Tuesday, December 7, 2010

KHÁI NIỆM VỀ TẨU HỎA, NHẬP MA

NHỮNG AI ĐÃ TỪNG TẬP LUYỆN MỘT BỘ MÔN NÀO ĐÓ, HAY LÀ MỘT PHƯƠNG PHÁP NÀO ĐÓ ĐỀU CŨNG MỘT VÀI LẦN NGHE ĐẾN TỪ "TẨU HỎA, NHẬP MA". TA HÃY THỬ TÌM HIỂU VỀ TẨU HỎA, NHẬP MA.

Câu hỏi 1: Tẩu hỏa, nhập ma là gì?
Đáp: Tẩu hỏa nhập ma là một dạng tai biến trong quá trình tập luyện một phương pháp nào đó, thí dụ như là tập yoga, thiền, khí công, nhân điện, cảm xạ, năng lượng v.v...

Câu hỏi 2:
Hãy phân biệt hiện tượng tẩu hỏa, nhập ma theo hiểu biết thông thường...
Đáp: Tẩu hỏa là một bệnh lý trong quá trình tập luyện không đúng phương pháp [học qua sách], hoặc là học phải người thầy chưa đủ kinh nghiệm hướng dẫn. Hiện tượng bệnh lý của tẩu hỏa thường thấy như là tức ngực, khó thở, nhức đầu, nóng nảy v.v...hoặc cảm thấy lạnh ở trong người, thường đỗ mồ hôi, ớn lạnh xương sống. Nếu không chữa trị sớm sẽ dẫn đến điên cuồng. Nhập ma là hiện tượng tâm thần hoang tưởng, cứ nghỉ là mình sẽ làm được việc đó, mà thực tế là không bao giờ làm được, hoặc bị một năng lượng lạ thâm nhập nên không còn là mình nữa và dần dần sẽ trở thành người điên.

Câu hỏi 3:
Để tránh tình trạng tẩu hỏa, nhập ma trong tập luyện, cần phải làm gì?
Đáp: Cần phải tìm được các bậc thầy nhiều kinh nghiệm và chứng đắc để hướng dẫn [nếu đủ duyên] kế đến là tham khảo, nghiên cứu thêm sách vỡ và cuối cùng hãy thường xuyên liên lạc với các bạn đồng môn.

Câu hỏi 4: Nếu phát hiện tẩu hỏa, nhập ma...Ta phải làm gì?
Đáp: Phải ngưng ngay việc tập luyện và tìm đến người thầy dạy của mình để trị bệnh [nếu có thầy]. Người thầy phải có trách nhiệm những gì mình hướng dẫn. Nếu học qua sách vỡ hãy đến các bác sĩ đông y đễ châm cứu, bấm huyệt...

Câu hỏi 5:
Lời khuyên dành cho người mới bắt đầu tập luyện một phương pháp nào đó, thí dụ như yoga, khí công, thiền, cảm xạ, năng lượng, nhân điện v.v...
Đáp: Hãy tự hỏi bộ môn đó có thực sự giúp ích cho ta trong cuộc sống hiện tại về mặt nào, chẳng hạn SỨC KHỎE, CẢM XÚC, TRÍ TUỆ, GIÁC NGỘ, GIẢI THOÁT...

Người thầy mà mình chọn như thế nào? Đã có nhiều kinh nghiệm chưa? Đã chứng đắc điều gì? Đã đào tạo được những người tài giỏi nào chưa? Có được như vậy ta chọn thầy không lầm để theo tới cùng một phương pháp mà mình đã chọn, và khi đã tin tưởng một vị thầy nào đó rồi thì đừng bao giờ thay đổi.

Câu hỏi 6:
Đâu là tiêu chuẩn để đánh giá sự tiến bộ trong thiền tập?
Đáp: Thiền là một bộ môn chuyên về luyện TÂM. Thiền là một chuyến đi dài, là hành trình cả một đời người. Người tập thiền phải miệt mài khổ luyện. Tập thiền liên lục trong 3 tháng chỉ là "MỚI TẠO CHO MỘT THÓI QUEN MỚI". Ba năm chỉ mới ở ngoài da. Tuy nhiên nếu gặp đúng thầy, hướng dẫn đúng phương pháp, sau 3 tháng tập liên tục sẽ có một số kết quả nhất định như là: Mỗi khi có chuyện gì làm NGHỊCH Ý với mình, thì mình thường hay bực bội, cáu gắt, giận dữ, buồn rầu, lo âu, sợ hãi v.v...[cảm xúc]. Sau một thời gian tập thiền, những cảm xúc tiêu cực đó có giảm dần không? Hoặc là không còn những phản ứng mù quáng như trứơc kia nữa.

Như vậy là sự tập thiền đã có kết quả. Rồi đến những sự kiện THUẬN Ý như là được khen thưởng, được đề cao, hoặc nổi tiếng. Lúc đó cảm giác ta như thế nào? Có thích thú, có dễ chịu, có vui mừng hay không? Nếu ta còn cảm giác này thì ta chưa có sự tiến bộ. "TRƯỚC NHỮNG SỰ KIỆN TRÊN MÀ NỘI TÂM TA VẪN BÌNH AN, KHÔNG LOẠN ĐỘNG". Như vậy là ta có thể tự đánh giá được sự tiến bộ trong thiền rồi.

Sunday, December 5, 2010

THỞ BỤNG 4 THỜI YOGA [THỞ CƠ HOÀNH]

Hít thở là phản xạ tự nhiên vô điều kiện của con người, nhưng không phải ai cũng biết cách thở để phát huy tối đa khả năng của cơ quan hô hấp. Đa số chúng ta thở sai, ta thường thở nông và cạn, nên không làm đầy hai lá phổi. Bác sĩ nói rằng phần nhiều chúng ta chỉ dùng 1/3 hay một nửa thể tích của phổi, một phần lớn phổi của ta chưa được sử dụng và chứa đầy không khí cũ tồn đọng, đó là nguyên nhân phát sinh cảm lạnh và các bệnh hô hấp.

Quá trình trao đổi khí cần một thời gian nhất định, các nhà sinh lý học cho rằng một hơi thở tốt nên kéo dài khoảng 20 giây cho một lần hít vào, thở ra. Nếu ta thở nhanh quá hoặc cạn quá thì thời gian trao đổi khí quá ngắn, không tận dụng được lượng dưỡng khí ở trong máu đưa vào tế bào, cũng như không thải được thán khí ra khỏi cơ thể.

Trong tất cả các họat động nội tạng, chỉ có thở là vừa tự phát vừa có thể tùy ý. Động tác thở bụng được thực hiện chủ yếu bởi cơ hoành, một cơ chắn ngang giữa ngực và bụng. Mặt trên tiếp giáp tim và phổi, mặt dưới với gan và khoang bụng. Khi chúng ta hô hấp,cơ này cử động lên xuống, đồng thời dồn ép hoặc kéo giãn các cơ quan nội tạng.

Theo cách thông thường, người ta thường hay thở cạn, nhanh và không có sử dụng cơ này. Chỉ có cách thở bụng mới tận dụng được nó, theo cách thở nầy khi ta hít vào thật chậm, sâu thì không khí đi vào phần dưới đáy phổi, cơ hoành đẩy xuống làm cho thận, gan, dạ dày bị ép liên tục. Khi thở ra nó lại co lên kéo giãn các tạng phủ. Như vậy toàn bộ các cơ quan trong người được mátxa liên tục. Nói theo lời của B/S Đỗ hồng Ngọc thì sự hô hấp sâu sẽ tác động trên từng tế bào của cơ thể chứ không phải chỉ là ở hai lá phổi. Phổi thực chất là một cái bơm, bơm khí vào ra "phình xẹp" vậy thôi. Để cho cái máy bơm đó làm việc tốt thì cần phải biết một chút về cơ chế của nó. Lồng ngực là cái xy-lanh [cylindre], còn pít-tông [piston] chính là cơ hoành, một cơ trơn nằm vắt ngang giữa bụng và ngực. Khi cơ hoành thụt lên thụt xuống [như cái bể lò rèn] thì không khí được hút vào đẩy ra ở phổi. Cơ hoành hoạt động càng mạnh thì trái tim càng khỏe, có người ví von rằng cơ hoành là "TRÁI TIM THỨ HAI", là một thành phần tưởng không giữ vai trò nào nổi bật trong cơ thể, ấy vậy mà lại có thể trở thành đòn bẩy cho trái tim khỏe mạnh. Và nói theo lời của các đạo sư Yoga " KHÔNG PHẢI SỰ HÔ HẤP SINH RA VẬN ĐỘNG CỦA PHỔI, MÀ NGƯỢC LẠI CHÍNH SỰ VẬN ĐỘNG CỦA PHỔI VÀ CƠ HOÀNH MỚI TẠO RA SỰ HÔ HẤP". Điều này ta có thể chứng minh bằng cách là "dùng hai ngón tay bóp vào hai lỗ mũi một người đang ngủ" ta sẽ thấy phần ngực và cơ hoành chuyển động rất mạnh.

Bác sĩ Dean Ornish, tác giả cuốn sách nổi tiếng "Program for Reversing Heart Disease" (Chương trình phục hồi bệnh tim) hướng dẫn cách thở bụng rất đơn giản, dễ làm. Đặt một bàn tay lên bụng, khi thở vào thở ra, ta thấy bàn tay mình nhích lên nhích xuống là được.

Ngày nay, ở phương Tây, rất nhiều trung tâm dạy Thiền, Yoga, Khí công... để chữa bệnh cũng chủ yếu là dạy phương pháp thở bụng. Các phương pháp trị liệu nổi tiếng của các bác sĩ như Dean Ornish, Deepak Chopra v.v... căn bản cũng không ngoài cách... thở bụng. Phương pháp thở bụng không chỉ giúp để chữa một số bệnh tim mạch, hô hấp, tiêu hóa... mà còn làm cho tâm được an lạc, giảm stress trong cuộc sống hiện tại.

PHƯƠNG PHÁP TẬP THỞ BỤNG 4 THỜI YOGA: THỞ VÀO, NGƯNG THỞ, THỞ RA, NGƯNG THỞ. BẮT ĐẦU BẰNG THỞ RA. Việc thở bụng phải tuân thủ 4 nguyên tắc sau: CHẬM , ÊM, DÀI, SÂU. Cách thở nầy không những tăng cường nội lực mà còn giúp điều hòa các rối lọan tạng phủ.

THỜI 1: THỞ VÀO từ từ phình bụng ra, cơ hoành hạ xuống, có tác dụng đẩy các tạng phủ xuống thấp, làm áp lực ổ bụng tăng lên, máu ở bụng được đẩy về tim dễ dàng. Dạ dày, gan thận được mátxa liên tục. Khi thở vào SÂU, sẽ giúp cho oxy đến đầy đủ tận cùng toàn bộ tế bào trong cơ thể, do đó sẽ có sự chuyển hóa hoàn toàn nhất, tránh được khả năng đào thải những chất có gốc tự do gây bệnh và các chất oxy hóa từ tế bào tự hủy vì thiếu oxy, đó là mầm mống của bệnh tật. Thở vào SÂU, sẽ làm cho lượng bọt khí NITRIC OXIDE li ti xuất hiện nhiều trong máu, chất nầy tác động lên đầu các nơron thần kinh, làm tăng trao đổi điện hóa giữa các dây thần kinh, tăng chất DOPAMINE và ENDORPHIN trong máu.

THỜI 2: NGƯNG THỞ có tác dụng giữ lượng không khí trong phế nang một thời gian để tăng sự khuếch tán oxy vào máu, máu sẽ tràn đầy các tế bào và các mô, làm giãn nở các mạch máu và bắp thịt, giúp tăng cường hệ miễn dịch. THỞ VÀO, NGƯNG THỞ [thời dương] thường áp dụng cho những người trì trệ, kém năng động, hay buồn rầu, chán nản...

THỜI 3: THỞ RA bụng từ từ xẹp xuống, đẩy cơ hòanh lên cao hơn, các tạng phủ dồn lên,
các khoang liên sườn thu hẹp lại, thể tích lồng ngực giảm tối đa nhằm tống khí độc ô nhiễm CARBON DIOXIDE ra khỏi đáy phổi. Giúp cho tim và phổi họat động tốt hơn. Thở ra nếu có cố gắng thêm một chút, sẽ làm hưng phấn đối giao cảm, giúp tăng tiết INSULIN rất có lợi để chữa bệnh tiểu đường và có thể thay thế thuốc chích INSULIN từ ngoài vào cơ thể.

THỜI 4: NGƯNG THỞ tạo ra sự thay đổi ngược lại phản xạ sinh lý bình thường. Ngưng thở còn làm cho lượng CO2 trong máu tăng lên, có tác dụng kích thích trung tâm hô hấp ở hành tủy, điều khiển hít vào sâu hơn. Khi thở ra, ngưng thở kết hợp với nhíu hậu môn sẽ giúp cho lưu thông máu ở vùng tầng sinh môn được dễ dàng, vì vậy sẽ phòng và tránh được bệnh trĩ rất hiệu quả, hổ trợ cho việc hấp thu năng lượng âm và làm dễ dàng cho việc nâng khí nhằm bổ trợ cho thận thủy khí sung mãn. THỞ RA, NGƯNG THỞ [thời âm] thường áp dụng cho những người luôn nóng nảy, căng thẳng hoặc quá hưng phấn.

ÍCH LỢI THỞ 4 THỜI
1/ Cung cấp thêm nhiều oxy cho các tế bào, và tăng cường tuần hoàn não.
2/ Tăng cường hệ miễn dịch.
3/ Xoa bóp nội tạng.
4/ Nâng cao hiệu quả trong quá trình hô hấp.
5/ Tác động đến hệ thống tuần hoàn máu và bạch huyết, khiến những hệ thống nầy tạo ra những kháng thể để tiêu diệt vi trùng, vi khuẩn và những sinh vật khác trong cơ thể. Giúp cho ta tiêu trừ được một số bệnh kinh niên hay nhất thời.

PHƯƠNG PHÁP THỞ

TƯ THẾ CHUẨN BỊ: Nằm ngửa, hai chân thẳng, thả lỏng tự nhiên, tay trái xuôi theo thân, lòng bàn tay mở ngữa. Bàn tay phải đặt ở vùng bụng dưới. Ngón giữa tay phải đặt ở luân xa 3 [dưới rốn 3 phân]. Miệng khép nhẹ, lưỡi để tự nhiên. THỞ VÀO, THỞ RA BẰNG MŨI.

TRƯỚC KHI VÀO BÀI TẬP THỞ, HÃY TẬP BÀI ỔN ĐỊNH THÂN, TÂM.

NIỆM THẦM : Tôi đang theo dõi hơi thở...Tôi đang theo dõi hơi thở... Niệm liên tục.

TẬP TRUNG : Chú tâm vào vùng bụng dưới. Thời gian từ 3 đến 5 phút.
Bắt đầu bài tập thở bằng thở ra.

THỞ 2 THỜI : Thở vào , thở ra đếm 1...Thở vào, thở ra đếm 2...Thở 10 lần.

THỞ 3 THỜI : Thở vào, ngưng thở, thở ra đếm 1...Thở vào, ngưng thở, thở ra đếm 2...Thở 10 lần.

THỞ 4 THỜI : Thở vào, ngưng thở, thở ra, ngưng thở đếm 1...Thở vào, ngưng thở, thở ra, ngưng thở đếm 2...Thở 10 lần.

Kết thúc bài tập thở là bài tập THƯ GIÃN từ 3 đến 5 phút.

CHÚ Ý : KHÔNG NÊN THỞ 4 THỜI NGAY TỪ ĐẦU, VÌ THỞ NHƯ THẾ RẤT MỆT MÀ LẠI KHÔNG CÓ HIỆU QUẢ.

Tuesday, November 30, 2010

TƯ TƯỞNG THIỀN TRONG LỊCH SỬ PHẬT GIÁO

ẤN ĐỘ là một cổ quốc của nền văn hóa thế giới, dân tộc nầy có rất nhiều tư tưởng thần bí, đặc biệt với ý nghĩa tôn giáo trong các tư tưởng thần bí nầy. Nếu mở trang sử tôn giáo Ấn Độ ra xem, chúng ta sẽ thấy toàn bộ hệ thống tôn giáo của nhân loại hầu như có ở trong đó. Hoặc thành kính sùng bái thiên nhiên, hoặc mang tư tưởng sâu sắc, hoặc khổ hạnh nghiêm khắc để tìm cầu giải thoát, hoặc ham thích khoái lạc ở cõi trời v.v... Tất cả đều thuộc tư tưởng mang tính tôn giáo. Trầm tư mặc tưởng là đặc tính của dân tộc nhã lợi an, người ta lúc nào cũng ưa thích trầm tư, tĩnh lự để tìm cầu niềm vui tối thượng. Trong quá trình phát triển, dân tộc nầy đã tiềm tàng một suối nguồn vô tận tư tưởng THIỀN, và đức PHẬT THÍCH CA là một phần của dân tộc nhã lợi an, đương nhiên là ngài cũng hấp thụ được tính chất đặc biệt của dân tộc nầy. Ấn Độ là một đất nước không có thiền tông, vì Ấn Độ vốn không có một tông phái thiền mang tính độc lập, nên không thể thiết lập được một danh từ nào trong lịch sử thiền tông, mà chỉ có thể nói về nguồn gốc của thiền [tức DHYANA] một cách chung chung trong lịch sử PHẬT GIÁO ẤN ĐỘ, và Ấn Độ đã lấy từ DHYANA làm căn nguyên tư tưởng nầy để phát triển. DHYANA có nghĩa là "dòng chảy của tâm trí vào một đối tượng", hay còn gọi là "chế ngự tâm tại một chỗ".

Trong tư tưởng triết học của người Ấn Độ cổ đại,theo thời gian ngày càng phát triển,nhiều học phái ra đời và phát huy mạnh mẽ. Trong đó nổi tiếng nhất là 6 phái chính.

1/ PHÁI THANH LUẬN, khai tổ là tế nhã lợi mật, phái NGHI THỨC.
2/ PHÁI VI ĐÀ LUẬN, khai tổ là ha đà lạp nhã na, phái TINH THẦN.
3/ PHÁI NHÂN MINH LUẬN, khai tổ là túc mục tự cù đàm, phái LÝ LUẬN.
4/ PHÁI THẮNG LUẬN, khai tổ là kiển noa đà, phái THẬT TƯỚNG.
5/ PHÁI SỐ LUẬN, khai tổ là ca tỳ la, phái DUYÊN KHỞI.
6/ PHÁI DU GIÀ LUẬN,[tức YOGA] khai tổ là hatha hà lợi, phái THỰC HÀNH.
Khảo cứu về niên đại ra đời của 6 phái đại triết học nầy thì mỗi phái đều có mỗi thuyết khác nhau, nhưng tư tưởng của chúng đều bắt nguồn từ triết học ưu ba ni sao thổ [UPANISHADS] vì thời đại triết học upanishads rất xem trọng pháp THIỀN QUÁN, nhưng thời đại tư tưởng trung kỳ của triết học upanishads thì thiền na lại bao quát luôn phái DU GIÀ. DU GIÀ có nghĩa là tương ứng, khế hợp, cũng có nghĩa là THIỀN ĐỊNH. Trong 6 phái đại triết học nầy, thì phái DU GIÀ [tứcYOGA] sau nầy được đức PHẬT triển khai. Thiền của đức PHẬT thông qua sự an tọa, tư duy mà ngài hoát nhiên đại ngộ. Nói về căn nguyên của Phật giáo thì đức Phật chứng được tam muội [SAMADHI] cũng nhờ vào thiền na [tức DHYANA].

Monday, November 29, 2010

VẬN DỤNG YOGA TRONG ĐỜI SỐNG TÌNH DỤC

Yoga có nguồn gốc ở Ấn Độ, có lịch sử lâu đời hơn 5000 năm, là một trong 6 trường phái triết lý nỗi tiếng của Ấn Độ. Khởi nguồn của Yoga có 5 loại.
1/ BHAKTI YOGA: Là con đường sùng bái, sùng tín, hay tín ngưỡng.
2/ KARMA YOGA: Là con đường hành động.
3/ JNANA YOGA: Là con đường minh triết.
4/ RAJA YOGA: Là con đường giác ngộ, giải thoát.
5/ HATHA YOGA: Là con đường rèn luyện thể dục để tăng cường sinh lực.

HATHA YOGA phát triển sau cùng, hiện nay được nhiều người trên thế giới tập luyện và xem nó như là môn thề dục để rèn luyện sức khỏe. Theo kết quả tập luyện và nghiên cứu về HATHA YOGA, các nhà khoa học đã chứng minh rằng ngoài tác dụng nhất định trong việc giữ gìn vóc dáng, làm chậm dần sự lão hóa, giảm sự căng thẳng... Nó còn có tác dụng tạo ra sự khoái cảm và thăng hoa trong đời sống tình dục.

Sau nhiều năm tìm tòi, nghiên cứu và tập luyện. Hôm nay tôi được chia sẻ cùng quý vị một phương pháp MỚI NHẤT, nhằm cải thiện lại khả năng tình dục.

BÀI TẬP NẦY GỒM CÓ 8 ĐỘNG TÁC VÀ THỞ 3 THỜI DƯƠNG [ thở 3 thời dương là hít vào, ngưng thở, thở ra]

CHỐNG CHỈ ĐỊNH: CAO HUYẾT ÁP, TIM MẠCH.

Hơi thở [thần kinh thực vật]: Hít vào, ngưng thở... sẽ làm tăng sự khuyếch tán oxy vào máu, làm giãn nở các mạch máu,máu sẽ tràn đầy các tế bào và các mô, và lượng bọt khí NITRIC OXIDE li ti xuất hiện nhiều trong máu, chất nầy tác động lên đầu các nơron thần kinh, làm tăng trao đổi điện hóa giữa các dây thần kinh. NITRIC OXIDE là một hóa chất quan trọng có tác dụng rất tốt trong hoạt động làm cương dương[nam và nữ].

Động tác[thần kinh vận động]: Những động tác nầy sẽ làm tăng cường và mở rộng phạm vi hoạt động của cơ xương chậu và cơ mu cụt. Loại cơ có hình dáng cái võng nầy đặc biệt có cả nam lẫn nữ và có liên hệ mật thiết đến khả năng tạo ra sự khoái cảm.

HƯỚNG DẪN PHƯƠNG PHÁP TẬP LUYỆN

Bắt đầu vào bài tập.

Tư thế chuẩn bị: Nằm ngửa, hai chân thẳng tự nhiên. Hai cánh tay dang ngang, lòng bàn tay mở ngửa. Đầu, cổ và lưng thẳng.

Động tác 1/ Dao động trái, phải...

Thực hành:

Hít vô bụng nở- ngưng thở.

Chuyển động: Nâng 2 chân lên [ gót chân cách mặt đất 2 tấc] giữ yên một chút [để quá trình trao đổi chất được hiệu quả hơn]. Sau đó dao động qua trái, phải.

Thở ra: Từ từ hạ chân xuống về tư thế chuẩn bị, nằm nghĩ và thư giãn. Trong lúc thư giãn, hãy chú ý vào luân xa 2 [bộ phận sinh dục]

Động tác 2/ Dao động lên, xuống.
Động tác 3/ Dao động chéo chân.
Động tác 4/ Dao động co, duỗi.
Động tác 5/ Dao động 2 vòng tròn trong.
Động tác 6/ Dao động 2 vòng tròn ngoài.
Động tác 7/ Dao động ngược kim đồng hồ.
Động tác 8/ Dao động xuôi kim đồng hồ.

NHỮNG ĐIỀU CẦN GHI NHỚ TRONG LÚC TẬP LUYỆN.

1/ Tập khi bụng đói [không quá đói].
2/ Không quá cố gắng hít đầy bụng và ngưng thở quá lâu.
3/ Không nên tiếp tục tập khi cơ thể còn đang mệt.
4/ Mỗi động tác thực hiện từ 2 đến 5 lần.
5/ Dao động càng chậm càng có hiệu quả.
6/ Trong lúc tập, hãy quan sát và theo dõi mọi sự chuyển động của thân[ thân tâm hợp nhất]
7/ Trong lúc thư giãn, hãy chú ý vào luân xa 2 [sinh dục], Theo đông y thì Ý ĐÂU KHÍ ĐÓ, KHÍ ĐÂU HUYẾT ĐÓ.

NHỮNG THỨC ĂN CÓ LỢI VÀ LÀM TĂNG CƯỜNG SỰ HAM MUỐN TÌNH DỤC
Con tôm,con hàu, dâu tây, cà chua, chocolatte, rượu vang đỏ, chuối chín, cà rốt, gừng...

GHI CHÚ : Bài này được đăng theo yêu cầu của các hội viên. Bài tập nầy đã có dĩa ghi lại hình ảnh đầy đủ các phương pháp tập luyện. Đây là buổi báo cáo đề tài "VẬN DỤNG YOGA TRONG ĐỜI SỐNG TÌNH DỤC" của ông MAI VĂN NHƯ tại số 56/4 Nguyễn Thông Quận 3, TP.HCM.

Sunday, November 28, 2010

NHỮNG CÂU HỎI DÀNH CHO CÁC BẬC THẦY YOGA

1/ Đâu là tiêu chuẩn nào đề đánh giá thầy dạy Yoga giỏi?
2/ Đâu là tiêu chuẩn, chuẩn mực để kiểm định và đánh giá được sự thành công khi tập Yoga?
3/ Đỉnh cao của Yoga là gì? Và làm cách nào để đạt được điều đó?

Như chúng ta đã biết, nếu muốn xây dựng một căn nhà hoàn chỉnh, để bắt đầu, nền móng phải vững chắc, rồi kế tiếp là cột, kèo. Cuối cùng là lợp mái nhà. Như vậy là căn nhà đã hoàn chỉnh.

CÂU HỎI ĐƯỢC ĐẶT RA LÀ:
-Ta phải bắt đầu bằng động tác nào trước tiên cho hợp lý, và tại sao phải tập động tác đó trước [đây là phần xây nền móng].
-Phần kế tiếp ta phải tập động tác nào, và tại sao phải tập động tác đó [xây dựng phần cột, kèo].
-Phần kết thúc phải tập động tác nào, và tại sao phải tập động tác đó [lợp mái nhà].