể giả thiết là có. Năng lượng siêu hình chứa đựng các thông tin...,vận động, chuyển hoá và có thể tác động qua lại trên thế giới hữu hình.

[TÀI LIỆU CHỈ ĐỂ THAM KHẢO]

YOGA- NÂNG CAO SỨC KHOẺ VÀ TRÍ TUỆ.

Nhu cầu đến với YOGA tồn tại ở khắp mọi nơi và mọi thời đại. Yoga tác động tác động kỳ diệu trên mọi lĩnh vực như: thể chất, cảm xúc, trí tuệ, và tâm linh của con người, giúp tăng cường nguồn sinh lực và giúp con người sống lạc quan hơn.

-YOGA là một phương pháp tập luyện đã được trải nghiệm và kiểm nghiệm bởi thời gian, nhằm đem lại cho bạn một sức khoẻ hoàn hảo. Tập Yoga không nên vội ham muốn mau thành công, người càng ham muốn mau thành công thì không bao giờ thành công cả, nó đòi hỏi sự tập luyện phải lâu dài, thời gian phải tính bằng năm hoặc nhiều hơn, như vậy mới có được sức khoẻ toàn diện từ tinh thần đến thể chất. Sự tập luyện của các tư thế, [asana] thư giãn, phương pháp thở, thiền định, mátxa...và những hướng dẫn về lối sống có đạo đức, sẽ giúp cho bạn có thể lực tốt, trí não sáng suốt, năng động và chất lượng cuộc sống lạc quan hơn, có ý thức hơn. Đối với nhiều người, Yoga là chuyến viễn du trọn đời để khám phá bản thân, tìm đến sự tĩnh lặng trong tâm thức và niềm hạnh phúc trong nội tâm.

CUỘC SỐNG LÀ NĂNG LƯỢNG.

Con người là tập hợp của các hệ năng lượng với chu trình sản sinh năng lượng ở các mức độ: sinh lý, tâm lý, cảm xúc và tâm linh. Hình thức sản sinh năng lượng đơn giản nhất là quá trình trao đổi chất. Ở đây, năng lượng phát sinh từ thức ăn do ta dùng và không khí do ta hít, thở. Còn có cái gọi là sinh lực, đó là cảm giác sung sướng vì bạn đang sống và tình trạng sung mãn về sức khoẻ. Đối với nhiều người, sinh lực chẳng qua là biểu hiện tập hợp của nguồn năng lượng sinh học, phát sinh nhờ tinh thần và thể chất cùng kết hợp hoạt động. Nhưng đối với một số người khác thì đó là những thành phần bí ẩn khiến cho sự việc hoàn toàn khác biệt. Trong Yoga, nguồn sinh lực này được biết đến như là Prana, một thực thể của sức mạnh vũ trụ, có mặt ở mọi nơi, thâm nhập được vào mọi vật, là phần " trí tuệ " ẩn sau công việc của tạo hoá.

CÁC DẤU HIỆU CỦA SỰ THIẾU HỤT NĂNG LƯỢNG.

Mặc dù bạn có tin hay không, nhưng mọi người đều công nhận rằng cảm giác sung mãn không đơn thuần chỉ phụ thuộc vào mức độ năng lượng có trong cơ thể bạn, mà còn vào việc dòng năng lượng này luân chuyển có được thuận lợi hay không. Đôi khi dòng năng lượng bị tắc nghẽn do bị thiếu hụt, hay do sự mất quân bình giữa các nguồn năng lượng: sinh học, cảm xúc, trí não...
Nếu bị thiếu hụt năng lượng, bạn sẽ thấy rằng trong lúc xoay xở với cuộc sống hàng ngày, chỉ cần làm việc gì đòi hỏi phải gắng sức một chút là bạn sẽ nhanh chóng cảm thấy mệt mỏi. Có thể bạn thấy đuối sức hay khả năng chịu đựng kém . Hoặc là bạn cảm thấy toàn bộ thể chất suy yếu, khiến bạn khi ngủ dậy với cảm giác mệt mỏi.

- Về mặt sinh học, thiếu hụt năng lượng có thể biểu hiện qua các tư thế sai lệch của cơ thể, bước đi kém sức bật, bạn có thể dễ bị nhiễm lạnh hay đau ốm. Trong những trường hợp nghiêm trọng hơn, làm bất cứ việc gì cũng có thể khiến bạn mệt mỏi, khó chịu và rất yếu ớt.

- Về mặt cảm xúc, những dấu hiệu đầu tiên của tình trạng thiếu hụt năng lượng là bạn thường trở nên cáu kỉnh, dễ buồn bực, hốt hoảng, ghen tuông hoặc ganh tỵ. Bạn có thể thấy mình trở nên khắt khe với mọi người xung quanh như gia đình, bạn bè và khó chấp nhận sự thay đổi. Khi những cảm xúc tiêu cực lấn át, bạn sẽ khó nở nụ cười, khó hoà nhập để sống vui tươi. Bạn để cho hoàn cảnh dễ dàng chi phối bản thân, chỉ nhìn thấy khó khăn, mà không nhận ra cơ hội trong những hoàn cảnh mới. Những cảm xúc này sẽ vắt kiệt nguồn năng lượng của bạn.

- Về mặt trí não, bạn sẽ thấy khó tập trung tư tưởng trong công việc, khi đọc sách hoặc xem tivi, rất dễ bị phân tâm và buồn bực vô cớ. Trí nhớ và khả năng ra quyết định cũng kém đi, bạn trở nên kém nhiệt tình khi làm bất cứ một việc gì.

NHỮNG NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN TÌNH TRẠNG THIẾU HỤT NĂNG LƯỢNG.
Những nguyên nhân đưa đến tình trạng thiếu hụt năng lượng, hoặc mất cân bằng trong cuộc sống hằng ngày có rất nhiều và rất khác nhau.
Trong trường hợp của bạn có thể chỉ do một nguyên nhân, nhưng thường là do sự kết hợp của nhiều nguyên nhân cùng một lúc.

-TÌNH TRẠNG BỆNH LÝ.
- CHẾ ĐỘ DINH DƯỠNG MẤT CÂN BẰNG.
- LỐI SỐNG THỤ ĐỘNG.
- THIẾU NGỦ.
- CÁC HOÀN CẢNH GÂY STRESS TRONG ĐỜI SỐNG.

1/ TÌNH TRẠNG BỆNH LÝ.

Năng lượng thấp có thể là do tình trạng bệnh lý. Thường là kết hợp với cảm giác mệt mỏi, trầm uất, lo lắng và mất ngủ. Mới phục hồi các bệnh nhiễm vi rút, bệnh thiếu máu, thiểu năng tuyến giáp, các vấn đề về hô hấp như suyễn nặng và tăng thông khí, tiểu đường không kiểm soát, các chứng đau mãn tính, đau lưng hay viêm khớp, cũng có thể gây mệt mỏi. Tình trạng mệt mỏi kéo dài, có thể làm cho những căn bệnh ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn, vì vậy bạn nên đi khám bác sĩ nếu bạn cảm thấy lo ngại.

2/ CHẾ ĐỘ DINH DƯỠNG MẤT CÂN BẰNG.

Một chế độ dinh dưỡng đầy đủ là vô cùng quan trọng để có được mức năng lượng cao. Sự dung nạp chất bổ dưỡng phải theo kịp với nhu cầu trao đổi chất. Ăn uống thiếu thốn hay quá nhiều đều ảnh hưởng tới mức năng lượng của cơ thể. Kể cả việc sử dụng các thức ăn được chế biến quá kỹ hoặc thức ăn có chứa nhiều các chất phụ gia nhân tạo, đường, muối hay hương liệu. Sử dụng quá nhiều các chất có khả năng gây nghiện như những loại thức uống có chứa caphêin, cồn, đều có thể gây mất cân bằng năng lượng.

3/ LỐI SỐNG THỤ ĐỘNG.

Những người đã từng bị trải qua tình trạng tàn phế ở mức độ này hay mức độ khác. Cơ bắp và sự linh hoạt, dẻo dai của chúng ta bị suy thoái nhanh chóng vì thiếu sự hoạt động. Lối sống thụ động, có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tiêu hoá, làm giảm khả năng hô hấp, gây áp lực cho hệ thống tim mạch. Thêm vào đó, sự thụ động có thể gây trì độn về trí não và trạng thái mệt mỏi thường xuyên.

4/ THIẾU NGỦ.

Thiếu ngủ là vấn đề mà mọi người thường hay gặp nhất, giấc ngủ 8 tiếng một ngày được xem là đầy đủ cho hầu hết mọi người. Nếu bạn bị mất ngủ và những ngày kế tiếp không có thời gian để ngủ bù, bạn cứ để tình trạng này kéo dài, và căn bệnh mất ngủ sẽ bắt đầu xuất hiện, đây là điều khó tránh khỏi. Thiếu ngủ hoặc ngủ ít sẽ làm cho khả năng phản ứng, khả năng tập trung, trí nhớ, các chức năng sinh lý, khả năng phán đoán sự vật của bạn trở nên kém linh hoạt, tâm trạng của bạn trở nên thất thường.
Nhịp sống của cơ thể có thể bị rối loạn bởi lối sống đi chệch khỏi sự điều chỉnh của chiếc đồng hồ sinh học bên trong cơ thể chúng ta. Việc thức đêm làm ảnh hưởng đến tình trạng sức khoẻ của những công nhân làm ca đêm, họ thường cảm thấy buồn ngủ trong lúc làm việc, nhưng khi về tới nhà thì không thể nào ngủ được. Tệ hơn nữa, tình trạng này sẽ dễ dẫn đến những vấn đề về tiêu hoá, tim mạch, cảm xúc và trí não.

5/ CÁC HOÀN CẢNH GÂY STRESS TRONG ĐỜI SỐNG.

Phải làm việc nhiều giờ hay làm công việc nặng nhọc, đặc biệt là những công việc cứ lập đi lập lại một cách nhàm chán, có thể vắt kiệt thể lực và trí não của bạn. Nuôi dưỡng gia đình có trẻ con quả là một thách đố, cộng thêm những công việc bận rộn nữa thì chắc chắn sẽ là một áp lực rất lớn đối với bạn. Nhiều người ra sức làm việc bất kể thời gian, cố gắng làm việc càng nhiều càng tốt, điều này sẽ vắt kiệt nguồn năng lượng của họ, và kết quả là họ bị phụ thuộc vào các chất nicotin để giúp họ vượt qua những lúc căng thẳng. Lợi ích từ những chất này đến thật chớp nhoáng, nhưng hậu quả tai hại thì thật lâu dài. Thêm vào đó, những lo âu về tiền bạc, các mối quan hệ căng thẳng , cảm giác cô đơn và những vấn đề riêng tư khác đều có thể làm suy giảm nguồn dự trử năng lượng, khiến trong bạn hình thành một thái độ tiêu cực đối với cuộc sống nói chung.

YOGA GIÚP BẠN NHƯ THẾ NÀO

Mục đích chủ yếu của Yoga là làm cho bạn trải nghiệm được nguồn sinh lực vô tận vốn là cốt tuỷ sự sống của chúng ta. Thông thường, thì đây là điều bất khả thi, vì ai trong chúng ta cũng đều mắc kẹt trong mạng lưới của cuộc sống đời thường. Ta quá bận rộn với những ham muốn, những gắn bó, ràng buộc với vật chất, với con người, với những định kiến , yêu, ghét và cuối cùng hậu quả là stress...đó là điều khó tránh khỏi.
Để khắc phục được lối sống hạn hẹp này, bạn phải có khả năng " buông xả ". PATANJALI, bậc hiền triết vĩ đại về Yoga cách đây hơn 2000 năm, đã miêu tả đó là khả năng làm " lắng dịu những làn sóng suy tư trong tâm trí ". Đem lại sự tĩnh lặng cho tinh thần là điều không dễ làm, nhưng có thể làm được nhờ thực hành Yoga, bao gồm các tư thế [asana], luyện thở, thư giãn, chú ý định tâm và tập thiền định.
Thực hành các tư thế của Yoga, nhằm cải thiện sức chịu đựng của hệ tim mạch, sức mạnh cơ bắp, độ mềm dẻo, phản ứng nhanh nhạy của cơ thể, sự thăng gằng và khả năng phối hợp. Chỉ cần thực hành đều đặn các tư thế Yoga thường xuyên, cơ thể bạn sẽ trở nên sinh động hơn về mặt thể lực và trí não.
PATANJALI hướng dẫn chúng ta thay đổi lối tư duy và hành động quen thuộc trước đây. Ông hướng dẫn chúng ta cách tiếp xúc với mọi người và thế giới xung quanh thông qua một tập hợp những giá trị mà cá nhân cần tuân theo, được thiết kế nhằm khuyến khích một thái độ sống lành mạnh và tích cực. PATANJALI nói rằng cái cơ bản nhất là sự chú tâm: " HÃY BIẾT RÕ CÁI BẠN ĐANG CÓ". Điều này có nghĩa là bạn phải dành sự lưu tâm cho bất kỳ ai đang ở bên cạnh bạn , hay bất cứ việc gì mà bạn đang làm, không cho phép dòng suy nghĩ đưa bạn đi miên man hay để cho cảm xúc che mờ tâm trí của bạn.

THÁI ĐỘ MỚI ĐỐI VỚI CUỘC SỐNG

Phần lớn chúng ta đã quen sống và đặt mọi sự ích kỷ, ham muốn và gắn bó của bản thân vào trung tâm điểm của cuộc sống, nên việc " buông xả " và cư xử vị tha là một chuyện khó làm. Vấn đề không nằm trong bản thân hành vi cư xử của chúng ta, mà là nằm trong thái độ cư xử; ta phải cảm thấy thực sự thoả mái vì hành vi đó, chứ không thể vừa làm vừa cáu kỉnh, bực tức.
Nếu bạn có thể " buông xả " các thái độ và cảm xúc tiêu cực, nếu bạn tôn trọng người khác, tỏ lòng từ bi, học cách hành động theo trái tim, thì bạn sẽ phát hiện ra rằng năng lượng của bạn sẽ tự nhiên tăng lên, và thái độ tiêu cực của người khác sẽ không dễ dàng gây khó xử cho bạn được nữa.
Hãy đọc một nguyên tắc xử sự của Patanjali [phần cuối bài] và nhận xét xem trong ngày hôm đó bạn đã thực hiện nó tới đâu trong những dự tính và hành động của bạn. Qua ngày hôm sau, bạn hãy nỗ lực hơn, tích cực hơn trong cư xữ theo nguyên tắc này, và sau đó nhận xét sự khác biệt trong cảm nhận của bạn khi hành động như vậy. Thực hiện được tất cả các châm ngôn theo cách thức trên, nếu có lòng quyết tâm rèn luyện và không bị nản lòng vì thất bại, dần dần bạn sẽ thấy mình trở nên có ý thức hơn, biết lưu tâm hơn, tràn trề năng lượng hơn và cũng sẽ càng hạnh phúc hơn.
Cố gắng gần gũi với thiên nhiên và dành thời gian nhiều hơn cho bản thân cũng là điều có ích. Biết quan tâm và trân trọng thế giới quanh bạn, biết chiêm ngưỡng những điều kỳ diệu của thiên nhiên là những yếu tố đặc biệt có lợi nhằm giúp bạn đánh giá được phần trí tuệ vốn là nền tảng của vũ trụ và giảm bớt sự chú tâm vào bản thân. Cuối cùng, năng lượng của bạn sẽ dồi dào hơn nếu bạn có thể dành thời gian đến những vùng thôn quê hay đến những nơi có không gian rộng mở, lánh xa mọi hoạt động ồn ào, ô nhiễm của chốn đô thị để tận hưởng sự yên tĩnh, hít thở không khí trong lành.

CHÂM NGÔN SỐNG

Theo Patanjali, mối quan hệ tích cực với vũ trụ và cái tôi là quan trọng bậc nhất. Hãy cố gắng sống theo những câu châm ngôn của ông đề ra. Chúng sẽ giúp bạn sống có tích cực hơn, cho phép dòng sinh lực trong bạn tuôn chảy dễ dàng hơn.

TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI THẾ GIỚI XUNG QUANH, BẠN HÃY:

- Tránh làm hại người khác và có lòng từ bi.
- Trung thực trong từng suy nghĩ, lời nói và việc làm. Không ăn cắp của người khác, điều này không chỉ đối với tài sản, mà cả việc làm tiêu hao thời gian, năng lượng và lòng tốt của người khác.
- Hãy luôn trung hậu và vị tha trong mọi quan hệ cá nhân.
- Không nên giành giật và bám giữ vật chất hoặc con người chỉ vì mục đích chiếm hữu hay vì những lý do ích kỹ khác.

ĐỐI VỚI BẢN THÂN, BẠN NÊN RÈN LUYỆN ĐỂ:

- Phát triển sự trong sáng trong ý thức, thể xác và sự tinh khiết bên ngoài và bên trong tâm linh thông qua phương pháp THIỀN ĐỊNH.
- Sống đạm bạc và tận dụng tối đa những gì cuộc sống đem lại cho bạn.
- Tăng cường sự kiên định về thể lực và trí não thông qua tập Yoga để chịu đựng khó khăn và thất vọng trong cuộc đời.
- Học cách nhận diện cái tôi bên trong của mình hơn là chỉ nhìn thấy lối sống quen thuộc, cách ứng phó và xét đoán sự vật hàng ngày của bạn.
- Hãy công nhận rằng cuộc đời không phải chỉ là thế giới vật chất, mà nó còn ý nghĩa hơn thế nữa. Hãy biết quý trọng cuộc sống với trí tuệ là nền tảng.

YOGA VÀ CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG.

Trường phái Yoga khuyên các bạn là phải ăn uống chừng mực, đạm bạc. Ăn càng nhiều các thức ăn tươi sống càng tốt, và để ý tới phong cách ăn uống của bản thân. Các chỉ dẩn dưới đây sẽ giúp bạn có ý thức hơn về các thói quen của mình trong ẩm thực. Chúng cũng sẽ hỗ trợ bạn tiêu hoá thức ăn dễ dàng hơn.
- Ăn các thức ăn mới nấu.
- Không dùng bữa kế tiếp khi thức ăn chưa tiêu hoá hết [3 tiếng đồng hồ].
- Không nên đọc báo hay xem tivi trong khi ăn.
- Không nên dùng bữa trong lúc giận dữ hoặc buồn phiền.
- Trong bữa ăn, không uống nhiều nước hoặc dùng các chất lỏng khác.
- Uống thật nhiều nước trong lúc khác.

CÁC VẤN ĐỀ SỨC KHỎE THƯỜNG HAY GẶP TRONG LÚC TẬP YOGA.

-Không nên để đầu ở vị trí thấp hơn tim, nếu bạn bị cao huyết áp, có vấn đề về tim, tăng nhản áp hay bong võng mạc.
- Nếu bị cao huyết áp hoặc tim mạch, bạn chỉ nên giữ tư thế đứng mạnh mẽ hay nằm sấp trong một thời gian ngắn.
- Nếu bị chứng huyết áp thấp, bạn nên thoát khỏi tư thế lộn ngược một cách chậm rãi.
- Nếu bị các chứng bệnh về lưng hoặc đau thần kinh toạ, hãy tránh các động tác cúi gập xuống, hay vặn mình, với những động tác trên có thể gây đau đớn hoặc dẫn đến các triệu chứng khác như ngứa ran mình hoặc tê cứng chân. Bạn nên cong đầu gối lại khi thực hiện các động tác gặp người về phía trước.
- Nếu bị một chứng thoát vị nào đó, hay bạn đã từng trải qua một cuộc giải phẩu khoang bụng, thì không nên tạo sức ép mạnh vào vùng bụng.
- Nếu bị viêm khớp, bạn chỉ nên vận động các khớp ở phạm vi ngoài vùng bị đau, nhưng tốt nhất là đừng tập Yoga trong lúc bị viêm khớp.
- Trong lúc hành kinh, mức năng lượng của bạn sẽ xuống thấp hơn bình thường, bạn cần phải thực hiện những động tác một cách nhẹ nhàng. Tránh các tư thế lộn ngược và các tư thế tạo áp lực vào vùng xương chậu. Tốt nhất là trong thời gian này bạn chỉ nên tập thở và tập thiền là đúng đắn nhất và hiệu quả nhất.

Thursday, March 31, 2011

LẼ VÔ THƯỜNG VÀ SỰ BÌNH AN TRONG CUỘC SỐNG.

B/s Nguyễn Quý Khoáng, tháng 3/2011

1/ ĐẠI CƯƠNG

Trong thế giới đầy biến động, nào là thiên tai, động đất, dịch bệnh, chiến tranh...ở khắp mọi nơi, vậy mà chúng ta lại nêu lên việc là làm sao có được cuộc sống bình an, chẳng phải là quá mộng tưởng chăng?

Hằng ngày chúng ta phải lo đủ thứ, nào là việc nhà, việc cơ quan, việc xã hội... biết bao nhiêu là áp lực khiến chúng ta khó tránh khỏi "STRESS". Vậy thì chúng ta phải làm sao để có được sự bình an trong tâm hồn và trong cuộc sống đây?

Đại thi hào Nguyễn Du đã viết trong Kim vân Kiều:
"Đã mang lấy nghiệp vào thân.
Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.
Thiện căn ở tại lòng ta.
Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ tài."

Mỗi người điều có một cuộc đời riêng và có một số mạng riêng. Số mạng này do chính cá nhân đó đã tạo ra từ những nhân trong quá khứ theo luật nghiệp báo. Tuy nhiên số mạng này có thể được thay đổi nhờ phước đức mình tạo nên trong kiếp này như người xưa đã dạy: "Đức năng thắng số."

Khi nói đến vô thường... người ta hiểu nó đồng nghĩa với khổ và sự chết chóc, thì tại sao ở đây đề tài lại là: LẼ VÔ THƯỜNG VÀ SỰ BÌNH AN?

Vô thường không có lỗi gì cả, đau khổ là do con người tạo nên. Vô thường là một quy luật tự nhiên của vũ trụ, vô thuỷ, vô chung, chi phối cả vũ trụ. Không có bất cứ điều gì, từ vật chất đến tinh thần thoát khỏi lẽ vô thường. Nói đến vật chất thì ta nói đến" THÀNH, TRỤ, HOẠI, KHÔNG", nói về tinh thần ta sẽ nghĩ đến "SINH, LÃO, BỆNH, TỬ".
Thật ra khổ hay không khổ là do nhận thức từ nơi mỗi con người. Nguyên nhân khổ đau là vì sự vật luôn thay đổi mà ta cứ tưởng nó trường tồn, ví dụ như ta muốn trẻ mãi không già...Chính sự nhận thức và ước muốn sai lầm đó làm phát sinh sự đau khổ.

2/ ĐỊNH NGHĨA.

- Vô thường là mọi vật không bao giờ và không thể nào giữ được trạng thái lúc nào cũng như lúc nào, cũng trước sau như một. Mà đó là một sự thay đổi không bao giờ ngừng trong tự thể của nó. Trong vũ trụ có vật gì là không chuyển động đâu? Ngay cả đến một tảng đá, một bức tường mà ta thấy nó nằm im lìm...nhưng bên trong, ở trong tầng vi mô, các nguyên tử, điện tử đang chuyển động.

- Vô thường là không thường còn, không thường hằng. Tất cả mọi sự vật trên thế gian này, từ hữu hình đến vô hình đều không phải là một thực thể bất biến, mà chúng luôn thay đổi, xoay chuyển không ngừng. Hiện hữu là một dòng sinh diệt liên tục. Sự thay đổi sinh-diệt, diệt-sinh này xảy ra từng phút giây, từng sát na một. Chính vì thế mà triết gia Hy lạp Heraclite đã nói một câu bất hủ: "Người ta không bao giờ tắm hai lần trên cùng một dòng sông".

- Vô thường là một định luật chi phối tất cả mọi sự vật...từ thân, tâm và cùng ngoại giới.

VỀ THÂN: Xét về vi mô, các tế bào trong cơ thể chúng ta thay đổi từng giờ, từng phút, từng giây tuỳ theo loại. Trong một giây đồng hồ, biết bao nhiêu tế bào đã chết đi thì lại có biết bao nhiêu tế bào được sản sinh trở lại. Thân xác ta luôn thay đổi liên tục, chỉ sau một tháng là thân xác của chúng ta không còn là thân xác cũ của chúng ta nữa nhưng chúng ta đâu hề biết mà cứ tưởng nó vẫn vậy. Vậy là thân ta đều chịu lẽ sinh-diệt, diệt-sinh nên từ một cháu bé, dần dần lớn lên ta trở thành một thanh niên hay thanh nữ, rồi cho đến lúc trưởng thành, và cuối cùng là một người già. Vậy thực sự ta là ai?

VỀ TÂM: Có bao nhiêu ý nghĩ [niệm] hiện lên rồi biến mất trong một giây đòng hồ, điều này chúng ta thấy rất rõ khi bắt đầu tập ngồi THIỀN. Trong phật giáo thường hay dùng từ "sát na"để chỉ đơn vị thời gian nhỏ nhất. Các niệm của chúng ta thay đổi từng sát na, có những ý nghĩ mà ta quyết như đinh đóng cột, nhưng sau khi tự mình xét lại hoặc bị người khác thuyết phục...ta quay ngoắt 180 độ. Trạng thái tâm lý con người thay đổi không ngừng theo ngoại cảnh. Vậy thử hỏi cái ta nó ở đâu?

Vậy cái ta là tập hợp của thân và tâm. Thân chính là SẮC, và tâm gồm THỌ, TƯỞNG, HÀNH và THỨC. Mà đã là duyên hợp thì cái ta không thật, không bền. Có lúc tôi ví cái ta như một dòng sông, đứng ở một điểm nhìn, ta thấy dòng sông vẫn vậy, nhưng nếu quan sát thật kỹ ta thấy ở điểm đó không còn là cùng các hạt nước ở trong giây trước so với giây sau.

Cái ta cũng có thể được ví như một vòng lửa tạo ra bằng cách xoay tròn 180 độ một sợi dây mà đầu tận cùng có buộc một hòn sỏi được bao bởi một bùi nhùi có tẩm dầu hoả đang cháy. Khi quay thật nhanh, ta có cảm tưởng như có một vòng lửa thực sự, nhưng sự thật không phải vậy, chỉ là ảo ảnh mà thôi.

VỀ NGOẠI GIỚI: Những gì chung quanh ta như người, vật, cỏ, cây, sông, núi...thậm chí đến mặt trời, mặt trăng, các vì sao, các thiên hà trong vũ trụ cũng không thoát khỏi định luật THÀNH, TRỤ, HOẠI, KHÔNG.

Hình ảnh mà tôi thích nhất khi ví cuộc đời một người, đó là hình ảnh các dòng thác cuồn cuộn đổ xuống tạo thành sông và cuối cùng dòng sông đổ ra biển.

Tuổi 20-40: Lý tưởng đầy nhiệt tình, nhiệt huyết hừng hực, hăng say hoạt động như dòng thác chảy ào ào cuốn trôi tất cả.

Tuổi 40-60: Suy tính thiệt hơn, tính tình trầm hơn, sự năng động giảm dần như dòng sông tuôn chảy, tuy nhiên có lúc vẫn còn siết.

Tuổi trên 60: Không còn muốn ganh đua với đời, tính tình trầm lặng như dòng sông êm ả chảy ra biển cả.

3/ NHỮNG ĐIỀU SUY RA TỪ LẼ VÔ THƯỜNG.

A/ VÔ THƯỜNG CÒN CÓ MỘT TÊN KHÁC LÀ VÔ NGÃ.
Vì sự vật chuyển biến không ngừng cho nên sự vật không duy trì tính cách đồng nhất tuyệt đối của nó. Đứng về mặt thời gian, sự vật là vô thường. Đứng về mặt không gian, sự vật là vô ngã. Giáo lý Vô ngã đã được đức Phật kết luận trong kinh Vô ngã tướng bằng một câu ngắn gọn, rất quan trọng: "Cái này không phải là ta, cái này không phải là của ta, cái này không phải là tự ngã của ta".

Cái này chính là "cái ta đây", "cái tôi đây", "cái thân này", "cái thân tâm này". Đức Phật muốn phá bỏ ý niệm sai lầm về bản thể con người.

1/ Phá bỏ cái chấp thủ vào năm uẩn: SẮC, THỌ, TƯỞNG, HÀNH, THỨC...xem đó là ta, như đang có tấm thân nguyên thuần một khối. Chính sự chấp vào cái ta, nghĩa là xem cái tôi to lớn [ta thường tự đồng hoá với chức danh to lớn với danh xưng, chức vụ, địa vị trong xã hội v.v...] vì vậy cho nên nếu có ai đó đụng chạm vào tự ái ta như là nói xấu, hoặc mắng nhiếc ta...thì ta sẽ nổi sân lên.

2/ Chính vì quan niệm rằng có một cái tôi thực sự khác biệt với mọi người, nên ta cùng với người thân của ta đều mong muốn là phải hơn người khác về mọi mặt như là phải học cho thật giỏi hơn, địa vị cao hơn, giàu có hơn v.v...Chính vì lòng tham mà ta bất chấp mọi thủ đoạn để đạt được những điều đó.

Đề xướng Vô ngã không phải để hư vô hoá con người, xoá bỏ sự có mặt của con người trong cuộc đời, mà trái lại phải là sự kết hợp chủ thể với tha nhân, xoá bỏ biên giới cách biệt giữa người và người, trải rộng lòng từ bi đến tất cả chúng sinh.

B/ VÔ THƯỜNG CÒN LÀ MỘNG HUYỄN.

Hiểu được lý vô ngã, chúng ta triển khai rộng ra Pháp vô ngã. Vạn vật trên thế gian này chỉ do duyên hợp, chúng ta càng thắm thía lẽ vô thường trong trời đất.

Đàn ông cũng như đàn bà có khác gì bông hoa, lúc bông hồng mới là búp thì trông thật dễ thương, rồi từ khi bắt đầu nở cho đến khi nở rộ thì trông thật kiêu sa, lộng lẫy với mùi hương thoang thoảng khiến ta ngất ngây. Sau một thời gian các cánh hoa thâm lại và nhăn nheo với mùi chát chát, và cuối cùng cánh hoa rũ xuống, các cánh hoa rụng dần. Đây là quy luật THÀNH, TRỤ, HOẠI, KHÔNG của tạo hoá, không ai tránh khỏi. Hiểu được rõ ràng như vậy, ta mới không bị động tâm, không buồn khổ khi lẽ vô thường đến với ta trong lúc tuổi già. Có đó rồi mất đó, cuộc đời có khác chi là giấc mộng, như một tấn tuồng gồm đủ: HỈ, NỘ, ÁI, Ố... mà ta là diển viên vừa là khán giả. Chức vụ mà ta được giao có khác gì một màn kịch mà ta đóng vai giám đốc, bộ trưởng, thủ tướng, tổng thống trong 5 năm hay 10 năm...khi hạ màn thì ta lại là thường dân. Nếu ta cố chấp vào cái vai đó, tưởng nó là thật, nó là vĩnh viễn thì khi mất nó ta sẽ rất đau khổ.

C/ VÔ THƯỜNG ĐƯA ĐẾN TÌNH THƯƠNG.

Tất cả mọi người, dù sang hèn, giàu nghèo, mạnh yếu, đẹp xấu...đều bình đẳng trước cái chết. Chúng ta đều mang án tử hình, chỉ có khác nhau về thời gian thi hành án mà thôi. Chúng ta như những tử tù cùng bị nhốt chung trong ngục thất, đó là ngục tam giới [dục giới, sắc giới và vô sắc giới]. Thay vì thương nhau, chia sẻ cho nhau những thực phẩm mà người nhà gửi vào, giúp đỡ nhau những lúc bệnh hoạn, an ủi nhau những lúc suy sụp tinh thần...thì có người lại chia phe phái, gọi nhau là đại bàng, rồi gây gỗ nhau, rồi đánh nhau, và gây đau khổ cho nhau. Thật là đáng buồn!

Vậy thái độ đúng đắn nhất là hãy thương nhau, tha thứ cho nhau, giúp nhau thoát khỏi ngục tam giới này, có nghĩa là thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử.

Chỉ có tình thương mới xoá bỏ đươc hận thù: "Lấy oán báo oán, oán oán chập chùng. Lấy đức báo oán, oán mới tiêu tan".

4/ LÀM THẾ NÀO ĐỂ CÓ SỰ BÌNH AN TRONG CUỘC SỐNG?

Để có được sự bình an trong cuộc sống, theo tôi, hãy làm những bước sau đây.

A/ QUÁN CHIẾU LẼ VÔ THƯỜNG CỦA ĐỜI SỐNG, XEM CUỘC ĐỜI NHƯ GIẤC MỘNG.

Vạn vật trên thế gian này luôn chuyển động không ngừng, do đó nó luôn thay đổi thường xuyên và có ngày phải tàn và tan rã. Ở trong Tăng chi bộ kinh, khi giảng cho ngài Cấp cô độc về công đức của sự cúng dường, đức Phật có nói: "Công đức lớn nhất trong tất cả các cách cúng dường là quan sát sâu sắc đạo lý vô thường của sự vật". Ngoài ra kinh kim cang kết thúc bằng 4 câu kệ rất quan trọng.

"Nhất thiết hữu vi pháp
Như mộng huyễn bào ảnh,
Như lộ diệc như điển
Ứng tác như thị quán"

Tạm dịch:

" Tất cả các pháp hữu vi
như mộng, giả, bọt, bóng,
như sương cũng như điện chớp,
nên khởi quán như thế".

"Hữu vi" là tất cả những gì có tướng mạo nên đều là vô thường và sinh diệt. Tất cả các pháp hữu vi đều như giấc mộng, đều giả hợp như bọt nước trên đường khi mưa rơi, như bóng người và vật in trên tường trong ánh nắng mặt trời, như giọt sương trên hoa lá lúc ban mai, như luồng điện xẹt do sét đánh khi trời sắp mưa. Ta hãy thường xuyên quán chiếu cuộc đời là như vậy đó. Có đó mà không đó" sắc sắc, không không". Trên đời này đâu có gì là bền vững, trường tồn, đâu có gì là bất biến. Quán như vậy ta mới hàng phục được tâm, mới an trụ được tâm.

Mặc dù biết đời là mộng, nhưng chúng ta vẫn phải có bổn phận tránh làm các điều ác, nên làm các điều lành, vì "nhân giả nhưng cũng có quả giả" và nghiệp báo sẽ theo ta như bóng với hình ngay trong giấc mộng. Để áp dụng trong việc sửa mình cho thật tốt, chúng ta nên nhớ lời một bậc thầy Mật Tông đã dạy: "Hãy luôn luôn nhận thức rõ ràng tính mộng huyễn của cuộc đời, để giảm bớt luyến ái và thù ghét. Hãy có tâm tốt với mọi loài, có tâm thương xót bất kể kẻ khác đối xử với bạn ra sao. Những gì người khác làm đối với bạn không quan trọng khi bạn xem chúng như là mộng huyễn. Cái chính là bạn phải có ý định tốt trong giấc mộng, đây là điểm cốt yếu, đây đích thực là tu tâm".


B/ ĐỪNG XEM CÁI TÔI MÌNH TO QUÁ.

Lý vô ngã là một trong các giáo lý căn bản của đạo Phật, nó độc nhất vô nhị, vì không có tôn giáo nào trên thế giới lại phủ nhận cái TA như đạo Phật cả. Đây không phải là giả thuyết, mà là một chân lý được soi sáng bằng sự thực chứng của trí tuệ. Khi đưa ra lý vô ngã, đức Phật không phải bảo chúng ta xoá bỏ cái thân này, mà chỉ muốn chúng ta đừng có quá cố chấp vào nó, cho rằng nó có thật để đừng bị dính mắc vào tham, vào sân.

Đừng tự đề cao mình quá vì mình còn nhiều hạn chế:

- Mình chịu sự chi phối bởi luật của tạo hoá: Sinh, lão, bệnh, tử.

- Hiểu biết của mình còn nhiều hạn chế.

- Hãy khiêm tốn, đừng quan trọng hoá mình quá.

Mình cũng có thể phạm lỗi như mọi người, vì vậy mình nên thông cảm, bao dung, tha thứ lỗi lầm của người khác. Thấy đời là giấc mộng, thấy mình là vô ngã thì sẽ tránh được "stress", vì tám ngọn gió [bát phong] không lay chuyển được ta.

- ĐƯỢC: được tài lợi, tâm không xao xuyến.

- MẤT: bị thiệt hại, lòng vẫn thản nhiên.

- KHEN: được công kênh, tâm vẫn như không.

- CHÊ: bị huỷ nhục, lòng không bực tức.

- VINH: được ngợi khen, tâm vẫn bình thản.

- NHỤC: bị chê bai, lòng không biến đổi.

- VUI: được việc vui, tâm không xao động.

- KHỔ: gặp khổ đau, lòng vẫn an nhiên.

C/ HÃY THƯƠNG YÊU TẤT CẢ CHÚNG SINH.

Thấy rõ được lẽ vô thường không chừa một ai, ta hãy thương yêu mọi người, vì họ cùng cảnh ngộ với mình. Cuộc đời như tấm gương phản chiếu, vì khi mình mỉm cười thì trong gương cũng cười lại, còn nếu mình giơ nắm đấm lên thì trong gương cũng giơ nắm đấm lại. Luật nhân quả thì quá rõ ràng, nhưng ta phải hiểu định luật này theo 3 thời: quá khứ, hiện tại, và tương lai... vì nhân duyên gieo xuống thì phải đủ duyên quả mới trổ. Chúng ta đừng thấy những gì diễn ra trước mắt mà vội kết luận là luật nhân quả không có hay là không đúng, rồi than thân trách phận là "trời không có mắt".

Ở đây tôi cũng xin mở ngoặc nói thêm một chút về luật nhân quả theo cái biết của tôi:

- Trong buổi nói chuyện của B/S Nguyễn quý Khoáng tại số 201 Nguyễn chí Thanh. Khi kết thúc buổi nói chuyện, có một thính giả đặt câu hỏi: "Nếu nói luật nhân quả là có thật, gieo nhân nào thì gặt quả nấy, sao bản thân tôi giúp đỡ người ta từ tiền bạc cho đến tinh thần, mà tôi không nhận được quả tốt nơi người đó, mà còn bị người đó chưởi mắng mình nữa". [câu hỏi này chúng ta rất thường nghe trong lúc nói chuyện về luật nhân quả]. Diễn giả trả lời rằng" muốn có được kết quả cũng phải chờ thời gian, thí dụ như ta gieo một hạt giống xuống đất cũng cần phải có thời gian chờ nó nẩy mầm, rồi còn cần phải vun phân, tưới nước nữa chứ... đâu phải gieo xuống là có ăn liền". Nhưng theo ý của tôi [ ý của MAI VĂN NHƯ] nếu gặp những câu hỏi như trên, tôi sẽ trả lời như thế này: "Những gì mà anh giúp cho người ta đó, từ tinh thần đến vật chất. Anh chớ nghĩ rằng anh đang giúp, mà hiện tại biết đâu anh đang "TRẢ LẠI NHỮNG GÌ MÀ ANH ĐÃ VAY MƯỢN TRONG QUÁ KHỨ". Nghĩ được như vậy thì tâm anh sẽ được nhẹ nhàng hơn. Không phải luật nhân quả là cứ phải anh giúp người đó thì người đó sẽ trả ơn cho mình, mà là sẽ có người khác giúp lại mình nữa chứ, bởi vì luật nhân quả đâu chỉ bó hẹp trong phạm vi là mình giúp người đó thì người đó phải giúp lại mình, hoặc phải cảm ơn mình. Còn nếu nâng cao tâm thức lên một chút, anh hãy nghĩ đến câu "thi ân bất cầu báo", làm được việc thiện rồi thì hãy quên luôn đi, còn nhớ đến việc thiện là còn nuôi dưỡng cái mầm ác trong đầu, quên luôn ở đây mà tôi muốn nói tới, đó là khi bổng chợt nhớ, hoặc muốn nghĩ đến nó, thì dụng Ý dừng lại ngay, tuy nhiên việc này cũng hơi khó đấy,[rất tiếc là tôi không thể trao cùng thính giả ấy, bởi vì hết giờ].

Teilhard de Chardin, nhà thần học nổi tiếng của Pháp đã nói trong quyển: La vie vaut d'être vécue [đời đáng sống] là tại sao chúng ta công nhận có những định luật về vật lý trong vũ trụ, trong khi đó chúng ta lại không tin có những định luật về luân lý và đạo đức trong thế giới tinh thần. Trong đạo Phật có câu rất hay: " Muốn biết kiếp trước người đó như thế nào, thì hãy xem kiếp này của họ. Muốn biết kiếp sau người đó như thế nào, thì hãy xem hiện tại họ sống kiếp này ra sao".

Vậy ta là chủ vận mệnh của mình , hạnh phúc hay đau khổ là do chính ta quyết định, chứ không do bất cứ một ai khác, hoặc là một ông thần nào hay một đấng nào khác. Vì thế ta nên giữ từng ý nghĩ, từng lời nói, từng việc làm cho thật trong sạch để tạo nghiệp tốt cho đời này và đời sau.

Từ 3 nhận thức trên đây, ta hãy để tâm mình buông xả, không cố chấp vào một điều gì, không dính mắc vào bất cứ cái gì. XẢ ở đây xuất phát từ sự hiểu biết, niềm cảm thông, lòng bao dung. XẢ là lòng an tịnh, quân bình, không phân biệt người với mình. Cái tôi càng nhỏ thì tâm xả càng trọn vẹn.

- Từ tâm XẢ này, ta sẽ có tâm HỶ, nghĩa là vui với cái vui của người khác thay vì có tâm ganh ghét một cách nhỏ nhen.

- Từ tâm XẢ này, ta sẽ có tâm BI, nghĩa là thương những người nghèo, đói, bị bệnh tật, gặp hoạn nạn, hoặc đau khổ về thể xác và tinh thần.

- Từ tâm XẢ này, ta sẽ có tâm TỪ, nghĩa là thương yêu tất cả mọi người, mọi sinh vật một cách không phân biệt, thậm chí đến cả cỏ, cây.

4/ KẾT LUẬN.

Vô thường là điều cần thiết cho mọi sự tiến bộ, vì có vô thường thì mới có thể sữa chữa được những lỗi lầm mình lỡ mắc phải để trở thành người tốt hơn, mới có thể tu tập để trở thành thánh nhân.

Quán chiếu lẽ vô thường, ta không lười trễ, mà cố gắng hoàn thành ước nguyện của mình. Ta biết quý trọng từng giờ, từng phút của sự sống. Biết sống trong chánh niệm , biết tỉnh thức trong hiện tai. Ta ý thức được những gì đang có trong hiện tại là quý giá, và ta phải trân trọng, chăm sóc nuôi dưỡng chúng.

Thấu hiểu lẽ vô thường, ta không chán ghét mọi sự, mà là tiếp xử vạn vật bằng tuệ giác, nghĩa là với thái độ không tham đắm và dính mắc. Ta giữ được tâm bình thản trước mọi hoàn cảnh thay đổi bất ngờ. Ta không đi tìm dục lạc tạm bợ, mà tìm hạnh phúc chân thật, thường còn.

Tài liệu tham khảo
1/ DANH TỪ PHẬT HỌC THỰC DỤNG, Tâm tuệ Hỷ.
2/ TỪ NỘI TÂM HƯỚNG RA BÊN NGOÀI, Dadi Janki.
3/ KINH VÔ NGÃ TƯỚNG, cư sĩ Thiện Nhựt-Huỳnh hữu Hồng.
4/ TẠNG THƯ SỐNG CHẾT, Soyan Rinpoche, Ni sư Trí Hải dịch.
5/ KINH KIM CANG GIẢNG GIẢI, HT Thích thanh Từ.
6/ ĐỨC PHẬT VÀ PHẬT PHÁP, ĐĐ Narada, cư sĩ Phạm kim Khánh dịch.
7/ CHUYỂN HOÁ TÂM, Shamar Rinpoche.
8/ SỐNG HẠNH PHÚC, CHẾT BÌNH AN, Đức Dalai Lama.
9/ ĐẮC NHÂN TÂM, Dale Carnegie, Nguyễn hiến Lê dịch
10/ TỈNH THỨC, Dr Prashant V. Kakode, LV. Mậu- TT. lâm dịch

Tuesday, February 22, 2011

PHÁT HIỆN CƠN GIẬN BẰNG YOGA

KHÁI NIỆM VỀ TỨC GIẬN

Tức giận là một trạng thái cảm xúc tiêu cực rất phổ biến của con người, nó là một trong bảy trạng thái tình cảm [thất tình] như là: HỈ, NỘ, ÁI, Ố, BI, DỤC, LẠC...HỈ là VUI, NỘ là GIẬN DỮ, ÁI là YÊU, Ố là GHÉT, BI là BUỒN, DỤC là HAM MUỐN, LẠC là THÍCH THÚ, và tức giận có nghĩa là NỘ. Nó là một loại cảm xúc tiêu cực, không lành mạnh và là nguyên nhân gây ra nhiều rắc rối khác. Sự tức giận có thể biểu hiện dưới nhiều cường độ khác nhau. Đầu tiên là BỰC MÌNH, kế đến là sự GIẬN DỮ, tiếp theo là cơn THỊNH NỘ, ĐIÊN CUỒNG. Đối tượng tạo nên sự tức giận có thể là do con người, cũng có thể là do con vật và thậm chí có thể đó là những đồ vật vô tri, vô giác. Mỗi khi ta tức giận ai, thì ta cảm thấy người đó thật là khó ưa, thường thổi phồng những đặc tính không tốt của người đó, không nghĩ đến điểm tốt của họ và thường muốn hại họ.

SỰ NHẬN ĐỊNH CƠN TỨC GIẬN DƯỚI GÓC ĐỘ CỦA CÁC NHÀ TÂM LÝ HỌC

- Theo BUPA, giận là một loại cảm xúc tự nhiên và thường diễn ra khi người ta cảm thấy không hài lòng, chán nản, buồn bực, bị từ chối hay bị chống đối v.v...Nó là một loại cảm xúc mạnh mẽ, và có thể gây nên những hậu quả tai hại đến công việc, đến sức khoẻ và hạnh phúc của gia đình.

- Theo MICHAEL KENT, tức giận có thể được xem là một hình thức phản ứng và đối phó được sinh ra để giúp cho con người có thể ứng phó trước những đe doạ.  

- Theo RAYMOND W. NOVACO trong từ điển bách khoa về tâm lý trị liệu đã định nghĩa như sau: Tức giận là một loại cảm xúc tiêu cực, nảy sinh một cách chủ động như là một sự chống đối phát sinh đến một ai đó, được xem như là nguồn gốc của một sự đáng ghét.

- Theo từ điển bách khoa về tâm lý học của GALE: Tức giận là một cảm xúc chính yếu của con người, tức giận thường phát sinh bởi sự thất vọng về những cố gắng để đạt được mục đích nào đó, hoặc là những sự đe doạ mà không xuất phát từ một nguồn đáng sợ. Những nguyên nhân gây ra sự tức giận khác nhau đối với mỗi người vào những thời điểm khác nhau trong cuộc sống của họ.

- Theo ARTHUR S. REBER và EMILY S. REBER trong từ điển tâm lý học đã định nghĩa rằng: GIẬN...nói một cách tổng quát là một sự phản ứng cảm xúc khá mạnh mẽ và nó nảy sinh trong những tình huống khác nhau, như là thường bị kiềm chế, bị quấy rối, bị lấy đi những vật sở hữu của bản thân, bị tấn công, hoặc bị đe doạ v.v...

- Theo triết gia GURDJIEFF cũng nhận xét: Bộc lộ sự tức giận có thể phá tan tất cả tài sản tinh thần rèn luyện, và tâm hồn con người sẽ bị trống rỗng trong một thời gian rất lâu.

LỜI CỦA CÁC ĐẠO SƯ PHƯƠNG ĐÔNG.

- Trong KINH PHÁP CÚ có nói rằng: Sự tức giận giống như một chiếc xe ngựa chạy loạn xạ, và chỉ những ai biết kiềm giữ được nó mới là người kỵ mã đại tài.

- Của đạo sư Smami Sivananda giảng dạy: Vì giận dữ mà một người tu luyện sẽ mất hết công phu tâm linh trong chốc lát.

- Ở trong một cuốn cổ thư của ẤN ĐỘ, cuốn ARYUVEDA cũng đã nói rõ rằng: Sự bộc phát cơn tức giận hay cố đè nén một cảm xúc nào đó sẽ gây ra các chứng bệnh thuộc về bao tử và ruột. Từ xa xưa các hiền triết đã biết rõ hậu quả tai hại của sự tức giận khi con người ta thường hay đè nén hoặc bộc lộ ra ngoài.

- Ở trong cuốn Suma Theologica, thánh Thomas Aquino đã viết: Bộc lộ sự tức giận thường xuyên sẽ làm gia tăng căn bệnh cao huyết áp, bắp thịt co thắt lại, tim đập mạnh lên và sự xáo trộn của thể chất sẽ cản trở những việc suy nghĩ tích cực.

- Ở trong cuốn Philokalia của giáo lý bí truyền cũng nói rằng: Một người giận dữ dù có làm cho người chết sống dậy cũng không được thượng đế chấp nhận.

Như vậy chúng ta có thể hiểu một cách khái quát rằng: Tức giận là một trạng thái của cảm xúc, là cảm giác bực bội khi bị thất vọng hoặc là bị tổn thương, là sự phản ứng đối với những cảm giác đau khổ. Một khi người ta nổi giận thì thường có những biểu hiện cộc cằn, thô lỗ và không được thân thiện trong lời nói, hoặc những hành động qua ánh mắt, nét mặt v.v...Và tức giận thường gây cho bản thân chúng ta nhiều điều bất lợi và những người xung quanh nhiều phiền muộn, rắc rối.

CÁC NGUYÊN NHÂN GÂY NÊN SỰ TỨC GIẬN

Theo các nhà tâm lý học thì người ta có thể nổi giận do nhiều nguyên nhân khác nhau, bao gồm cả những nguyên nhân bên trong lẫn bên ngoài. Bất cứ khi nào chúng ta bị cản trở, không cho phép ta đạt được những gì ta mong muốn, hoặc là bị ép vào những hoàn cảnh mà chúng ta không thích; hay nói một cách khác là bất cứ khi nào chúng ta phải đối diện với những gì mà chúng ta né tránh, hoặc là những gì mà chúng ta không thích, tâm của chúng ta thường cảm thấy đau khổ, và cảm giác không dể chịu này thường được chuyển thành cơn tức giận. Và trong Phật học gọi là CĂN [nội tâm] TRẦN [ngoại cảnh] THỨC [sự nhận biết]. Do 6 căn tiếp xúc với 6 trần mà không có sự hài lòng sẽ sinh ra phản ứng, và tức giận cũng do nguyên nhân này mà ra.

NHỮNG YẾU TỐ VÀ HOÀN CẢNH THƯỜNG LÀM CHO TA NỔI GIẬN.

Đau buồn vì mất người thân; stress do áp lực công việc; mệt mỏi; đau khổ; đói khát; sự khiếm nhã; mất lịch sự; đang mắc phải chứng bệnh thuộc về tâm lý hoặc sinh lý; nghiện rượu, nghiện thuốc lá, nghiện ma tuý; bị trêu chọc hay bị bức hiếp; bị làm nhục; đang trong thời điểm gấp rút; sự ùn tắt giao thông; sự thất vọng; sự phục vụ thiếu chu đáo; sự thất bại; sự không chung thuỷ; thất tín; bị trộm cắp; gặp phải những khó khăn; phiền toái về tài chính; bản thân đang mang bệnh ung thư v.v...

NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA SỰ NÓNG GIẬN
- Sự biểu hiện của cơn nóng giận rất đa dạng. Mỗi người biểu hiện cơn tức giận theo cách riêng của mình. Cường độ biểu hiện của sự tức giận có thể biến động từ sự bực tức thông thường đến cơn thịnh nộ dữ dội. Có người mặc dù đang tức giận nhưng vẫn giữ được sự bình tĩnh [dạng người này rất hiếm] nhưng cũng có người trở nên hung hăng, dữ tợn [dạng này rất thường thấy]...Có người phản ứng ngay lập tức đối với đối tượng nào làm cho họ tức giận, nhưng cũng có người kìm nén những cảm xúc của bản thân và phản ứng một cách nhẹ nhàng.

NHỮNG BIỂU HIỆN TRỰC TIẾP THỂ HIỆN QUA HÀNH VI.

- Hung hăng: Nói những lời thô độc, hành động thô bạo, hung dữ, xô đẩy, đánh đập, hăm doạ bằng vũ khí như: Dao, gậy, súng v.v...
- Gây hấn: Chỉ trích gay gắt, soi mói lỗi của người ta, chửi mắng, bêu xấu về những đặc điểm hay những động cơ hèn hạ vô đạo đức của người ta.
- Hãm hại: Gièm pha những điều thâm độc, tìm cách hãm hại người ta.
- Nổi loạn: Có những hành vi chống đối xã hội, công khai khiêu chiến, từ chối đàm luận.

NHỮNG DẤU HIỆU BIỂU HIỆN QUA LỜI NÓI HOẶC QUA Ý NGHĨ.

- Nói những lời căm ghét và lăng nhục, chẳng hạn như: "tao ghét mày", "tao bực lắm rồi đó", "mày là thằng ngu," v.v...
- Khinh miệt và ghê tởm, phê phán, ngờ vực, khiển trách, căm thù và muốn hại người ta, gọi người ta bằng nhiều danh từ rất khiếm nhả, nói những lời tưởng chừng như nhẹ nhàng nhưng lại rất sắc bén.

NHỮNG DẤU HIỆU GIÁN TIẾP BIỂU HIỆN QUA HÀNH VI.
- Xa lánh mọi người: Rút vào một chỗ yên tĩnh, trầm lặng, ít giao tiếp với mọi người và mọi vật chung quanh, đặc biệt là rất ít biểu hiện cảm xúc [đây là dấu hiệu bắt đầu của căn bệnh trầm cảm].
- Có những dấu hiệu của sự căng thẳng thần kinh: Mệt mỏi, lo âu, huyết áp cao, rối loạn nhịp tim, trầm cảm và mặc cảm tội lỗi, mắc chứng tâm thần hoang tưởng, tự huỷ hoại bản thân hoặc lạm dụng các chất gây nghiện như là uống rượu, hút bồ đà, chích xì ke v.v...

NHỮNG THAY ĐỔI CỦA CƠ THỂ KHI TỨC GIẬN.
- Mỗi khi chúng ta nỗi giận thì sẽ ảnh hưởng đến cả hai phương diện tâm lý và sinh lý của bản thân, dù là giận người khác hay giận chính bản thân mình. Vì một lý do mà ai đó bị mất kiểm soát cơn tức giận thì hệ thần kinh trung ương sẽ kích hoạt một số thay đổi về mặt sinh học như sau.
- Về phương diện sinh lý: Khi nóng giận lên sẽ tác động vào HỆ GIAO CẢM, làm tiết ra Norepinephrine [ viết tắt NE ] còn được gọi là Noradrenaline [ viết tắt là NA ]. Các chất này theo máu đi vào ruột thượng thận làm tiết ra thêm Norepinephrine và Epinephrine [viết tắt là EN ] còn được gọi là Adrenaline. Cả hai chất này làm máu tăng áp xuất, nhịp tim đập nhanh. Đặc biệt với sự tác động của Epinephrine nó làm cho gan không giữ được đường và thoát ra làm cho máu có đường. Cả hai chất NE và EN tạo ra chất béo trong máu, nếu tiết ra nhiều quá sẽ làm cho cơ thể trở nên béo phì.

- Khi cơn nóng giận nỗi lên sẽ làm cho tim và mạch đập nhanh hơn là hậu quả của tăng tiết hormon tuỷ thượng thận; huyết áp tăng lên do nhiều yếu tố, nhưng quan trọng là do co mạch; nhịp thở nhanh hơn để đáp ứng nhu cầu làm việc căng thẳng hơn của quả tim; nét mặt biến đổi, thường là đỏ mặt và trông dữ dằn hơn; bị đau đầu đột ngột; các cơ trở nên căng hơn; cơ thể run lên; giọng nói lớn hơn và cộc cằn, thô lỗ; nếu như không kiểm soát được cơn giận, đôi khi có thể sẽ dẫn đến nhồi máu cơ tim, hay là đột quỵ đối với những người có bệnh tim mạch.

- Và một câu chuyện sau đây liên quan đến sự tác hại của cơn giận: Có một phụ nữ kia cãi lộn với chồng. Họ đã sử dụng những danh từ tục tằn, thô bạo nhất với nhau. Sau một hồi cãi vã, người chồng giận dữ bỏ đi sau khi đập mạnh cánh cửa như muốn lôi xập căn nhà xuống. Người phụ nữ kia tiếp tục ngồi lải nhải chửi rủa thêm mấy tiếng đồng hồ và đến lúc phải cho con bú. Vừa bú mẹ xong vài giờ, đứa bé ba tháng tuổi bỗng xám ngắt, làm kinh, rồi cuối cùng... tắt thở chết. Cuộc khám nghiệm cho biết đứa trẻ chết là do nhiễm độc. Y học đã chứng minh rằng, khi giận dữ, độc tố từ các hạch nội tiết sẽ chảy vào huyết quản, khi tức giận số lượng bạch huyết cầu sẽ giảm sút một cách nhanh chóng, và khi quá thấp nó sẽ làm hư hại đến hệ thống miễn nhiễm của cơ thể. Qua câu chuyện trên ta cũng nên rút ra một bài học, nhất là đối với những phụ nữ trong thời kỳ mang thai và trong thời gian đang cho con bú. "HÃY LUÔN GIỮ TINH THẦN ỔN ĐỊNH TRONG KHI ĐANG MANG THAI VÀ TRƯỚC KHI CHO CON BÚ"

NHỮNG RỐI LOẠN DO TỨC GIẬN GÂY RA

Não bộ là cơ quan nhạy cảm nhất đối với các cảm xúc. Căng thẳng, tức giận sẽ làm hỗn loạn hưng phấn và ức chế. Hưng phấn quá mạnh sẽ dẫn đến hành vi quá khích. Một lượng máu lớn sẽ đẩy lên não khiến ai tức giận cũng thấy đầu mình căng lên và nặng nề, thần kinh giao cảm sẽ lên đến tột đỉnh...đỏ mặt, tía tai, tóc muốn dựng đứng và đôi mắt đỏ ngầu. Vì thế chúng ta nghe mô tả "giận run lên" là vậy đó. Ở một số người, cơn tức giận lan sang thuỳ chỉ huy vận động, sẽ gây nên co cứng cơ, nói năng lắp bắp hoặc không đứng dậy được. Tức giận và căng thẳng triền miên sẽ làm tăng tỉ lệ mắc bệnh tâm thần.

NHỮNG TÁC HẠI DO TỨC GIẬN GÂY RA.

- GAN: Theo đông y cho rằng: Mọi sự căng thẳng, tức giận đều làm tổn thương đến GAN [nộ thương gan]. Tây y cũng nói rõ hơn. Gan như một quả tim thứ hai, tim rối loạn thì gan cũng rối loạn theo. Khi gan rối loạn thì các chức năng quan trọng như chuyển hoá vật chất, thải độc cũng " loạn" theo, làm gây ảnh hưởng xâm hại toàn thân. Theo các nhà miễn dịch học, khi tức giận...tổng hợp protein kém, hệ miễn dịch của cơ thể yếu dần, và làm tổn thương đến tế bào GAN. Do vậy người đang bị bệnh gan cũng phải nên cẩn trọng, không nên quá căng thẳng hoặc nóng giận thường xuyên.

- HỆ MIỄN DỊCH: Tức giận gây rối loạn hoạt động của các tế bào miễn dịch, khiến chúng hoạt động không ổn định. Tức giận thường xuyên sẽ làm hệ miễn dịch suy yếu và đưa người ta đến với các bệnh nhiễm trùng nặng hơn. Theo quan niệm thông thường, người ta cho rằng bệnh ung thư là một bệnh xâm lăng và đầy quyền lực tấn công thể xác từ bên ngoài vào, một loại bệnh kinh hoàng đồng nghĩa với cái chết. Nhưng các nghiên cứu hiện nay đã cho thấy là các tế bào ung thư không phải là mạnh và quyền lực gì cả, mà chúng lại rất yếu và rất lộn xộn. Thật ra mỗi người trong chúng ta đều có thể bị các tế bào ung thư tấn công một vài lần trong đời. Trong một cá nhân lúc còn đang khoẻ mạnh, hệ thống miễn dịch sẽ nhận ra tế bào dị thường đó và tiêu diệt chúng. Nhưng khi hệ thống miễn dịch yếu đi, khối lượng tế bào lộn xộn sẽ tiếp tục lan ra. Như vậy ung thư không phải là do tấn công từ bên ngoài vào, mà là một sự hư hỏng từ bên trong, và sự hư hỏng từ bên trong là gì? Các nhà khoa học đã nói rằng: Đó là những tình cảm bi quan, căng thẳng và tức giận thường xuyên gây ra.

- HỆ TIÊU HOÁ:
Khi tức giận, nhu động dạ dày và ruột sẽ bị rối loạn. Dạ dày tiết ra dịch ít hơn, nước miếng cũng giảm nên thường gây cảm giác khô miệng, tiêu hoá kém, đầy bụng, chán ăn, hay bị táo bón.

- HỆ HÔ HẤP: Khi tức giận, thần kinh bị kích động, máu ứ ở phổi nhiều hơn, các phế nang giãn ra, màng phổi cũng giãn nở theo, hô hấp rối loạn, thông khí phổi giảm khiến độ bão hoà oxy trong máu giảm theo.

MỘT VÀI QUAN ĐIỂM VỀ SỰ TỨC GIẬN.

- Có người biện luận rằng; sự tức giận không có gì sai cả, chúng ta cần phải nổi giận, cần thể hiện sự tức giận của mình để đòi lại sự công bằng, đòi lại quyền lợi cho bản thân mình, nếu không thì người khác sẽ lấn lướt, sẽ lên mặt. Sở dĩ có những lời biện luận như vậy là vì họ đánh giá sự tức giận một cách hời hợt, họ chỉ đứng trên thiên kiến vị kỷ mà nói như vậy. Nếu chúng ta quan sát sự tức giận một cách sâu sắc và toàn diện, chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra rằng: Khi chúng ta nổi giận thì bản thân chúng ta cũng không có gì vui sướng, và đối tượng mà cơn tức giận ta tác động vào cũng đâu có hạnh phúc gì! [nhìn vào hậu quả của cơn tức giận được liệt kê ở phần đầu, chắc ta không còn dám biện luận gì thêm].

- Không những thế, sự tức giận khiến cho chúng ta mất khả năng tự chủ, nó che mờ tâm trí của ta, cho nên dễ dẩn đến những hành động thiếu suy nghĩ, những việc làm thiếu chín chắn, gây khổ cho mình và cho người khác trong hiện tại lẫn tương lai. Như thế thì làm sao có thể nói rằng tức giận là đúng đắn, là một cảm xúc tích cực được. Những phẩm chất đúng đắn và tích cực thường đem lại hạnh phúc, an vui cho mình và mọi người, nhưng khi chúng ta nổi giận thì chúng ta hoàn toàn không có hạnh phúc.

QUAN ĐIỂM KIỂM SOÁT CƠN GIẬN CỦA CÁC NHÀ TÂM LÝ HỌC.
- Theo các nhà tâm lý học cho rằng chỉ có hai cách mà chúng ta có thể hành xử với cơn giận. Một là kìm nén ở trong lòng, và hai là bộc lộ ra ngoài. Để tránh gây tổn hại đến người khác khi biểu hiện cơn tức giận, các nhà tâm lý học khuyên chúng ta rằng: Mỗi khi tức giận bạn nên đánh vào cái gối, hoặc là quay mặt vào tường để la hét, như vậy có thể giải toả được cơn tức giận. Thế nhưng theo phật giáo thì không tán thành cả hai cách hành xử trên, bởi vì kìm nén cơn giận thì cơn giận vẫn tiềm ẩn trong tâm của chúng ta, đến khi chúng ta không còn làm chủ được tâm thì sự tức giận ấy sẽ bộc phát, và khi đã bộc phát thì mọi sự sẽ trở nên vô cùng khốc liệt. Với cách làm này chẳng khác nào như lấy đá đè cỏ vậy, khi đá còn đè lên cỏ thì cỏ không phát triển được, nhưng khi đá được lấy đi thì cỏ lại phát triển rất mạnh mẽ. Chúng ta có thể mỉm cười khi chúng ta kìm nén cơn giận, nhưng sự giận vẫn còn hiện hữu trong tâm chúng ta, không những thế, khi chúng ta nén chặt cơn giận vào trong lòng thì tâm của chúng ta không có được sự an vui, sự tức giận ấy làm hại chúng ta rất nhiều, những lúc như thế thường có rất nhiều tư tưởng độc ác nảy sinh trong tâm trí ta, nó làm cho ta bực tức, khó chịu. Còn như việc đánh vào gối hay quay mặt vào tường mà la hét trong lúc tức giận thì nghe có vẻ hay... Nhưng gặp những lúc như vậy không biết ta có còn nhớ đến phương pháp này hay không nửa [đến nay không biết là có ai đã áp dụng thành công phương pháp này chưa] và trên thực tế đâu phải lúc nào cũng có sẵn cái gối để chúng ta đánh, có sẵn bức tường để chúng ta la hét mỗi khi tức giận. Chúng ta có thể la hét hay đánh vào gối trong phòng riêng của mình mà thôi, và nếu như cơn tức giận đó xảy ra ở ngoài đường hay ở cơ quan...thì thật không may cho họ, vì họ không thể giải toả được cơn giận theo cách này. Vả lại, sau khi la hét hay đánh vào gối thì cơn giận sẽ nguôi dần đi, nhưng hạt giống giận hờn vẫn còn nguyên vẹn, rồi sau đó nếu như gặp những nghịch cảnh khác là cơn giận lại nổi lên, cho nên đây cũng không phải là một giải pháp hay.

- Tại Ấn độ và cùng một vài nước khác, những thánh nhân trong quá khứ đã nghiên cứu một vài phương pháp để kìm chế cơn tức giận. Nếu có điều gì trái ý xảy ra và chúng ta phản ứng ngay bằng sự tức giận, thì ta lập tức chuyển sự chú tâm vào một điều gì khác. Thí dụ như: Đứng dậy lấy một ly nước uống vào từ từ, thì sự tức giận của ta sẽ dịu bớt lại. Hoặc là ta đếm thầm trong đầu một, hai, ba, bốn...Hoặc là lập đi lập lại một câu nào đó, hoặc lời chú, hay tên của một vị thần linh nào đó mà ta tôn sùng hay tín ngưởng. Lúc đó tâm ta sẽ chuyển hướng, và ta sẽ bớt được phần nào cơn tức giận. Giải pháp này rất hữu ích và luôn có hiệu quả, giải quyết bằng cách này, tâm ta sẽ bớt được sự căng thẳng. Tuy nhiên giải pháp này chỉ công hiệu ở phần nhận thức. Trên thực tế, bằng cách chuyển sự chú tâm vào một đối tượng khác, ta sẽ đẩy sự phiền não, sự căng thẳng, sự tức giận vào sâu trong tiềm thức, và những sự việc ấy càng ngày càng chất chồng thêm. Ngoài mặt có vẻ an lạc, hài hoà...nhưng trong tâm vẫn còn một núi lửa bị dồn ép đang ngủ yên, và một ngày nào đó nó sẽ bùng nổ dữ dội không biết lúc nào.

- Có những vị khác nghiên cứu sự thật về nội tâm đã tìm hiểu sâu rộng hơn là bằng cách thực nghiệm sự thật về Tâm và Thân ngay chính bản thân của họ, và họ nhận ra rằng "chuyển sự chú tâm vào một đối tượng khác trong lúc tức giận, chỉ là sự TRÁNH NÉ VẤN ĐỀ". Tránh né chỉ là cách giải quyết tạm thời khi cơn giận bắt đầu bốc hoả, chứ không thể giải quyết hết sự tức giận. Khi nào tức giận khởi lên trong tâm, ta hãy quan sát nó, đối diện với nó. Ngay sau khi chúng ta quan sát cơn tức giận, thì sự tức giận sẽ giảm dần cường độ và từ từ biến mất. Giải pháp này rất tốt, vì tránh được những cực đoan sau đây: KHÔNG KÌM NÉN VÀ CŨNG KHÔNG BUÔNG THẢ. Vùi sâu sự căng thẳng, sự tức giận vào trong tiềm thức sẽ không loại trừ được nó, và để nó tung hoành bằng những việc làm hoặc lời nói bất thiện chỉ tạo thêm sự rắc rối. Nhưng nếu chúng ta biết cách quan sát cơn tức giận trước khi bắt đầu khởi lên, thì ta sẽ loại trừ được ngay cơn tức giận ấy. Điều này nói thì nghe rất dễ, nhưng trên thực tế có làm được hay không đây? Đó mới là điều đáng nói. Bởi vì đối phó với cái xấu của chính mình thật không dễ một chút nào. Khi sân hận nổi lên, lập tức chúng ta bị chế ngự ngay, khiến chúng ta không thể nào nhận ra được cơn tức giận. Sự khó khăn là chúng ta là không thể nhận ra được cơn tức giận bắt đầu từ lúc nào, từ khi nào...bởi vì nó xuất hiện rất nhanh, hay nói một cách khác là quá nhanh, khiến chúng ta rất khó phát hiện. Nó khởi sự từ trong tiềm thức, và khi đã lên đến tầng nhận thức thì nó có đủ sức mạnh bùng phát khiến chúng ta không thể nào quan sát được nó. Tuy nhiên đối với một người đã giác ngộ, họ đã tìm ra một giải pháp thiết thực. Các vị đó khám phá ra rằng khi nào có phiền não, có căng thẳng, có tức giận xảy ra trong tâm trí, về mặt sinh lý thì có hai sự việc xảy ra cùng một lúc: Một là hơi thở mất nhịp điệu bình thường, chúng ta bắt đầu thở nhanh, thở ngắn, thở đứt đoạn, thở hỗn hển v.v... Ở mức độ tinh vi hơn, các phản ứng sinh lý bắt đầu tạo ra cảm giác, bởi vì những phiền não và căng thẳng đều tạo ra cảm giác này hay cảm giác khác trong cơ thể.

Điều này đưa đến một giải pháp thiết thực. Đối với một người bình thường họ không thể nào quan sát được những phiền não, những sự tức giận trừu tượng trong tâm như là sợ hải, sân hận, si mê v.v...Nhưng dưới sự hướng dẫn của một vị thầy đã đắc đạo, hướng dẫn người tập luyện tập đúng phương pháp... thì họ rất dễ dàng quan sát được sự hô hấp và cảm giác, bởi hai sự việc này liên quan trực tiếp với những sự phiền não hoặc là tức giận ở trong tâm. Sự hô hấp và cảm giác sẽ giúp ta hai cách: Thứ nhất nó giống như có người thư ký riêng, ngay khi tức giận nổi lên trong tâm, hơi thở sẽ mất nhịp điệu bình thường, và nó sẽ báo động như có một điều gì đó không ổn đang bắt đầu xuất hiện. Và tương tự như vậy, cảm giác sẽ cho ta biết là có một điều gì không ổn. Khi được cảnh giác, chúng ta có thể bắt đầu quan sát cảm giác, và rất nhanh chóng chúng ta thấy sự tức giận từ từ biến mất. Hiện tượng này giống như hai mặt của đồng tiền xu. Một là ý nghĩ và cảm xúc hiện ra trong tâm, và mặt kia là hơi thở và cảm giác hiện ra trên thân. Bất cứ cảm xúc nào như là: Xúc động, căng thẳng, tức giận, hoặc phiền não xuất hiện trong tâm đều thể hiện bằng " hơi thở và cảm giác ngay lúc đó". Vì vậy bằng cách quan sát sự hô hấp hoặc cảm giác, chúng ta sẽ thực sự quan sát được sự phiền não hay tức giận lúc nó bắt đầu vừa khởi phát.

Bằng cách này, phương pháp tự quan sát cho chúng ta thấy thực tế ở hai trạng thái: Bên trong và bên ngoài. Trước đây chúng ta chỉ nhìn vào bên ngoài mà quên đi sự thật bên trong. Chúng ta luôn luôn đổ lỗi cho người khác và cố thay đổi sự thật bên ngoài, chúng ta không bao giờ hiểu rằng nguồn gốc của sự đau khổ nằm ngay ở trong ta, nằm ngay trong những phản ứng mù quáng trước những cảm giác khó chịu.

Bằng cách giữ được sự bình tâm với mọi cảm xúc trong người, ta tìm được giải pháp là tách rời những gì ta gặp ở bên ngoài. Tuy nhiên sự tách rời này không phải là tránh né hoặc thờ ơ với cuộc đời, mà trái lại ta trở nên cảm thông đối với những khổ đau của người khác. Tâm ta luôn được an lạc và hạnh phúc, đồng thời tạo nên an lạc và hạnh phúc cho người khác.[ LỜI CỦA ĐẠO SƯ GOENKA ]

QUAN ĐIỂM CỦA PHẬT GIÁO TRONG VIỆC CHUYỂN HOÁ CƠN GIẬN.

Những nguyên nhân khiến cho chúng ta nổi giận, hầu hết mọi người đều cho rằng do những tác nhân ở bên ngoài tác động vào và khiến cho ta nổi giận, như là: Do người khác xúc chạm, do gặp phải những sự kiện, những hoàn cảnh không thuận theo ý muốn v.v...

Nhưng nói theo phật giáo thì không ai làm cho ta nổi giận cả, mà là "CHÍNH TA LÀM CHO TA NỔI GIẬN". Dù cho người ta có làm gì đi chăng nữa, dù cho chúng ta có lâm vào hoàn cảnh nào đi nữa, chúng ta cũng không hề nổi giận nếu như chúng ta không còn hạt giống tức giận ở trong tâm mình [?] hoặc là hạt giống tức giận bị suy yếu. Hay nói rõ hơn, sự tức giận xuất phát từ trong tâm của chúng ta là do tác nhân bên trong của chúng ta chứ không phải là do tác nhân bên ngoài. Tức giận là một cách chúng ta tự vệ, tự bảo vệ cái ngã của mình. Chúng ta tức giận bởi vì cái ngã của chúng ta bị xâm phạm, bị tổn thương. Người nào sự chấp ngã càng nhiều thì càng dễ nổi giận. Chính cái hạt giống vô minh và chấp ngã ấy là nguyên nhân chủ yếu của sự tức giận, và tức giận là nhân tố phát sinh những tâm lý tiêu cực và không lành mạnh, chẳng hạn như tâm ghen ghét, ganh tỵ, đố kỵ, ác độc, thù hận v.v...

Giận là một hạt giống [chủng tử] vốn sẳn có trong tâm thức của ta qua bao đời, bao kiếp. Bên cạnh đó, tất cả chúng ta đều có những hạt giống khác nữa như là hạt giống của sự tham lam, luyến ái. Và cũng có hạt giống TỪ, BI, HỶ, XẢ... cùng với hạt giống hoà ái, nhã nhặn. Nếu người nào có hạt giống giận hờn quá mạnh thì người này rất dễ nổi giận, còn nếu như người nào có hạt giống từ bi, hoà ái lớn mạnh thì ít nổi giận hơn, và thường hoà nhã dễ thân thiện với mọi người. Những hạt giống ấy yếu hay mạnh cũng còn tuỳ thuộc vào khả năng tu tập của bản thân. Chúng ta thường xuyên nuôi dưỡng, chăm sóc hạt giống nào thì hạt giống ấy sẽ tăng trưởng, sẽ mạnh lên. Và ngược lại hạt giống nào không được chăm sóc thì sẽ dần dần yếu đi. Tức giận gây ra nhiều hậu quả tiêu cực như thế, cho nên sự kiểm soát và chuyển hoá cơn giận là một trong những vấn đề chính yếu trong quá trình tu tập để trở thành một con người tốt, để có được hạnh phúc cho bản thân, có ích cho gia đình và xã hội.

- Khi cơn giận nổi lên chúng ta không nên kìm nén, cũng không thể để cho cơn giận thể hiện một cách tự do, mà chúng ta phải nhận diện được nó, ôm lấy nó với tâm yêu thương của mình. Mỗi khi nổi giận, chúng ta phải ý thức rõ là sự tức giận đang bắt đầu nảy sinh[?], nhận diện nó một cách trung thực chứ không nên giả vờ như là chúng ta không có tức giận. Chúng ta nhận diện cơn giận của mình, thừa nhận sự hiện hữu của nó, đồng thời giữ cho tâm được an tĩnh bằng cách tập trung vào hơi thở, thở nhẹ và sâu. Sau đó trải lòng từ bi đến cơn giận của mình, dùng tình thương để ôm ấp cơn giận chứ không phải là kìm nén nó, và nhìn thật sâu vào bản chất của cơn giận, quán chiếu về những hậu quả khổ đau mà sự tức giận có thể gây ra cho mình và cho người. Khi chúng ta ôm cơn giận vào lòng với tâm thương yêu như thế, chúng ta cũng có thể trải lòng thương yêu đến người đã khiến cho ta nổi giận. Chúng ta có thể quán tưởng rằng chính người đó cũng đang đau khổ, đang có những vấn đề bất ổn trong lòng, tại vì họ không biết cách giải quyết nên mới có những hành xử không phù hợp với mình, vì thế họ đáng thương hơn là đáng giận [?]. Với cách thức này, cơn giận của chúng ta sẽ dần dần được chuyển hoá, năng lượng cơn giận sẽ không còn nửa, thay vào đó là năng lượng tỉnh thức và lòng thương yêu, thương yêu chính mình và thương yêu mọi người. Chúng ta cũng cần tập thêm hạnh từ bi, thương yêu bản thân mình và thương yêu mọi người cũng là một giải pháp tốt để điều phục và chuyển hoá cơn tức giận. Để nuôi lớn tâm từ bi của mình, trước hết chúng ta phải trải tâm từ bi đến những người thân yêu nhất của ta, luôn luôn thương yêu họ, đối xử ân cần, hoà nhả với họ và tìm cách đem lại hạnh phúc cho họ. Tránh những hành động, những lời nói hay việc làm có thể gây tổn thương đến họ, hoặc làm cho họ đau khổ.
Luôn nhìn vào điểm tốt, vào những phẩm chất tích cực, lành mạnh của người khác cũng là cách để chúng ta nuôi dưỡng tâm từ bi của mình đối với người khác. Bên cạnh đó, việc thường nghĩ đến những hậu quả tiêu cực, những khổ đau do sự tức giận gây ra cho mình và cho người khác, cũng là một biện pháp có thể chuyển hoá được hạt giống giận hờn ở trong ta. Như chúng ta đã biết, sự tức giận thường gây đau khổ cho chính mình, lẫn đối tượng của sự tức giận. Nếu đối tượng của sự tức giận là bản thân mình thì người ta thường có những hành động tự huỷ hoại, tự quyền rủa bản thân. Nếu đối tượng của sự tức giận là người khác, thì người ta thường có xu hướng muốn làm hại người đó, khiến cho người đó phải nếm mùi khổ đau, bất hạnh. Nếu như mỗi khi có sự tức giận nổi lên, chúng ta ôm cơn giận vào lòng với tâm thương yêu và nghĩ đến những hậu quả do sự nóng giận gây ra, thì chắc chắn cơn giận của chúng ta sẽ dần dần biến mất.

Nói tóm lại, mặc dù tức giận là một hạt giống tiềm tàng ở trong tâm thức của tất cả chúng ta, nhưng chúng ta hoàn toàn có thể điều phục và chuyển hoá nó thông qua những phương pháp tu tập như phép đếm hơi thở để duy trì chánh niệm, cũng có thể dùng danh hiệu Phật hoặc Bồ tát để duy trì chánh niệm...Mỗi người hãy lựa chọn cho mình một phương pháp thích hợp với căn cơ của mình để duy trì chánh niệm. Cầu mong mọi người đủ tỉnh giác để nhận diện và chuyển hoá cơn giận của mình [ LỜI CỦA THẦY THÍCH NHẤT HẠNH].

GIỚI THIỆU PHƯƠNG PHÁP TẬP LUYỆN ĐỂ PHÁT HIỆN CƠN GIẬN LÚC VỪA KHỞI PHÁT.
HỆ THẦN KINH THỰC VẬT

Hệ thần kinh thực vật là một phần của hệ thần kinh ngoại biên. Nó là phương tiện để cơ thể biểu lộ những trạng thái cảm xúc và sự nhận biết của chính mình. Nó gồm GIAO CẢM và ĐỐI GIAO CẢM. Khi giao cảm bị hoạt hoá trong việc đáp ứng thích hợp về những thay đổi môi trường chung quanh, nó tiết ra chất sinh hoá học để cơ thể thích ứng trước tình thế theo sự phản ứng tâm lý do cảm xúc tạo ra. Trong lúc đó đối giao cảm hoạt động liên tục để điều chỉnh nhiều cơ quan trong cơ thể, tạo ra sự điều hoà trạng thái sinh lý của nội tạng như tiêu hoá, bài tiết, tim mạch. Cả hai hoạt động liên tục để duy trì sự cân bằng bên trong cơ thể và làm cho chúng ta khoẻ mạnh. Nhưng nếu vì một lý do nào đó, tâm của chúng ta thường xuyên căng thẳng, sợ hãi, giận dữ, lo âu, xúc động v.v...thì sự cân bằng này không còn được bình thường nữa. Lúc bây giờ những chất sinh hoá học sẽ tiết ra làm cho cơ thể mất cân bằng, và bệnh bên trong nội tạng sẽ có cơ hội phát sinh. Bằng sự thực hành phương pháp thở đúng kỹ thuật, tác động vào đối giao cảm, ta sẽ điều chỉnh được những rối loạn chức năng bên trong cơ thể, nhằm giúp cho nó được cân bằng, thân tâm an lạc, hài hoà với nhau.

GIAO CẢM, ĐỐI GIAO CẢM VÀ CẢM XÚC
Hệ giao cảm và đối giao cảm luôn luôn hoạt động, mặc dù bất cứ lúc nào phần này có thể hoạt động trội hơn phần kia. Mỗi phần hoạt động cũng còn tuỳ thuộc vào thái độ tâm thần trong cuộc sống, những cảm xúc như là HỈ, NỘ ÁI, Ố, BI, DỤC, LẠC [thất tình], và thái độ yên lặng của nội tâm.

1/ Thí dụ: Những lo âu, sợ hãi, sân hận, buồn chán, thù hận, hoặc tập trung vào một chủ đề nào, đối tượng nào quá mức, quá căng...thì HỆ GIAO CẢM hoạt động.

2/ Thí dụ: Như thư giãn, thanh thản, bình thản, thư thái, an hoà, hoà thuận, chánh niệm tỉnh giác, tĩnh       lặng...thuộc hoạt động của HỆ ĐỐI GIAO CẢM.

Cả hai hệ giao cảm và đối giao cảm hoạt động đều ảnh hưởng đến cơ quan bên trong của cơ thể, nhưng cả hai hoạt động hoàn toàn trái ngược nhau. Như giao cảm làm tăng nhịp tim, trong khi đối giao cảm làm tim đập chậm lại.

VAI TRÒ CỦA HỆ ĐỐI GIAO CẢM.

- Hệ đối giao cảm hoạt động rất tốt trong tình trạng con người lúc đó không bị căng thẳng. Đôi khi nó còn được gọi là hệ thông "nghỉ ngơi và tiêu hoá". Chức năng hoạt động chính của nó là tiêu hoá, bài tiết phân và nước tiểu. [điều này giải thích lý do vì sao phải nghỉ ngơi sau bữa ăn là điều thích hợp nhất]. Hoạt động của nó có hiệu quả nhất là một người khi đã ăn xong cần phải nghỉ ngơi và xem báo. Vì thế nó được xếp vào hệ thống trầm lặng. Khi tâm ba thời [quá khứ, hiện tại, tương lai] không khởi lên, và chỉ có " tâm bây giờ và ở đây" thì nó có mặt.

- Đối giao cảm phụ trách trạng thái yên lặng và thư giãn của tâm. Nói theo ngôn ngữ THIỀN, nó ảnh hưởng tới trí năng, tỉnh ngộ, biết không lời, thầm nhận biết, trí tuệ không lời, chân tâm, tánh giác hay là "ông chủ". Đối với kinh nghiệm tâm linh, nó đóng vai trò chính. Bằng những phương pháp thiền định hay thiền tuệ, ta có khả năng làm cho tâm trở nên yên lặng trong trạng thái chỉ [samatha] hay tâm định vững chắc trong trạng thái định [samadhy]. Ngoài ra trên phương diện tôn giáo, bằng sự tụng kinh, gõ mõ, trì chú, cầu nguyện, lần hạt trai, niệm Phật từ một người đến nhiều người cùng tụng trong một lúc, hệ đối giao cảm cũng bị tác động. Kết quả của sự tác động này sẽ giúp cân bằng lại chức năng hệ thống thần kinh thực vật.                                        

CƠ CHẾ THỞ VÀ GIAO CẢM, ĐỐI GIAO CẢM.

- Thở vào [dương] làm hưng phấn hệ giao cảm.

- Thở ra [âm] làm hưng phấn hệ đối giao cảm.

- Nếu như thở vào, thở ra với tỷ lệ 1-1. Theo y học cổ truyền, thì đây là cách thở quân bình âm dương, còn được gọi là cân bằng giao cảm và đối giao cảm.

- Nếu như thở ra dài hơn thở vào với tỷ lệ 1-2. Với cách thở này sẽ làm hưng phấn hệ đối giao cảm và ức chế giao cảm.

LỢI ÍCH CỦA THỞ RA DÀI GẤP ĐÔI THỞ VÀO.

VỀ SINH LÝ: Tác động sâu vào hệ đối giao cảm, làm tiết ra Acetycholine [viết tắt là Ach] để làm dịu Norepinephrine do hệ giao cảm tiết ra và Epinephrine từ tuyến thượng thận tiết ra. Acetycholine có tác dụng làm hạ đường trong máu và chất béo trong máu. Càng nhiều Acetycholine thì huyết áp càng hạ, mở máu hạ, người không bị bệnh béo phì, tích trử đường ở trong gan. Ngoài ra nó còn làm cho chậm nhịp tim, giảm sức co bóp của tim. Áp xuất máu giảm, máu đưa nhiều vào não, dạ dày và ruột non, kích hoạt hệ tiêu hoá và bài tiết.
-Thở ra dài gấp đôi thở vào nếu kết hợp cùng với động tác CÚI, NGỬA... sẽ tống các khí độc ô nhiễm Carbon Dioxide ra khỏi đáy phổi, hóc phổi. Nơi mà khí dơ thường hay đóng lại, giúp cho buồng phổi trống trải để tiếp đón luồng không khí trong lành theo hơi thở vào. Đặc biệt đối với những người bị bệnh tiểu đường, bằng phương pháp thở kết hợp với động tác cúi, ngửa...sẽ TÁC ĐỘNG RẤT SÂU VÀO TUYẾN TUỴ, giúp tăng tiết INSULIN, có thể thay thế thuốc chích INSULIN từ ngoài vào cơ thể. Đối với những người bị bệnh suyễn, bệnh phổi tắt nghẻn mản tính...cũng cần phải tập thì thở ra dài gấp đôi thở vào.

VỀ TÂM LÝ: Thở ra dài gấp đôi thở vào, kết hợp cùng với tư thế hoa sen [kiết già] hoặc bán già. Hoặc tư thế nằm thư giãn [shavasana]. Với cách thở này sẽ tác động vào tuyến Tùng, khiến cho tuyến này sản sinh nội tiết tố MELATONIN làm êm dịu hệ thần kinh trung ương, dần dần tiến tới kiểm soát cảm xúc.